Saturday, July 14, 2018

HỌP MẶT KHÓA 1/71 TỰ LẬP - 47 NĂM ALPHA 10 THÁNG 7 NĂM 1971 - 10 THÁNG 7 NĂM 2018

  • NGỒI : PHẠM NGỌC TIẾN - NGUYỄN BÁ THỌ
  • ĐỨNG : NGUYỄN VĂN THÔI - PHAN KIM NHỰT - NGUYỄN NGỌC MINH - VÕ ĐĂNG NAM  - HỒ NGỌC TRIẾT - HÀ HỮU PHƯỚC - NGUYỄN NHỰT QUANG - NGUYỄN THỚI TÍN
  • THI BỮU - NGUYỄN BÁ THỌ - NGUYỄN VĂN THÔI - HỒ NGỌC TRIẾT - NGUYỄN NGỌC MINH - NGUYỄN THỚI TÍN - PHẠM NGỌC TIẾN


  • NGUYỄN THỚI TÍN - NGUYỄN NHỰT QUANG - HÀ HỮU PHƯỚC - TRƯƠNG CHƠN THÀNH - NGUYỄN VĂN THÔI - NGUYỄN BÁ THỌ












Saturday, July 7, 2018

TÔI TỪNG GHÉT 'BỌN PHẢN ĐỘNG BA LAN '

Người dân Ba Lan ủng hộ chính quyền dân chủ của Tổng thống Lech Wałęsa
Tôi đặt chân sang Ba Lan cuối năm 1988, đúng lúc nền kinh tế, chính trị, xã hội đất nước này như bên thùng thuốc nổ chỉ chực chờ mồi lửa là tan tành.
Lúc đó đường phố thủ đô Warsaw hoang tàn, xám xịt. Các cửa hàng vắng teo, trống rỗng. Trên vỉa hè đôi chỗ có những người trung tuổi trải tấm nilon bày bán lèo tèo ít sách cũ, quần áo cũ, đồ cũ. Có cụ bà vai khoác vài nhánh tỏi, cụ ông tay bế con chó con... chôn chân giữa trời tuyết lạnh, đứng bán.
Trên hàng rào nhiều nơi, băng rôn khẩu hiệu chống chính quyền của Công đoàn Đoàn Kết treo công khai. Thậm chí trên các cột điện, các bức tường dán áp phích troll truy nã Đại tướng Wojciech Jaruzelski, Tổng bí thư Đảng Công nhân Thống nhất (Cộng sản), Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Ba Lan với giá... 1 triệu USD.

Đôi khi diễn ra những cuộc biểu tình ôn hòa có cảnh sát đi theo bảo vệ để chống bạo động, đập phá.
Tháng đầu tiên nhận lương và phiếu mua thịt, cá, đường... gương mặt cả đoàn nghiên cứu sinh chúng tôi ngao ngán, chán chường.
Sáng sớm hàng ngày, trên đường đi học nhìn những ông già bà già về hưu xếp hàng dài trước các cửa hàng thực phẩm, chúng tôi thất vọng tràn trề. Chủ nghĩa xã hội phát triển, thiên đường của những người lao động mà nhếch nhác nghèo đói như thế này ư?
Có thời gian hơn nửa năm trời, tôi không có nổi một cọng mì, một hột cơm để nhét vào mồm, toàn phải ăn bánh mì và khoai tây. Đủ trứng, đủ sữa, thịt cá thì kha khá nhưng thiếu rau nên miệng tôi bị nhiệt đau rát.
Ấy vậy mà tình yêu chủ nghĩa cộng sản trong lòng tôi lúc đó thấm đẫm hơn các chiến sĩ Trung đoàn AK47 của ta bây giờ nhiều. Chẳng có gì phải giấu, lúc bấy giờ tôi là đảng viên trẻ tràn đầy nhiệt huyết, quyết hi sinh phấn đấu cho lí tưởng cộng sản "cao đẹp".
Cả xã hội Ba Lan lúc đó bị phân hóa sâu sắc, bên ủng hộ chế độ Cộng sản, bên ủng hộ Công đoàn Đoàn Kết đối lập. Sự chia rẽ này len lỏi vào từng cơ quan, nhà máy, trường học, thậm chí từng gia đình.
Đoàn nghiên cứu sinh Ba Lan năm đó có 15 thành viên thì 10 người là đảng viên. Không hề lên gân chút nào, dù cuộc sống thiếu thốn, với tâm trạng thất vọng, chán chường nhưng tất cả chúng tôi vẫn một lòng bảo vệ chính quyền của Đảng "anh em", chống lại bọn "phản động" Công đoàn Đoàn Kết.
Với món nợ 40 tỷ USD không thể trả nổi, nền kinh tế Ba Lan rệu rã bên bờ vực phá sản, Đảng cầm quyền buộc phải ngồi vào "Hội nghị bàn tròn", đàm đàm phán với lực lượng đối lập mà nòng cốt là Công đoàn Đoàn Kết.
Bức tượng cuối cùng của các nhà lãnh đạo Cộng sản cũ ở Ba Lan bị giật đổ khi chính quyền mới lên nắm quyền 9/1989
Một thỏa thuận giữa các bên được đưa ra trên bàn hội nghị đã làm thay đổi lịch sử Ba Lan, đó là tổ chức cuộc tổng tuyển cử dân chủ để bầu Quốc hội mới với sự tham gia của tất cả các lực lượng chính trị.
Với sự ấu trĩ, với tình cảm thủy chung, tuy bụng trống rỗng nhưng tôi vẫn một lòng chống "phản động" Công đoàn Đoàn Kết, để bày tỏ sự ủng hộ đảng cầm quyền "anh em". Không chỉ riêng tôi, các đồng chí của tôi trong chi bộ đảng nghiên cứu sinh cũng một lòng như vậy.
Khi kết quả bầu cử Quốc hội được công bố với thắng lợi tuyệt đối của phe dân chủ ở cả 100 ghế Thượng nghị viện và 40% ghế bầu lại của Hạ nghị viện. Công đoàn Đoàn Kết được chỉ định đứng ra thành lập chính phủ mới, chế độ XHCN Ba Lan bị xóa sổ, mở đầu cho sự sụp đổ liên hoàn của hệ thống XHCN từ Đông Âu đến Liên Xô.
Tôi và các đồng chí trong chi bộ bàng hoàng, hoang mang tột độ. Một câu hỏi lởn vởn ám ảnh mãi trong đầu tôi là: Tại sao nhân dân Ba Lan lại một lòng ủng hộ thế lực "phản động" bằng chính lá phiếu bầu cử tự do của mình? Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan tự giải tán ngay sau đó để chuyển thành Đảng Dân chủ cánh tả.
Chưa hết, tôi vẫn còn đặt hi vọng vào cuộc bầu cử Tổng thống sau đó một năm. Nhưng rất đáng thất vọng, kể cả tổng thống Jaruzelski (Tổng bí thư Đảng CNTN Ba Lan cũ) do Quốc hội chỉ định và tất cả các lãnh tụ cánh tả không dám ra ứng cử trong cuộc bầu Tổng thống năm 1990, để lãnh tụ Công đoàn Đoàn Kết Lech Wałęsa thắng cử trước Stan Tyminski Ba Lan kiều triệu phú từ Peru. Thắng lợi tuyệt đối thuộc về phe dân chủ, "phản động".
Chế độ XHCN Ba Lan bị xóa sổ một cách dân chủ, công bằng và minh bạch nhưng từng đó vẫn chưa khiến tôi chịu "mở mắt". Với tình cảm quá sâu nặng của cả gia đình cách mạng nòi, tôi vẫn luyến tiếc thể chế Cộng sản Ba Lan. Chỉ sau cuộc đảo chính Gorbachov tại Liên Xô ngày 19/8/1991 do phe Cộng sản bảo thủ tiến hành, tôi mới thực sự thay đổi quan điểm, tư tưởng.
Sau sự sụp đổ của chế độ Cộng sản, cuộc sống mới tại Ba Lan thay đổi tích cực từng ngày. Những chiếc lá úa tàn tạ cuối đông lìa cành, mầm lộc đầu xuân bừng dậy đầy sức sống thành thảm lá xanh mướt mát.
Cũng chính các cán bộ viên chức, các sĩ quan quân đội, cảnh sát của chế độ Cộng sản Ba Lan cũ đã và đang chung tay tạo dựng nên thể chế mới, xây dựng nên cuộc đời mới tươi đẹp.
Cũng chính lãnh tụ cộng sản từng tuyên bố giải tán đảng của mình, sau khi trở thành tổng thống Ba Lan, năm 1997 đã kí Hiến pháp mới, đặt Chủ nghĩa Phát xít và Chủ nghĩa Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật.

Thủ đô Warsaw của Ba Lan ngày nay
Ba Lan ngày nay là 1 trong số 30 thành viên của Tổ chức các nước phát triển OECD, là đất nước suốt 20 năm nay có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất Cộng đồng Châu Âu EU, là đất nước có tỉ lệ tội phạm và li hôn thấp nhất EU, là đất nước phát triển diệu kì mà bất kì bạn bè nào của tôi sang thăm những năm gần đây đều trầm trồ khen ngợi là văn minh, thanh bình, hạnh phúc và đáng sống.
Ba Lan ngày nay từ một nước đứng thứ 79 về mức độ tham nhũng đã lọt vào top 30 nước ít tham nhũng nhất thế giới.
Ba Lan ngày nay đã vượt mức sống của Hy Lạp, Bồ Đào Nha và đe dọa sắp vượt tiếp Tây Ban Nha, Italy... về PPP tính theo đầu người.
Thế mà có một thời tôi từng là thành phần hăng hái làm "phản động" chống lại tiến trình đổi mới của xã hội Ba Lan. Khi nghĩ về một thời ấu trĩ, cực đoan này, tôi luôn hối lỗi và xấu hổ.
Tôi tin, không lâu nữa đâu, sẽ tới ngày các thành phần ở Việt Nam đang gọi tôi và bạn bè của tôi là phản động cũng phải hối lỗi và xấu hổ như tôi đã từng.
* Bài đã đăng trên trang Facebook cá nhân của nhà văn Trần Quốc Quân, hiện định cư tại Warsaw, Ba Lan.
NGUỒN :  https://www.bbc.com/vietnamese/world-44727577

Monday, June 18, 2018

TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH CHIẾN



TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH CHIẾN
Để Vinh Danh Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 2018
   Bạn thân mến!
Tất cả chúng ta đã trải qua cuộc chiến. Một số lớn anh em chúng ta đã bỏ mình cho Tổ Quốc, một số không nhỏ đã mang những thương tật trên thân thể và những vết sẹo trong tâm hồn. Hầu như tất cả chúng ta còn lại cùng gia đình và bao người thân quen đều phải gánh chịu nhiều hư hao mất mát, những gảy đổ phi lý, những điêu tàn cơ cực. Trong khói lửa binh đao. Sau ngày buông súng. Trong trại tù tủi nhục. Khi lênh đênh trên biển. Lúc làm lại cuộc đời trên xứ người. Hay đành tiếp cuộc sống trong nhà tù lớn tại quê hương …
   Bạn ơi!
Có cuộc chiến nào mà không có đau thương tàn phá. Có cuộc chiến nào mà không có chết chóc chia phôi. Và chen vào giữa đời lính luôn có sự hiện diện của tình yêu. Vì chỉ duy nhất tình yêu mới có thể giúp đở, cưu mang và nuôi dưỡng người cầm súng quên đi bao gian khổ, bất chấp bao nguy hiểm thường trực, để sống sót vươn lên trong thử thách bảo lửa. Cho dù đó là tình yêu quê hương xóm làng, tình đồng đội sống chết bên nhau, tình nghĩa vợ chồng của đôi chinh phu chinh phụ. Là cuộc tình thơ mộng hay tình sầu giữa chàng lính chiến và em gái hậu phương, hoặc một chuyện tình đắm đuối trong lần về phép rồi dở dang oan trái vì hai phương trời cách biệt.
Tình yêu đó như thể một cánh hoa mọc giữa sườn đá. Một hơi ấm giữa cơn mưa rừng. Một cứu cánh bên bờ vực chết. Một vị ngọt giữa cái đắng, thần dược của nổi đau trong đời chiến chinh. Một cái dù bao la che chở khi ta bị thương tật. Và một ánh sáng chớp vào tim trước khi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng
Ôi! Người lính, tình yêu và nỗi chết. Thử hỏi người trai nào sống trong thời chiến mà chưa một lần biết đến những danh từ trên! Có người lính nào mà không một lần nghĩ đến thân phận khi dấn thân vào sương gió?! Và còn gì tuyệt đẹp hơn khi tình yêu đến trong địa ngục biển lửa, nơi mà sự nguy hiểm, thử thách kề cận bên cái chết càng thôi thúc lòng tin yêu, nổi nhung nhớ đến tuyệt hảo. Vì trong tiếng thì thầm của tình yêu thời chiến đã có sẳn chử hy sinh. Vì khi tình yêu vừa len nhẹ vào đời người lính nó đã mang theo mầm mống của lo sợ tan vỡ, của mất mát chia ly và chết chóc. Trong thử thách, gần với nổi chết, tình yêu nơi người lính càng sáng ngời hoa mộng, mang đầy từ tâm.Là nơi bám víu giữa những lằn chớp của bom đạn. Là nhung nhớ lơ lững giữa nguy hiểm. Là bao nhiêu lần mơ đến em. Là bấy nhiêu lần nguyện cầu khi không biết phải làm gì hơn. Là cảm nhận hạnh phúc tuyệt vời dù chỉ với lá thư tình trong ba lô hay một tin nhắn của người yêu từ phương xa. Hoặc đơn giản hơn là những bộc lộ thiết thực khi cảm nhận thiếu vắng em, những ao ước được dạo phố bên em, những cơn mê thèm ôm em. Ngay giữa những tiếng nổ. Giữa những đêm khuya trắng mắt. Trong những cơn say chưa đủ say. Khi không biết ngày mai sẽ ra sao:
     “Mấy tháng rồi tao chưa thấy Sài Gòn
       Mấy tháng rồi tao không được ôm em
       Tao thèm làm tình như tao thèm sống
       Tao thèm hôn em, hôn liên miên…”  *Mưa và Nỗi Chết ở An Lộc/ Tác giả Nguyễn Tiến Cung
Cuộc chiến nào cũng luôn nổi bật những câu truyện về những người lính xông pha nơi chiến trường có người yêu để lại đằng sau. Những tình cảnh dạt dào thắm thiết của chàng nơi sương gió thương nhớ em ở làng xa, “chiều chiều ngoài biên cương,nhìn ra khơi ngàn sóng biếc mơ đến em bên bến sông buồn trông chờ” Là những thơ tình trang tải nổi nhớ nhung của nhau. Những hẹn hò quý báu trong những ngày nghỉ phép ngắn ngủi. Những tâm sựthầm kín, những dự tính thơ mộng, những nụ hôn gắn bó, những hiến dâng tự nguyện. Để nhiều khi, những cuộc tình ấy đơm hoa kết nụ theo tháng ngày chinh chiến, cho dù về sau chàng là “bại tướng cụt chân”; hay cuộc tình vụt tan khi tin em sang ngang đến giữa tiếng bom đạn. Và đôi khi cuộc tình bị chém ngang tim với tin dữ chàng vừa gục ngã nơi một tiền đồn không tên, rơi nhẹ vào chốn miên viễn không hận thù, bỏ lại cuộc đời trai trẻ và “người tình còn đó anh nhớ không anh”.
Trong thời gian chờ ra đơn vị, tại BV Đỗ Vinh, tôi tình cờ đọc lại cuốn truyện dịch “Một Thời Để Yêu, Một Thời Để Chết”. Một câu truyện về người lính, tình yêu và sự chết xẩy ra như bao câu chuyện tương tự trong cuộc chiến hiện tại, nhưng không hiểu vì lý do gì cuốn truyện này bấy giờđã để trong tôi một ấn tượng sâu đậm. Có thể vì đó là thời gian tôi đang chơi vơi đeo đuổi mối tình đầu đời ở tuổi hai mươi sáu. Giữa những giường bệnh, giữa những tiếng rên đau, chưởi thề, nghiến răng của thương binh, trong mùi ẩm ướt của sàn nhà, mùi bông băng thấm máu và của thuốc men, tôi chứng kiến bao nụ cười hạnh phúc của các đồng đội thương binh kề cận, do những người mẹ, người chị hay em, hoặc người tình đem đến. Là những thức ăn quen thuộc do nhà nấu, trái cây tươi mát đưa tận miệng. Là những e ấp nắm tay, những an ủi trìu mến. Là những ánh mắt thương cảm, ưu buồn lo lắng khi nhìn thấy vết thương nặng của người thân. Là những thăm hỏi, hay đôi khi chỉ là những câu nói bâng quơ, dù ngồi hằng giờ bên cạnh giường. Là những gói thuốc lá, ly cà phê đá, những chiếc khăn tay, những cuốn truyện từ các em gái hậu phươngđem đến…
Câu truyện “Một Thời Để Yêu, Một Thời Để Chết” của tác giả Erich M. Remarque chọn bối cảnh nước Đức trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Anh lính Đức Erust Graeber về thăm nhà lần đầu tiên sau 2 năm ở chiến trường Miền Đông. Dưới khung cảnh đổ nát của thị trấn mình liên tục bị Đồng Minh oanh kích, anh tìm thấy được tình yêu với nàng Elizabeth Kruse, một người quen xưa của gia đình. Một tình yêu mãnh liệt giữa 2 con người không còn gì để phải sợ mất mát đã nảy mầm giữa tiếng bom đạn và chết chóc rồi vươn lên thắm thiết giữa nồng nàn ân ái,  khắc khoãi âu lo trong nổi buồn mênh mang vô định của có nhau hôm nay, mất nhau ngày mai. Thay vì đào ngũ, Erust quyết định trở lại đơn vị để rồi gục ngã bởi viên đạn bắn do chính những tên du kích Nga anh vừa thả ra, khi tay anh đang cầm lá thư của vợ báo tin có thai con mình. Truyện được kết thúc bằng một câu ngắn gọn “Đôi mắt chàng khép lại”. Khép kín luôn cả một khung trời, một giấc mơ hiền hòa bình dị vụt biến khi cái chết đến quá nhanh và phi lý. Dững dưng. Không một dấu than. Không một dấu hỏi. Như một giọng hát soprano đang ngân lên thật mạnh và cao vút, bổng đột nhiên ngưng…
Thực tế, người lính trong cuộc chiến chống CS xâm lăng của ta, tình yêu và nỗi chết của họ rất khác biệt, dù người lính vẫnlàm bổn phận người trai khi đất nước cần, tình yêu vẫn giống nhau trên danh nghĩa, và cái chết vẫn là cái chết bình đẳng dưới mọi hình thức cho cả quan lẫn quân.
Người lính của chúng ta là những ai? Những chàng trai trẻ đi theo tiếng gọi non sông tình nguyện nhập ngũ, những kẻ động viên hay đôn quân, kẻ trước người sau rời xa mái trường, quê nhà và người thân lên đường tòng quân bảo vệ đất nước. Họ thuộc mọi thành phần của xả hội tự do Miền Nam, đến từ mọi nẻo đường, từ những chốn xa xôi hẻo lánh hay đô thị đông người, suốt từ Đồng Hà Quảng Trị khô cằn tuyến đầu, ngang qua Cố Đô Huế rồi đến Duyên Hải nắng đẹp Miền Trung,lên tận Cao Nguyên rừng xanh âm u, quanh quẫn Thủ Đô Sàigòn-Gia Định mến yêu, xuyên qua những mảnh đất phì nhiêu màu mở của Đồng Bằng Cữu Long đến tận Cà Mâu… Bao gồm mọi tôn giáo, với đầy đủ giọng nói ba miền Nam Bắc Trung, đồng một lòng sát cánh chiến đấu bên nhau. Họ xuất thân từ các Trung Tâm Huấn Luyện địa phương, từ trường Thiếu Sinh Quân hay các Trung Tâm Huấn Luyện quốc gia Thủ Đức, Quang Trung, Đồng Đế, Dục Mỹ, TT Huấn Luyện Nhảy Dù… hay các trường ĐH quân sự Hải Lục Không Quân, Quân Y... Họ là những:
     “Người lính trẻ đã một thời giong ruổi
       Đem tình người tình lính trấn biên cương
       Vẫn một lòng chung thủy với quê hương
       Dù oan nghiệt rẽ đời qua trăm hướng”  * Huy Văn
Những người lính ấy đồng thời cũng là anh em trong cùng một gia đình, là con chú con dì trong dòng họ, cùng làng xóm phố phường, là bạn học cùng trường, từng quen biết nhau hay xa lạ nhưng cùng một lý tưởng, tình nguyện gia nhập quân đội VNCH để chống trảkẻ thù xâm lăng. Họ là những người con ưu tú của đất nước trong mọi binh chủng mà tổ quốc luôn ghi ơn khi họ đền nợ nước.
     “Xin tạ lỗi với đời trai khói lửa
       Những địa danh ngang dọc bước quân hành
       Đoàn tráng sĩ qua sông lần vĩnh biệt
       Tưởng đang còn cuộc rượu lúc tàn canh."  *Xin Một LầnTạ Lỗi/ Trần Ngọc Nguyên Vũ
Còn những người yêu của lính hoặc những cô gái mà người lính đeo đuổi si tình là ai?Phải chăng là em gáicủa thằng bạn nối khố, là người con gái lớn lên trong cùng xóm, cùng một thị trấn, ở làng bên cạnh, trong một quận lỵ, một trường tiểu trung học,trên thềm đại học, cùng chung nhóm bạn. Là người quen biết trong gia đình. Là em thím Tư, là cháu mợ Ba, là bạn thân của nhỏ em, con gái ông Thượng Sĩ trong trại gia binh. Là những o thôn nữ mộc mạc đơn sơ trong chiếc áo bà ba trắng xanh đỏ tím vàng gặp trên đường chinh chiếnkhi dừng chân uống nước ở ven đường ta nhìn thấy…
                   Em là người con gái ta chưa quen biết nhưngchợt thấy giữa nhóm bạn cùng trang lứa trong quán chè, quán kem… đang ăn vặt bò bía, phá lấu nước mía ở góc đường, hoặc là những thiếu nữ dung dăng dạo phố Nguyễn Huệ, Thương Xá Tax mà ta muốn tìm quen theo về tận nhà. Họ cũng là người em hậu phương đến choàng vòng hoa chiến thắng “trong ánh vinh quang rộn ràng, anh bước hiên ngang về làng”, là người mà ta tình cờ bắt gặp có một đôi mắt long lanh thơ ngây, đôi má hây hây và một nụ cười hồn nhiên khiến ta bổng vương vấn trong một chiều rực nắng. Đó là một mái tóc mây hồng nghiêng ngiêng sau vành nón trên cầu Trường Tiền khiến ta mê mẫn dù lời nói khó hiểu” mô tê răng rứa - anh đừng đi gần tui mà tui ốt dột. Mạ tui thấy la tui đó!” Hay là một cô bé tóc ngắn có dáng nghịch ngợm chạy xe honda với câu nói thật ngộ “Tui hổng chịu đâu - Dzậy sao?!” Là một tà áo tím nên thơ với giọng nói nhẹ như gió thoảng của “cô em Bắc Kỳ nho nhỏ”…Là bao nổi nhớ. Bao chờ mong. Bao vấn vương. Bao mộng ảo. Bao diệu kỳ không nên lời…Là con suối nhẹ nhàng đi qua tim ta. Là cơn đau nhức nhối trong nổi thương nhớ
     “Nếu một mai bé nhìn hoa dù nở
       Lời tỏ tình anh gởi đó nghe cưng
      Hoa dù tròn như nguyện ước yêu thương
      Anh lơ lững giữ giòng đời vạn biến…”
Chuyện tình của họ như thế nào? Cũng ngập ngừng, cũng lo sợ, lãng mạng và say đắm. Cũng liều lĩnh, bất chấp, nhanh chóng và thương đau. Đột ngột và lâng lâng tự nhiên đến như thể“nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hìu hiu!” Như một cơn “gió thoảng xa xôi, gió nào rung động tim tôi, hay là dư âm suốt đời!” Hay nhẹ nhàng buông thả trử tình của “chưa nắm tay em mà lòng đã yêu, chưa uống môiem mà tình đã say!”Tình lính thường long đong ray rứt.Yêu trong vô vọng. Yêu trong cuồng si. Yêu trong chớp nhoáng. Tình lính “tính liền” với đám cưới trong ba ngày phép trước khi ra lại đơn vị. 
Em yêu anh vì yêu dáng phong trần hiên ngang của anh, yêu luôn cả mũ đỏ thiên thần và bộ đồ hoa dù. Yêu cái nhìn nồng nàn, đôi mắt rực lửa, nụ cười rạng rở với giọng cười sảng khoái của anh. Yêu sự chìu chuộng săn đón của anh, yêu con đường mình cùng chung lối, yêu vòng tay siết chặt, nụ hôn nóng bỏng mang theo mây trời và giông bảo vào đời em. Là mong đợi những thư tình đơn sơ gởi từ KBC xa lạ. Là thích nghe anh kể chuyện đời quân ngủ, chuyện xông pha ngoài trận tuyến. Thương anh em đành thương luôn cả đầu tóc húi cao caré, làn da đen thui khét nắng và luôn cả mùi ẩm mốc của bộ đồ trận. Và từ khi em là người yêu của lính, em biết yêu nhạc lính, yêu màu tím hoa sim, biết lo sợ thấp thỏm đợi chờ tin anh, biết cầu nguyện Ơn Trên gìn giữ anh và theo dỏi bước chân anh qua những đêm trằn trọc khó ngủ. Yêu anh là chấp nhận những ngày cô đơn xa anh, những chiều dạo phố một mình, ráng làm quen với tên xa lạ của những nơi anh bước qua, là đến thăm anh tại tiền đồn hay trong quân y viện.
Làm vợ anh là chấp nhận thương đau thua thiệt, chắt chiu với tiền lính là “tính liền”, là đếm những ngày xa anh, là tạm ở tại hậu cứ trong căn phòng nhỏ lợp tôn với hai quả tim đồng, hay nay đây mai đó theo đơn vị anh và đành phó mặt tương lai cho số phận. Là lỡ làng đời em. Ai trong chúng ta đã không một lần ngậm ngùi trước hình ảnh chẳng thể quên của người góa phụ trẻ tuổi phủ phục bên cạnh quan tài chồng, tay xoa xoa lá cờ che kín nắp hòm, thì thầm những lời yêu đương.
     “Xin tạ lỗi với ai người chinh phụ
       Đã hóa thân nàng Tô Thị trông chờ
       Đứng sừng sững giữa hai vầng nhật nguyệt
      Nhỏ xuống dòng lệ máu bốc thành thơ
      Xin tạ lỗi cùng em người hiền phụ
      Đã vì ta lận đận suốt một thời
      Cùng ngụp lặng trôi theo dòng sinh mệnh
      Tấm gương đời cuối thế kỹ hai mươi.”  *Trần Ngọc Nguyên Vũ
Tình lính thường đến nhanh gọn, nóng sốt, si mê bồng bột như trẻ con. Tuy chai sạn trong phong sương, nhưng người lính rất mềm yếu, ngây ngô, dễ rung động và non nớt trong tình trường “Đôi khi muốn nói yêu em nhưng ngại ngùng đành lãng phai!” Người lính thường xin chịu phần thua thiệt, lo sợ cho sự xa mặt cách lòng, cạm bẩy và cám dổ của đèn màu đô thị.Nhưng tình yêu đã nuôi dưỡng họ, giữa những thực tế phủ phàng của chiến tranh. Tình yêu cho họ thêm sức mạnh, ý chí và tinh thần chiến đấu. Tình yêu của lính cao thượng. Biết chấp nhận sầu ly. Biết thông cảm cho tình cảnh của người hậu phương, “đường vào ngày mai sỏi đá, thôi em về quên hêt đi ngày xưa!” Nhận thư Má viết ngắn gọn “con Tú qua thăm Má và khóc, nói nó không thể đợi con được. Tuần sau nó sẽ lấy chồng là thầy giáo gần nhà”. Người lính hoa mắt, đông đá, sau một vài câu chửi thề, xách súng bắn một tràng chỉ thiên. Nổ nghe như pháo ngày cưới. Ông Thầy cũng đành lắc đầu. Thế là xong! Còn với ông Thầy ‘tử thương” vì tình thì sao? Thầy và đám đệ tử tụm lại làm vài chầu ngất ngư để quên sầu hay tưởng như quên sầu, rồi lầm lì để sau đó tình nguyện lãnh nhiệm vụ nguy hiểm nhất cho đơn vị trong lần đánh tới. Tình yêu mang đến hy vọng. Tình yêu sưởi ấm đời lính nhọc nhằn.
Bạn thân mến
Có tình yêu hay chưa có tình yêu, người lính vẫn dũng cảm xông pha trận tuyến, làm tròn bổn phận giao phó. Thương tật hay chết chóc là chuyện không ai mong muốn nhưng vẫn chấp nhận khi trời gọi ai nấy dạ. Cái chết đôi khi đơn độc trong tiểu đội khinh binh, đôi lúc vài ba mống cùng một lúc khi trung đội tiến chiếm mục tiêu. Có khi đi đong luôn gần cả nữa đại đội vì bom bạn thả lầm,hay nhiều hơn nữa khi tiểu đoàn bị tràn ngập…Có cái chết đến nhanh sau một tiếng nổ lớn, có cái đến từ từ, quằn quại trong đau đớn. Có cái chết thật tức tưởi oan nghiệt, có cái vì can đảm đở đạn cho đồng đội bên cạnh. Người lính chết trong từng hố cá nhân, hay chung với nhau trong các đợt xung phong với xác quan và quân sát bên nhau, rải rác đây đó trên các nẻo đường đất nước. Chết toàn thây hay thân xác nổ tung? Chết mất tích trong bụi bờ, trên đường di tản, hay được chở về tận nhà trong hòm nhôm? Trong giây phút tử thương, “nằm chết như mơ”ấy, người lính trận trẻ tuổi có kịp chăng kêu lên Mẹ ơi, như anh đã từng làm khi đau ốm hay trong rủi ro? Có đủ chăng anh thì giờ nhớ đến người vợ bé bỏng luôn trông ngóng chờ đợi anh nơi hậu cứ? Hay có kịp thấy chăng anh nụ cười ánh mắt của người em nhỏ anh thầm yêu mà anh đành giả từ nơi ngôi làng xa trên bước đường chinh chiến?!
Người chết trận chính thức giả từ vũ khí. Họ thật sự là những anh hùng đã đi vào huyết sử của dân tộc, là hồn thiêng của sông núi. Họ là những cứu tinh của đơn vị, là huyền thoại của đất nước. Chết trận là chết không một than vãn. Không một ai oán. Không có lấy một lời trăn trối cho người yêu, không kịp một lời xin lỗi với vợ dại con thơ ở nhà. Nhưng khi người lính nhắm mắt buông xuôi, tình yêu vẫn luôn hiện hữu trong ánh sáng vĩnh cữu của tin yêu, trong tình thương nhớ vô vàn của đồng đội và gia đình.
     “Anh đi mãi, không bao giờ trở lại! 
      Tôi viết vần thơ của thời hoang dại. 
      Những vần thơ hoài niệm nhớ thương anh. 
      Và đêm nay, trong khóe mắt long lanh giọt lệ buồn…
      Tôi khóc anh vĩnh biệt!”  * Hồ Sĩ Duy.
Khi một người buông tay. Một người ngã. Một thoáng yêu nhau, Một thoáng ngậm ngùi, thì các bạn thân ơi, là những người sống sót qua cuộc chiến nay tạm dừng bước giang hồ, chúng ta cần phải ngồi lại bên nhau, xích sát vào nhau hơn nữa. Đừng hững hờ, tẻ nhạt. Hãy nhớ đến nhau hoài. Xin chớ xa lánh nhau.Cho tình đồng đội vẫn trung tín. Cho khí thế vẫn dũng mạnh. Để tiếp tục đồng hành với nhau và chung sức giữ đời cho nhau. Trong tinh thần anh em đoàn kết một nhà. Trong tinh thần Cố Gắng Nhảy Dù muôn thuở. Luôn giữ vững niềm tin quê hương Việt Nam sớm thoát nô lệ xiềng xích CS. Cùng tham gia sinh hoạt với cộng đồng người Việt tỵ nạn, xem đó như một đóng góp bảo tồn lịch sử VNCH hòng giúp thế hệ hậu sinh thấu hiểu về tinh thần chiến đấu bất khuất của Quân Đội VNCH.
Xin nghiêng mình yêu thương và kính trọng người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa
Xin cùng tưởng nhớ đến hai mươi ngàn quân nhân thuộc Binh Chủng Nhảy Dù đã nằm xuống cho cuộc chiến Việt Nam (**)
Xin cầu nguyện Ơn Trên gìn giữ bạn cùng gia đình thân yêu. Cám ơn đời cho chúng ta vẫn còn có nhau. Cám ơn em, người vợ lính, vẫn cùng anh đồng hành trong suốt cuộc đời. Chúng mình vẫn còn bên nhau. Và mãi mãi bên nhau, nhé em. Cho nhau“một chiều vui sống. Quên hết tang bồng”. Được như vậy, anh sẽ mời em một bản tango tối nay, ngay bên bờ hồ. Vì em yêu ơi, It takes two to tango.     
   Vĩnh Chánh
(**): Con số hai mươi ngàn quân nhân Nhảy Dù thiệt mạng do Trung Tưóng tại chức Nhảy DùJoseph Anderson, chỉ huy trưởng Quân Đoàn Không Kỵ XVIII của Quân Đội Hoa Kỳ, tường trình trong buổi lể trao tặng danh hiệu “Airborn of The Year 2017” cho chủ tịch tiền nhiệm của Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam là mũđỏBS. Lê Quang Tiến, tại Atlanta, Georgia vào ngày 29 tháng Tư, 2017.

Sunday, May 6, 2018

HÃY CÙNG NHAU HÃNH DIỆN MÌNH LÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA !

Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - Ngày kỷ niệm 43 năm Quốc hận 30 tháng Tư năm nay mở ra một bước tiến mới cho tinh thần Việt Nam Cộng Hòa. 
Lần đầu tiên tại Dinh Độc Lập, vào năm nay, người ta thấy có triển lãm di tích của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng với nhiều bài viết bàn về sự thăng trầm của dinh Độc Lập. Cuộc triển lãm này đem đến nhiều chi tiết, sự thật về Việt Nam Cộng Hòa trong nỗ lực ngăn cản thảm họa Cộng Sản. Khác với cuộc triển lãm “Cải Cách Ruộng Đất” vào bốn năm trước tại Hà Nội, do bị nông dân khiếu kiện đất đai ồ ạt tràn về biểu tình khiến phải đóng cửa sớm, cuộc triển lãm về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Dinh Độc Lập có thể kéo dài đến thêm hai năm nữa.
Những di ảnh về gia đình cụ Diệm thể hiện một niềm hãnh diện về bản sắc dân tộc, về ý chí tự cường và ước vọng tự do hòa bình phú cường của dân tộc Việt trước mắt mọi người. Từ cuộc triển lãm này, giới trẻ ngày nay tự nhiên lại hỏi, "tại sao Hồ Chí Minh chưa bao giờ bận đồ quốc phục mà chỉ bận đồ cán Tàu? Đứng đầu một nước mà sao kỳ vậy?" 
Di ảnh về gia đình cụ Diệm trong Dinh Độc Lập còn mở ra ánh sáng cho mọi người thấy về nỗ lực của cụ Diệm khi tìm cách an cư lạc nghiệp hàng vạn người dân miền Bắc di cư vào Nam tỵ nạn Cộng Sản sau năm 1954. 
Ước tính có khoảng hơn 800 ngàn người miền Bắc đã di cư vào Nam sau năm 1954. 
Một miền Nam nông nghiệp đã quá thành công trong việc khai điền lập ấp cho hàng vạn người dân miền Bắc tị nạn Cộng Sản, di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneve 1954. Hơn 43 năm, người ta thấy các vùng kinh tế mới XHCN vắng bóng, đổ vỡ và nghèo sơ xác nhưng các làng mạc của người Bắc di cư năm 1954 vẫn sầm uất ở miền Nam Việt Nam cho đến bây giờ. 
Dinh điền Cái Sắn được cụ Diệm thiết lập cho hơn 45 ngàn người, hầu hết nghề nông với nhiều chợ búa được dựng lên, ngay ở các đầu kinh như kinh A, kinh B, kinh Tân Hiệp, kinh Cái Sắn. Nam Bắc sống chung một nhà, hơn 60 năm qua, trong đó có 43 năm trầm mình trong Quốc Hận, vùng dinh điền này vẫn trù phú, người dân vẫn một lòng chờ đợi ngày CNXH bị xóa sổ. 
Còn Hố Nai thì sao? 
Từ một vùng đất nóng, không người ở, nhờ nổ lực giúp đỡ của chính phủ Ngô Đình Diệm đối với người di cư an cư, đã trở thành một vùng đất sinh sống trù phú cho đến giờ này; góp phần không nhỏ trong việc đánh gục nền kinh tế bao cấp XHCN Mác Lê mà CSVN áp đặt lên đầu lên cổ người dân Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1978 đến hết năm 1990. 
Hố Nai được thành lập vào khoảng năm 1957 bởi chính phủ Ngô Đình Diệm, đến nay là đã 61 năm. Người dân sống ở Hố Nai hiếu khách, cần cù chịu khó, cương quyết giữ vững truyền thống dân Việt. 
Vào giai đoạn mà CSVN gọi là “Quá Độ,” chiếc áo dài quốc phục Việt Nam bị vắng bóng, bị dẹp hẵn ở mọi công sở, trường học, đường phố, chợ búa nhưng ở Hố Nai thì không! Người ta vẫn thấy hàng trăm giáo dân trong tà áo dài đi lễ mỗi sáng hoặc cuối tuần ở Hố Nai, bất chấp CSVN đang đẩy đời sống người dân Việt Nam Cộng Hòa đi vào cùng cực nghèo khó đến mức nào. 
Hố Nai nổi tiếng với đủ mặt hàng tiểu thủ công nghệ và nông nghiệp như các loại thùng thiếc, bánh đa, bánh phở, mì sợi khô, bán rộng khắp các tỉnh thành miền Nam, nhất là ở Sài Gòn. Đó là chưa kể chợ búa, mua bán giao thương vô cùng nhộn nhịp. Việt Cộng không thể nào dẹp được Hố Nai mà phải nương theo sức sống kinh tế và danh tiếng của Hố Nai để lấy thuế mà nuôi cán bộ đảng viên. 
Nếu đem so sánh Hố Nai với các khu kinh tế mới của CSVN đặt lên miền Nam sau năm 1975, thì rõ ràng, Hố Nai là một chiến thắng vinh quang không cần tiếng súng của Việt Nam Cộng Hòa trước chủ nghĩa CS trong con mắt người dân. 
Ngã Ba ông Tạ, Tân Bình, Long Khánh, và còn bao nhiêu địa danh định cư khác được hình thành dưới thời cụ Diệm, suốt bao nhiêu năm qua, những nơi này vẫn vươn lên trù phú, đời sống kinh tế sinh động bất chấp khó khăn trù dập cướp bóc của CSVN. 
Bốn mươi ba năm qua, các vùng "kinh tế mới" của CSVN đã chết! 
Bốn mươi ba năm qua, nền kinh tế Quá Độ XHCN cũng đã chết! 
Bốn mươi ba năm qua, nền kinh tế "định huớng XHCN" đang giãy chết! 
Đến sau cùng, chỉ có nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa, một nền kinh tế theo định hướng dân tộc: tự do, công bằng và phú cường cho mỗi người dân thì vẫn sống. Sống trong thực tế khó khăn, sống ở tương lai đầy triển vọng! 
Bốn chữ "Việt Nam Cộng Hòa" cũng đã thay thế dần ngôn từ xảo trá "Mỹ ngụy" mà CSVN cố nhồi sọ giới trẻ, giới trí thức trong nước bấy lâu nay qua mọi hệ thống báo đài, sách vở. Giới trí thức XHCN đành lòng bẽ bàng mà buộc phải "nhìn vào sự thật." 
Khi tiếng súng lặng yên, dối trá và chính nghĩa không thể nào nhầm lẫn được nữa! Chiếc xe tăng T 54 đã thúc thủ trước sự thật, sự thật về một Việt Nam Cộng Hòa can trường đương đầu với hỏa lực của toàn khối XHCN để cưu mang duy trì vẻ đẹp của làng quê, tình tự yêu thương dân tộc trước thảm họa Cộng Sản. 
Cũng sau đúng 43 năm, sự trở lại của HKMH Carl Vinson tại Đà Nẵng, với hình ảnh các quân nhân Hoa Kỳ hát hò kêu gọi "nối vòng tay lớn" đầy thân thiện càng làm cho cả một hệ thống lý luận tuyên truyền về tội ác "đế Quốc Mỹ" bị đổ vỡ. Giới trẻ Việt Nam đã bắt đầu nêu lên câu hỏi về bản chất của sự "giải phóng", nhất là hiện trạng thuyền nhân Việt Nam sau năm 1975 kéo dài với cả triệu người Việt bỏ xứ. Ai thật sự là tay sai của ngoại bang đây khi đảng ta đã hy sinh bao nhiêu thế hệ trẻ để đánh Mỹ cho Chủ Nghĩa Xã Hội, cho Liên Xô và Trung Cộng? 
Cũng trong năm nay, Tổng thống Trump đã tuyên bố lấy ngày 7 tháng 11 chính thức làm ngày tưởng niệm các nạn nhân của Cộng Sản. Lời tuyên bố này của một vị tổng thống Hoa Kỳ là sự thừa nhận một cách gián tiếp giá trị cống hiến và hy sinh của dân tộc Việt Nam Cộng Hòa cho hòa bình của thế giới tự do không Cộng Sản. Sự phản bội lầm lẫn của Hoa Kỳ trong quá khứ đối với Việt Nam Cộng Hòa không còn có thể giấu nhẹm hay lấp liếm được nữa! Sự phản bội này sẽ đi vào sử như là một bài học quý giá cho hậu thế, mà ý nghĩa lớn nhất của bài học này là họng súng và mưu mô không thể chôn lấp được khát vọng chính nghĩa của tự do và quyền tự quyết dân tộc của bất cứ dân tộc nào. Chỉ khi Việt Nam Cộng Hòa được phục hồi lại, thì các giá trị căn bản của nhân bản, danh dự của Hoa Kỳ mới thực sự được khôi phục. 
Tranh chấp tại biển Đông đang gia tăng, tranh chấp mậu dịch Mỹ -Trung đang gia tăng, kỹ thuật kỹ nghệ của Hoa Kỳ đang bị Trung Cộng trộm cắp từng ngày. Các nguyên tắc mậu dịch căn bản đang bị Trung Cộng lừa đảo thay đổi. Hoa Kỳ nay đã chính thức coi Trung Cộng là kẻ thù nguy hiểm nhất của mình. Nhiều hậu quả tai hại nghiêm trọng khác về an ninh quốc phòng do Trung Cộng gây ra cho Hoa Kỳ ngày hôm nay khiến Hoa Kỳ phải trả giá rất đắt. Những hậu quả này là hệ lụy của sự phản bội Việt Nam Cộng Hòa gây ra! Bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa lương thiện chí tâm chống đỡ Cộng Sản để dung dưỡng Trung Cộng. Nay quả báo đã hiện rõ! Cũng vì vậy, lời tuyên bố của tổng thống Trump chính là một sự nhìn nhận sai lầm của nước Mỹ trong quá khứ! Phe phản chiến đã biến mất, giới truyền thông giối trá đã im lặng. Ác nghiệp của quá khứ nay thành quả báo. Hơn bao giờ hết, giá trị chính nghĩa và hợp pháp hợp hiến của Việt Nam Cộng Hòa trước công pháp thế giới đang mặc nhiên hiện rõ, không còn là những dự đoán bàn luận mơ hồ nữa. Cái gì của Việt Nam Cộng Hòa thì phải trả lại cho Việt Nam Cộng Hòa! 
Suốt bốn mươi ba năm, nhạc của Việt Nam Cộng Hòa lan khắp các hang cùng ngõ hẻm của Việt Nam. Giới nghèo khó hát rong trên khắp các nẻo đường Việt Nam ngày nay hát toàn nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa hay nhạc Vàng Việt Nam Cộng Hòa kiếm tiền mưu sinh qua ngày. Không có một bài nhạc tuyên truyền nào của CSVN được đem ra hát giữa chợ đời xin chút từ tâm bố thí cả! Nếu hát loại nhạc này thì không ai cho tiền cả! Phải chăng nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đã và vẫn còn tiếp tục cưư mang những thân phận nghèo khó trong tình tự của dân tộc. 
Có đôi khi chúng ta phải tự hỏi, phải chăng những người nghèo khó hát dạo này là Bồ tát hóa thân, đứng khắp đường phố ở Việt Nam, từ Nam chí Bắc, giữa trời trưa nắng gắt, hát nhạc lính Việt Nam Cộng Hòa không mệt mõi cho mọi người nghe đề hồn nước được mãi còn, đề tình người được mãi gìn giữ, để văn hóa nước nhà không bị phôi phai? Những người đi ngang cho tiền, ai cũng có bộ mặt ngậm ngùi trắc ẩn, trắc ẩn vì cái nghèo của người hát dạo hay trắc ẩn cho chính mình chưa nhìn thấy hồn nước sống dậy, chưa nhìn thấy tình tự và chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sống dậy? 
Bốn mươi ba năm trôi qua, những ai nằm xuống thì đã nằm xuống, những ai còn thì vẫn tiếp tục đấu tranh bảo vệ tình thần Việt Nam Cộng Hòa, thế hệ sau tiếp thế hệ trước, một quyết tâm đấu tranh mà nhà tù hay hệ thống tuyên truyền CNXH không thể nào lay chuyển được. Nước chảy đá mòn, trong khi chủ nghĩa CS cứ mỗi ngày bị bêu rếu, tàn lụng dần trong xã hội, thì ánh sáng trong tâm thức về Việt Nam Cộng Hòa cứ mỗi ngày mỗi nhân rộng. Nhân rộng từ giới nghèo đến giới giàu, từ dân đến đảng viên, từ Nam ra Bắc. 
Chồng chất với nhiều căng thẳng thanh trừng đấu đá nội bộ vì tiền tài, quyền lực, đảng CS đã làm mất dần niềm tin ở quân đội, ở CA. Những người lính tại ngũ sẽ tự hỏi tại sao họ phải chiến đấu để bảo vệ đảng thay vì bảo vệ dân tộc. Một khi cả dân tộc đã quen dần với việc đặt câu hỏi, thì sự vô tri bắt đầu bị đổ vỡ. Toàn bộ đảng Cộng Sản VN ngày nay như con rắn già nằm bất động chờ bị toàn dân vùng lên tiêu diệt. 
Hàng loạt các vụ bắt bớ những ai đấu tranh đơn độc không làm giảm đi ảnh hưởng ngày một lớn mạnh Việt Nam Cộng Hòa. Việc anh Dũng ra tòa bận đồ có biểu tượng cờ Vàng với hàng chữ " it's in my DNA" càng cho thấy CS đã không còn hy vọng gì để có thể chôn sống Việt Nam Cộng Hòa trong nhận thức của người dân Việt được nữa. 
CSVN lầm tưởng nghĩ rằng sự trở lại của Việt Nam Cộng Hòa là nhờ vào họng súng. 
Không! Sự trở lại của Việt Nam Cộng Hòa nằm ở nhận thức, nằm ở khát vọng nhìn thấy Việt Nam tự do, tự cường và công bằng cho mỗi người dân! 
Sự trở lại của Việt Nam Cộng Hòa nằm ở tình thương dân tộc và văn hóa! 
Với năm tháng, chiếc xe tăng T54 ủi sập dinh Độc lập vào ngày 30 tháng Tư năm 1975 sẽ nằm bất động như mộtđống sắt vụn vì dân tộc Việt Nam không cần chiến thắng của chủ nghĩa Mác Lê, mà ngược lại dân tộc này đang cần thấy ngày quật khởi thật sự của Việt Nam Cộng Hòa, một sự quật khởi từ cõi vô tri để tìm về nhận thức, một sự quật khởi từ hung ác để tìm về tình thương dân tộc đầy thánh thiện, một sự quật khởi của những người con Việt Nam từ gông xiềng độc tài để lấy lại tư do dân chủ và công bằng. 
Bốn mươi ba năm, CSVN đang hấp hối và lần đầu tiên, ngày Quốc Hận năm nay cho chúng ta thấy sự trở lại của Việt Nam Cộng Hòa không còn là một hy vọng, một giấc mơ mà là điều đang đến, sẽ đến và không còn có thể cản lại được nữa! 
Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! 
“In front of the Yellow flag, we believe!” 
Hãy cùng nhau hãnh diện mình là Công dân Việt Nam Cộng Hòa! 
01.05.2018