Thông
thường, ngày 30-4-1975 được giải thích là ngày sụp đổ của Việt Nam Cộng
Hòa, và là ngày “đại thắng mùa xuân” của cộng sản Bắc Việt. Ngoài hai
cách nhìn nầy, còn có một cách nhìn thứ ba mà ít người chú ý đến.
Trong
thập niên 60, khi viếng thăm Việt Nam Cộng Hòa, được hỏi làm thế nào để
chiến thắng cộng sản, Moshe Dayan, danh tướng độc nhãn Do Thái, đã trả
lời như sau: “Bắc Việt sẽ thất trận khi họ chiếm được Sài Gòn.”(1)
Lúc đó, giới báo chí và chính trị Sài Gòn đã bàn tán về câu nói của
Moshe Dayan(1915-1981), nhưng không ai dại gì giao trứng cho ác (quạ),
mà nghĩ đến một giải pháp quá rủi ro là để cho cộng sản chiếm được Sài
Gòn. Cuối cùng, khi cộng sản thật sự chiếm được Sài Gòn năm 1975, một
bên buồn quá, cũng như một bên vui quá, nên cả hai phía đều quên luôn ý
kiến của Moshe Dayan.
1.- AI THẮNG AI?
Trong
cuộc chiến tranh vừa qua, người cộng sản thường tự hào rằng chính họ đã
“đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Theo biểu kiến bên ngoài, “Mỹ
cút, ngụy nhào” thật đó, nhưng thực sự Mỹ không cút, mà phải nói cho
thật đúng ý nghĩa bối cảnh lịch sử là Mỹ ngưng không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì lý do thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và lực lượng Việt Nam Cộng Hòa không thất trận, chỉ ở thế bắt buộc phải ngưng súng, ngưng chiến đấu.
Việt Nam Cộng Hòa dư biết rằng trong thế tranh chấp giữa các cường
quốc, với sự thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ, nếu lực lượng Việt Nam Cộng
Hòa tiếp tục chiến đấu, chỉ làm tổn hại thêm xương máu của binh sĩ và
dân chúng, mà không tránh được sự áp đặt từ bên ngoài, trong khi Liên Xô
và Trung Cộng tung hết vũ khí cho Bắc Việt và Hoa Kỳ ngưng tiếp liệu
quân nhu và vũ khí cho Việt Nam Cộng Hòa.
Sau
khi thế chiến thứ nhì (1939-1945) kết thúc, thế giới bước vào chiến
tranh lạnh giữa hai khối tự do (tư bản) và cộng sản. Khi đắc cử tổng
thống Hoa Kỳ ngày 5-11-1952 thay ông H. Truman, đại tướng D. Eisenhower
tuyên bố rằng chiến tranh Ðông Dương không còn là chiến tranh thuộc địa
mà là “cuộc chiến giữa Cộng sản và thế giới Tự do.”(2) Từ đó, Hoa Kỳ viện trợ Ðông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng càng ngày càng nhiều để chống lại Việt Minh cộng sản.
Lúc
đó, Hoa Kỳ và các nước Tây phương nghĩ rằng các nước trong thế giới
cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc là một khối chính trị chặt chẻ, nên tìm
tất cả các cách để ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Vì vậy, sau
hiệp định Genève ngày 20-7-1954, Hoa Kỳ quyết định giúp miền nam Việt
Nam để chận đứng làn sóng cộng sản mà cụ thể hơn là sự bành trướng của
Trung Quốc.
Những
diễn tiến chính trị trong khối cộng sản sau khi Stalin từ trần ngày
5-3-1953, và nhất là khi Khrushchew lên cầm quyền, rồi đưa ra chủ trương
sống chung hòa bình giữa các nước không cùng một thể chế chính trị, hòa
dịu với các nước Tây phương năm 1956, thì bắt đầu sự rạn nứt giữa Liên
Xô và Trung Quốc. Lúc đầu mới chỉ lời qua tiếng lại giữa hai đảng Cộng
Sản anh em, sau đó giữa hai nhà nước cộng sản, và cuối cùng thực sự đánh
nhau dọc biên giới đông bắc Trung Quốc, trên sông Ussuri (Ô Tô Lý
giang) năm 1969.
Dựa
trên những dữ kiện thực tế đó, các chính trị gia Hoa Kỳ nhận thấy rằng
các nước cộng sản không phải là một khối chặt chẽ, mà họ là những thực
thể riêng biệt, với những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng. Hoa
Kỳ không bỏ lỡ cơ hội kiếm cách khai thác mâu thuẫn giữa các nước cộng
sản, đúng ra là giữa Liên Xô và Trung Quốc để làm thế nào ly gián họ, và
tránh cho họ xích lại gần nhau như trước. Vì vậy, người Hoa Kỳ bắt đầu
xét duyệt lại chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ
Trong
khi đó, nếu Hoa Kỳ càng giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại Bắc Việt cộng
sản, thì Liên Xô và Trung Quốc ở thế cùng liên kết để giúp Bắc Việt
chống lại Hoa Kỳ, tức Hoa Kỳ tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho Liên Xô
và Trung Quốc tạm gác những mâu thuẫn song phương, để cùng nhau cứu
giúp một nước cộng sản khác nhắm tạo uy tín và hấp lực với các nước
khác, nhất là các nước trong khối không liên kết. Nói cách khác, làm như
thế, chẳng khác gì Hoa Kỳ tạo cơ hội cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc
xích lại với nhau. Trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics),
vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, người Hoa Kỳ còn ngộ ra rằng “Bắc
Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các
thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiển nguyên tử, Liên Xô có
thể làm được việc đó. Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít
vũ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính
trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ.”(3)
Chẳng những thế, các chính trị gia Hoa Kỳ lúc đó còn đi xa hơn, cho rằng “hy
sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh
mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt Nam với chẳng có hy
vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa
của Trung Hoa nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô.”(4)
Chúng ta hãy nghe một nhà ngoại giao kỳ cựu Hoa Kỳ, ông Bill Sullivan,
nguyên là đại sứ Hoa Kỳ tại Lào, lúc đó là thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ
đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương, sau đó phụ tá và sát cánh với Henri
Kissinger trong các cuộc thương thuyết tại hội nghị Paris chấm dứt
chiến tranh Việt Nam, trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Như
thế, tôi đi đến kết luận, và điều nầy ông nghe có vẻ tráo trở, rằng
không thắng cuộc chiến nầy thì chúng ta sẽ khá hơn. Ðặc biệt nữa là
người Trung Hoa đã khai thông với chúng ta, và làm cho người Trung Hoa
tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn
quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam.”(5)
Ngày
14-4-1971, tại Ðại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh, thủ tướng Trung Quốc
là Chu Ân Lai tiếp đãi và nói chuyện thân mật với đoàn bóng bàn Hoa Kỳ
sang đấu giao hữu với đoàn bóng bàn Trung Quốc theo lời mời của Tổng cục
Bóng bàn nước nầy. Ngày 9-7-1971, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ là
Henri Kissinger có mặt ở Bắc Kinh và được Chu Ân Lai tiếp kiến. Ngày
25-10-1971, Ðại hội đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp nhận
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay cho
Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) mà không bị Hoa Kỳ phủ quyết, nghĩa là Hoa
Kỳ cũng bỏ rơi Ðài Loan, đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ, để bắt tay với
Trung Quốc. Sau đó, tổng thống Hoa kỳ Richard Nixon viếng thăm Trung
Quốc một tuần bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà ông Nixon cho rằng đây là “một tuần lẽ sẽ làm thay đổi thế giới.”(6)
Cuộc viếng thăm nầy đưa đến “Thông cáo chung Thượng Hải” ngày 28-2 theo
đó hai bên đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ một điều
là cùng nhau tôn trọng sự khác biệt giữa hai bên và hứa sẽ kiếm cách
cải thiện bang giao song phương.
Ðúng
như ông Nixon loan báo, cuộc viếng thăm đã đưa đến việc thay đổi thế
giới, bắt đầu từ việc Hoa Kỳ sắp đặt lại chiến lược toàn cầu và Á Châu,
từ đó rút quân dần dần ra khỏi Việt Nam. Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam
theo đúng chiến lược của họ, bởi vì người Mỹ tin rằng “thua trận ở Việt Nam lành mạnh hơn cho Hoa Kỳ hơn là thắng
trận. Rằng thua trận nằm trong quyền lợi quốc gia. Rằng đó là lợi thế…
Ðó là quan niệm cấp tiến triệt để vào thời đó, rằng thua trận và phó mặc
các đồng minh Ðông nam Á của chúng ta cho số phận của họ, như thế mới
đúng là cách làm của chúng ta.“(7)
Như
thế, xét cho cùng, Hoa Kỳ chẳng thua trận, mà Hoa Kỳ chỉ bỏ cuộc ở Việt
Nam để thực hiện việc thay đổi chiến lược toàn cầu quan trọng hơn đối
với họ trong cuộc tranh chấp với Liên Xô. Trong khi tự cho rằng “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”,(8)
thì chính Bắc Việt đã tiếp tay với người Mỹ để thực hiện kế sách của
Hoa Kỳ. Từ đó, Hoa Kỳ đã thành công trong việc làm sụp đổ khối Liên Xô
và Ðông Âu. Như thế, có thể nói người Hoa Kỳ đã chịu thua mặt trận
(battle) Việt Nam, để đại thắng cuộc chiến tranh (war) toàn cầu, và hiện
nay trở thành cường quốc số 1 trên thế giới.(9)
Ði
vào thế chiến lược mới của Hoa Kỳ, về phía Việt Nam Cộng Hòa, dầu bị
Hoa Kỳ bỏ rơi, ngưng viện trợ, và trước sức mạnh của Bắc Việt được Liên
Xô và Trung Cộng giúp đỡ tận “cây kim sợi chỉ”, các chiến sĩ Việt Nam
Cộng Hòa vẫn tiếp tục chiến đấu anh dũng trong 2 năm sau hiệp định
Paris, chứ không để cho đất nước sụp đổ ngay. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng
Hòa không thua bộ đội cộng sản Bắc Việt, mà chỉ buông vũ khí, ngưng
chiến đấu vì nhận thấy rằng trong thế chiến lược mới, các cường quốc
trên thế giới quyết tâm áp đặt một giải pháp chính trị, mà mình cô thế
khó cưỡng chống lại được, tiếp tục chiến đấu chỉ làm tổn hại thêm nhiếu
nhân mạng vô tội, nên cuối cùng lực lượng Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận
ngưng chiến đấu chứ không phải họ thua cuộc.
Trước
khi ký hiệp định Paris năm 1973, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã hứa hẹn,
mà không ghi thành văn bản, là sẽ viện trợ Việt Nam 4 tỹ Mỹ kim để Việt
Nam tái thiết đất nước sau chiến tranh. Tuy nhiên, Bắc Việt cưỡng chiếm
Nam Việt bằng võ lực, đi ngược lại với tinh thần hiệp định Paris ký kết
giữa các bên lâm chiến, và đã được nhiều nước công nhận. Dựa vào việc
Bắc Việt không tôn trọng hiệp định Paris, Hoa Kỳ bác khước lời hứa trước
kia. Hơn nữa, khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa sau hiệp định Paris,
Bắc Việt cưỡng chiếm luôn số tài sản khổng lồ ước tính khoảng 6 tỷ Mỹ
kim mà Hoa Kỳ đã để lại Việt Nam. Số tài sản nầy còn cao hơn lời hứa hẹn
của Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho Việt Nam 4 tỷ Mỹ kim trước đây. Vì cả hai lý
do nầy, cho đến nay, cộng sản Việt Nam không thể mở miệng nhắc lại
chuyện Hoa Kỳ hứa hẹn viện trợ để tái thiết Việt Nam sau 30 chiến tranh
mà Hoa Kỳ đã can dự vào. Thua cuộc cờ toàn cầu, Bắc Việt lại thất bại
luôn trong cuộc đấu trí để đòi viện trợ của Hoa Kỳ sau chiến tranh.
2.- THỰC TẾ SAU 30-4
Quan
sát kỹ sinh hoạt xã hội Việt Nam sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm được
miền Nam năm 1975, mọi người đều nhận thấy rõ ràng ngay từ đầu, đại đa
số những người Bắc, từ cán bộ, bộ đội đến thường dân, khi vào Nam đều
học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo
người Bắc, trừ một thiểu số xu phụ theo chế độ mới, kè kè chiếc nón cối
để tỏ ra là người “cách mạng”. Người Bắc thích ăn bận theo người Nam,
đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà cộng sản gọi là “nhạc
vàng”, đọc sách Nam, từ tiểu thuyết trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến
văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam. Ngay
cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng Lao Ðộng (năm 1976 cải
danh thành đảng Cộng Sản) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận
Âu phục theo kiểu người Nam. Chẳng những thế, hầu như miền Bắc cũng
được Nam hóa bằng sản phẩm của miền Nam. Lúc đó, đại đa số người nào ở
miền Bắc vào cũng “tranh thủ” cho được tối thiểu ba thứ “đạp đồng đài”(10)
để đem về Bắc sử dụng hoặc trang bị cho gia đình. (Rất ít người như bà
Dương Thu Hương chỉ lo đi mua sách miền Nam. Theo lời Dương Thu Hương,
khi bà vào Sài Gòn thì bà tìm đến các chợ sách để mua sách cũ và bà ta
bị choáng ngợp vì sách vở văn chương triết học ở miền Nam quá phong phú
chứ không nghèo nàn và bị kềm kẹp như cộng sản tuyên truyền.)
Trong
lịch sử thế giới, ai cũng biết người Mông Cổ nổi tiếng thiện chiến và
chiếm được một đế quốc rộng lớn từ thời Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan,
trị vì 1206-1227). Cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt
(Qubilai) tức Nguyên Thế Tổ (trị vì 1260-1294) đem quân Mông Cổ vào
chiếm Bắc Kinh năm 1264, rồi từ đó chiếm luôn toàn bộ nước Trung Hoa.
Khi người Mông Cổ tiếp xúc và tiêm nhiễm nền văn minh và văn hóa Trung
Hoa, thì dường như họ không còn làø người Mông Cổ nữa. Có thể nói vó
ngựa chiến chinh Mông Cổ oai hùng khắp Âu Á một thời đã hoàn toàn bặt
tăm khi họ đặt chân vào đất trung nguyên Trung Hoa.
Cộng
sản Bắc Việt, dầu chẳng oai hùng như người Mông Cổ, tiến quân vào miền
Nam, chiếm đóng bằng bạo lực, nhưng cuối cùng bị choáng ngợp vì sự phồn
thịnh của miền Nam (mà họ gọi là phồn vinh giả tạo) và nền văn hóa đa
dạng của miền Nam, một nền văn hóa vừa giữ bản sắc dân tộc, vừa hòa hợp
với tinh hoa của văn hóa Tây phương. Từ đó, người cộng sản Bắc Việt
không còn là họ nữa, chỉ trừ có vỏ bọc là đảng Cộng Sản để nắm độc quyền
lãnh đạo đất nước.
Chẳng
những chỉ có Bắc Việt được Nam hóa mà cả khối Quốc tế Cộng sản cũng
biến chuyển theo. Ngay sau khi cộng sản chiếm Ðà Nẵng, trước khi Sài Gòn
sụp đổ, tại bán đảo Sơn Trà diễn ra một cuộc gặp gỡ vào đầu tháng
4-1975 giữa đại biểu của một số nước cộng sản, để quan sát đài truyền
tin phát sóng của quân đội Hoa Kỳ đặt tại núi nầy. Sau khi nghe thuyết
trình viên cộng sản Việt Nam trình bày về công suất lớn lao của đài phát
sóng Hoa Kỳ đặt tại đây, đại diện Liên Xô làm thinh, đại diện Trung
Cộng cười mỉa và chúc mừng Việt Nam, đại diện của Ba Lan rất thích thú.
Trởû về lại Ðà Nẵng, đại diện Ba Lan xin Uỷ ban Quân quản, do Hồ Nghinh
làm chủ tịch, được dùng điện đài Ðà Nẵng để liên lạc với Tòa Ðại sứ Ba
Lan ở Hà Nội. Ðại khái nội dung liên lạc là yêu cầu Tòa Ðại sứ Ba Lan
điện về nước xin chính phủ Ba Lan tạm ngưng các chương trình đặt mua máy
truyền tin của Liên Xô, đợi phái đoàn quan sát về nước. Lý do chính của
thái độ các đại diện các nước cộng sản, kể cả việc đại diện Trung Cộng
cười mỉa, là vì trước đó không lâu, vào cuối 1974, đầu 1975, tại Hà Nội,
vừa mới khánh thành một trạm thông tin liên lạc do Liên Xô viện trợ cho
Hà Nội mà Liên Xô khoe rằng đó là máy tối tân nhất thế giới lúc bấy
giờ, với công suất chỉ bằng một phần hai mươi (1/ 20) công suất của trạm truyền tin của quân đội Hoa Kỳ đặt tại Sơn Trà, Ðà Nẵng.(11)
Câu
chuyện trên giải thích thắc mắc của nhiều người lý do vì sao khi rút
lui khỏi miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, nhân viên Hoa Kỳ được lệnh để
lại toàn bộ kho lẫm, máy móc, dụng cụ, vật liệu, trang thiết bị của tất
cả các cơ sở Hoa Kỳ tại Việt Nam mà không phá hủy gì cả, từ đài phát
thanh địa phương, đến tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, và cả Trung tâm
Nguyên tử lực tại Ðà Lạt. Lúc đó, người ta cho rằng người Hoa Kỳ lo bỏ
chạy nên không kịp phá hủy, nhưng ngay lúc đó cũng có dư luận cho biết
rằng một nhân viên Hoa Kỳ tại Huế, trước khi rút lui, đã tháo một chốt
chính làm tê liệt đài phát thanh Huế đặt tại Phú Bài (Thừa Thiên) khi
chạy vào Ðà Nẵng, liền bị tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại đây khiển trách.
Cũng
có dư luận cho rằng Hoa Kỳ cố tình để lại vật liệu và trang thiết bị
cho cộng sản Việt Nam sử dụng, tạo thành nhu cầu mới cho cộng sản, đến
khi hư hao hay cạn hết, thì phải tìm mua lại nơi các nước tư bản. (Ví dụ
người ta nói rằng ở miền Tây có một kho phân bón khổng lồ. Bắc Việt lấy
được, chở ra Bắc sử dụng. Ðến khi phân bón hết, ruộng đã lỡ dùng phân
bón, nay không dùng không được, đành phải đi kiếm mua ở các nước tự do
khác.)
Sau
năm 1975, nhiều phái đoàn của các nước Liên Xô và Ðông Âu đến thăm Việt
Nam đều được xem cuộc “triển lãm nguội” của hàng hóa Hoa Kỳ và các nước
phương Tây, cũng như tham khảo báo chí, sách vở khoa học kỹ thuật Âu Mỹ
tại miền Nam.(12)
Như
thế có thể người Hoa Kỳ đã nghĩ đến kế hoạch Moshe Dayan, và không phải
chỉ nhắm vào cộng sản Bắc Việt, mà còn nhìn xa hơn, muốn “bày hàng
triển lãm” kỹ thuật tối tân với các nước trong khối Quốc tế Cộng sản, mà
từ lâu nay bị Liên Xô bưng bít che đậy. Phải chăng cuộc “triển lãm
nguội” nầy của Hoa Kỳ đã lôi cuốn được các nước cộng sản, góp phần làm
cho tình hình ở đây biến động mau lẹ, đưa đến sự sụp đổ của các nước
cộng sản Ðông Âu và Liên Xô vào các năm từ 1989 đến 1991?
3.- CỘNG SẢN BẮT ÐẦU THUA CUỘC
Trong
cuộc chiến năm 1975, phải bình tâm mà nhận xét rằng một trong những lý
do cộng sản Bắc Việt thành công là bộ máy tuyên truyền của cộng sản hoạt
động có kế hoạch và mạnh mẽ hữu hiệu hơn phía Việt Nam Cộng Hòa. Bộ máy
tuyên truyền nầy đã làm việc có tính toán liên tục từ năm 1945, khá
thành công ở trong nước cũng như trên thế giới. Năm 1956, ở ngoài Bắc
xảy ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Cuộc đàn áp trí thức và văn
nghệ sĩ của nhà cầm quyền Hà Nội diễn ra rõ ràng như thế, mà cộng sản
bưng bít và tuyên truyền ngược lại, khiến ở trong Nam, nhiều người không
tin là những chuyện đó có thật. “Chế độ miền Nam, tất nhiên là làm
rầm rộ lên nhân vụ án nầy để tuyên truyền mặt trái của chế độ miền Bắc.
Nhưng sau nầy, khi hỏi chuyện anh em miền Nam thì được biết là họ không
tin, họ tưởng là sự việc bị bịa đặt ra, chứ làm gì đảng có thể đối xử
với trí thức miền Bắc tàn tệ đến mức như thế.” (13)
So
với trình độ văn hóa của toàn dân, học giả Nguyễn Hiến Lê, tác giả của
khoảng trên 20 bộ sách nghiên cứu lớn nhỏ, phải được kể là một nhà thông
thái. Ông Nguyễn Hiến Lê đã can đảm thú nhận những suy nghĩ và tình cảm
của ông trước năm 1975: “Tôi vốn có cảm tình với Việt minh, với
cộng sản; ghét thực dân Pháp, Mĩ, nhất là từ 1965 khi Mĩ đổ quân ào ạt
vào miền Nam; tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mĩ. Tôi phục
tinh thần hi sinh, có kỉ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể
giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp.”(14)
Một người thông thái như ông Nguyễn Hiến Lê mà còn bị lầm lẫn về cộng
sản, huống gì là đại đa số dân chúng Việt Nam. Sau năm 1975, chạm mặt
với đời sống thực tế dưới chế độ cộng sản, ông Nguyễn Hiến Lê mới thấy
rõ mình đã lầm lẫn bấy lâu nay. Ông viết tiếp: “… muốn thấy chế độ đó ra sao thì phải sống dưới chế độ dăm năm. Ðó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng mà tôi [Nguyễn Hiến Lê] và có lẽ 90% người miền Nam rút được từ 1975 tới nay [1981]“.(14)
Bên cạnh đó, phải kể thêm một hiện tượng tâm lý khá lạ lùng:
trước năm 1975, không kể dân chúng ở ngoài chính quyền, ngay cả nhiều
công chức hoặc sĩ quan binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, tuy làm việc và lãnh
lương chính phủ quốc gia, đôi khi cũng chao đảo và không mấy tin tưởng ở
chính nghĩa Quốc gia của chế độ mình đang phục vụ. Tuy nhiên, sau khi
cộng sản vào chiếm miền Nam, thì tất cả mọi người miền Nam đều tiếc nhớ
một thời đã qua, hướng trở về chế độ Việt Nam Cộng Hòa và từ đó ý thức Quốc gia dân tộc trong họ trổi dậy mạnh mẽ hơn cả thời trước nữa.
Như vậy, chính từ sau đỉnh cao chiến thắng quân sự ngày 30-4-1975, thiết lập được chế độ độc tài dựa vào bạo lực công an trị, cộng sản Hà Nội lại bắt đầu thua cuộc,
mất hết nhân tâm, mất hết quần chúngï. Chẳng những cộng sản Hà Nội đã
thua cuộc ở trong nước, càng ngày cộng sản Hà Nội càng thua cuộc trên
thế giới. Các nước trên thế giới trước đây vốn có cảm tình với cộng sản
Việt Nam, nay hoảng hốt trước cảnh vượt biên ồ ạt của dân chúng Việt
Nam. Ðiều nầy khiến cho cả thế giới sực tỉnh. Không cần ai tuyên truyền,
cả thế giới đều thấy rõ nhà cầm quyền Hà Nội đã mất lòng dân đến độ
nào, dân chúng mới bất chấp gian nguy, dùng tính mạng đánh cuộc với số
phận, để tìm đường sống.
Những
tác giả Tây phương trước đây viết bài ủng hộ cộng sản, nay lại quay qua
đả kích cộng sản. Tiêu biểu cho những người nầy là sử gia Jean Louis
Margolin, giáo sư tại Université de Provence (Pháp), một trong các tác
giả viết bài trong sách Le livre noir du communisme [Sách đen về chủ nghĩa cộng sản], đã nói trong một cuộc phỏng vấn vào cuối năm 1999: “Thành
thật mà nói, vào những năm 60, tôi đã từng xuống đường biểu tình ủng hộ
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tôi đã từng reo mừng với những cuộc chiến
thắng tại Cam-bốt cũng như tại Việt Nam. Tôi từng nghe nói đến những vụ
tàn sát Tết Mậu Thân 68, nhưng tôi tin và nghĩ rằng đó chỉ là sự tuyên
truyền của Mỹ. Không phải chỉ một mình tôi, mà tôi tin rằng rất nhiều người cùng thời với tôi đã bị sai lầm vì những tuyên truyền sai lạc của cộng sản.”(15)
Có
lẽ cũng nên thêm ở đây lời sám hối của nữ tài tử Jane Fonda. Năm 1972,
bà Jane Fonda đến Bắc Việt chụp những tấm hình đăng khắp các báo trên
thế giới quảng cáo cho cộng sản Bắc Việt. Về Hoa Kỳ, bà tham gia phong
trào phản chiến để yêu cầu Hoa Kỳ rút quân. Năm 1988, chính Jane Fonda
đã hối hận khi trả lời phỏng vấn của ký giả Barbara Walters: “Tôi sẽ
còn hối tiếc đến lúc xuống mồ về những bức hình chụp tôi đứng cạnh mấy
khẩu súng bắn máy bay, trông như tôi đang nhắm bắn các máy bay Mỹ… Hành
động đó làm hại bao nhiêu chiến sĩ… Ðó là hành động kinh khủng nhất mà
tôi có thể phạm. Ðúng là không biết suy nghĩ.”(16)
Dù
luôn luôn tự hào là kẻ chiến thắng, nhưng cuối cùng cộng sản lại chạy
theo học hỏi tất cả những gì do “Mỹ ngụy” để lại, kể cả việc bắt buộc
phải tự từ bỏ chính sách kinh tế chỉ huy, chấp nhận nền
kinh tế tự do vốn thịnh hành ở miền Nam và tại các nước tự do trên thế
giới, mà họ gọi là kinh tế thị trường. Nay nền kinh tế thị trường không
phải chỉ được áp dụng ở miền Nam như trước năm 1975, mà cả trên miền
Bắc, nơi cộng sản đã bỏ công sức hơn 20 năm (1954-1975)
để xây dựng và củng cố xã hội chủ nghĩa. Cộng sản mà không còn chính
sách kinh tế chỉ huy thì chắc chắn không còn là cộng sản nữa. Trong khi
đó, nước Mỹ không bị hư hao một tấc đất; lại càng ngày càng mạnh; và
cộng sản Việt Nam phải trải thảm đỏ để đón lãnh tụ của Hoa Kỳ vào tháng
11-2000. Trong cuộc đón tiếp nầy, dầu nhà cầm quyền Hà Nội không thông
báo, dân chúng đã đứng ngoài trời nhiều giờ trong thời tiết lạnh lẽo của
mùa đông để chào mừng người khách quý Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam sau
1975. Còn về phía “ngụy”, người dân Việt Nam ngày nay, kể cả những người
ở ngoài Bắc đều hãnh diện nếu được gọi là “ngụy”. “Ngụy” không nhào mà “ngụy” đi vào lòng người,
người Nam cũng như người Bắc, và đang càng ngày càng hiển hiện khắp nơi
trong đời sống hằng ngày, to lớn và mạnh mẽ đến nổi nhà cầm quyền Hà
Nội nay lại sợ “diễn biến hòa bình”, còn hơn là thời chiến tranh súng
đạn.
4.- NHÌN VỀ TƯƠNG LAI
Lúc
mới cưỡng chiếm được miền Nam, cộng sản Hà Nội rất lo sợ phản ứng của
dân chúng, nên việc đầu tiên là bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của
chế độ Cộng Hòa còn lại trong nước đi “học tập cải tạo”, thực chất là tập trung, cô lập, bắt giam dài hạn không tuyên án
trên các vùng rừng thiêng nước độc, vì cộng sản lo sợ họ là những người
có khả năng tập họp, tổ chức, và lãnh đạo dân chúng chống cộng sản. Số
lượng sĩ quan và công chức bị bỏ tù tối thiểu là 1.000.000
người. Những người nầy bị tù tối thiểu là một năm (rất ít), có người
hai năm (nhiều), ba năm, có người lên đến 15 năm hoặc 20 năm. Nếu tính
trung bình một người bị tù 2 năm, và tối thiểu 1.000.000 người bị tù,
thì số thời gian mà người Việt nói chung bị cộng sản giam tù là 2 .000.000 năm.(17)Những
người nầy lại ở trong độ tuổi trung niên sung mãn để hoạt động, sản
xuất, và có trình độ văn hóa khá cao nếu so chung với trình độ của toàn
thể dân chúng Việt Nam.
Việc
bắt giam sĩ quan, công chức, cán bộ Việt Nam Cộng Hòa của cộng sản còn
có mục đích đe dọa gia đình những người có thân nhân bị tù, vì nếu họ
vọng động thì thân nhân của họ khó có cơ hội trở về đoàn tụ gia đình.
Dầu chính sách nầy rất thâm độc, nhưng lúc đầu, ngay sau năm 1975, vẫn
xảy ra những tổ chức bạo động chống nhà cầm quyền cộng sản, ví dụ vụ các
ông Nguyễn Nhuận, Ðặng Ngọc Quờn, nguyên là giáo sư Viện Ðại Học Huế,
vụ Ông Nguyễn Văn Bảy, nguyên giáo sư trường Kỹ Thuật Ðà Nẵng, vụ nhà
thờ Thánh Vinh Sơn ở Sài Gòn…Dĩ nhiên những cuộc bạo động nầy không thể
thành công, nhưng đã nhen nhóm ngọn lửa đấu tranh trong lòng dân chúng.
Dần dần, người ta ý thức rằng phương thức bạo động khó thành công, nên
quay qua phản ứng bất bạo động nhưng không kém phần cương quyết. Từ đây,
bắt đầu sự lên tiếng của những nhà trí thức như Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn
Ðan Quế, Nguyễn Ðình Huy, Hoàng Minh Chính, Phan Ðình Diệu, Hà Sĩ Phu,
Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh. Sự lên tiếng nầy liền được đáp ứng ở
trong cũng như ngoài nước. Tiếp đó, là những cuộc biểu tình bất bạo động
của dân chúng ở Thái Bình, Xuân Lộc (Ðồng Nai), Huế…
Một
sự thật lý thú là hiện nay ở trong nước, dân chúng không còn phân chia
Quốc gia hay cộng sản, mà tất cả đoàn kết thành một khối tranh đấu đòi
hỏi tự do dân chủ, đối kháng với nhà cầm quyền độc tài cộng sản. Khi
được nhà cầm quyền Hà Nội gởi đi lưu diễn ở Hoa Kỳ vào đầu tháng 3-2001,
nữ ca sĩ Phương Thanh đã tuyên bố: “Nói rằng Phương Thanh hát dở, hay không thích tiếng hát của Phương Thanh thì Phương Thanh xin tạ lỗi, nhưng nói rằng Phương Thanh là Việt Cộng thì tội nghiệp cho Phương Thanh lắm! “(18)
Ngay
cả những thành phần trước đây đã từng trung kiên với đảng Cộng Sản, nay
cũng đứng về phía dân chúng, đòi hỏi dẹp bỏ đảng Cộng Sản. Tiêu biểu
nhất là ý kiến của ông Vũ Ðình Huỳnh, một thời làm bí thư cho Hồ Chí
Minh, gần cuối đời đã tỉnh ngộ và đề nghị: “”Muốn cho dân tộc ta
không thua kém các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng, dân
ta không nghèo khổ mãi thì không thể thiếu một điều kiện tiên quyết: ấy
là phải gạt bỏ sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.”(19)
Sau đó, ông Nguyễn Văn Trấn (1914-1998), gia nhập đảng Cộng Sản miền
Nam ngay từ những ngày đầu mới thành lập, đã từng làm Phó bí thư Xứ uỷ
Nam Kỳ năm 30 tuổi (1944), tập kết ra Bắc năm 1954, dân biểu Quốc hội Hà
Nội trước năm 1975, cũng viết:” Tội ác của chế độ này [chế độ cộng sản Việt Nam], từ 40 năm nay, thật nói không hết.” (20)
Trong
khi đó, ở ngoài nước, nhờ sống rải rác khắp nơi trên thế giới, cộng
đồng người Việt hải ngoại tạo nên một địa bàn ngoại cứ rộng rãi bất khả
xâm phạm. Từ đó, cộng đồng người Việt hải ngoại là chỗ dựa tinh thần
vững chắc cho những thành phần yêu nước và ly khai với đảng Cộng Sản ở
trong nước; đồng thời là một ngoại lực hỗ trở người Việt ở trong nước về
mọi mặt, tạo niềm tin để họ tiếp tục cùng với cộng đồng ở hải ngoại
tranh đấu, đưa đất nước ra khỏi chế độ cộng sản phi nhân vong bản hiện
nay.
Trước
tình hình đó, để lấy lòng dân chúng lần nữa, ở trong nước, cộng sản
Việt Nam mở phong trào đổi mới từ năm 1985. Nói là đổi mới nhưng vẫn duy
trì độc quyền chính trị, lo sợ “diễn biến hòa bình”, định hướng kinh tế
xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do ngôn luận.
Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ
chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh. Cộng sản kiếm
cách đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam.
Ra
bên ngoài, nhà cầm quyền cộng sản kiếm cách ve vuốt Việt kiều. Chính
sách của cộng sản đối với Việt kiều có một điểm cần chú ý: khi dân chúng
không chịu nổi cuộc sống dưới chế độ cộng sản, phải bỏ nước ra đi, thì
nhà cầm quyền Hà Nội gọi họ là phản động, phản quốc.
Sau một thời gian ổn cư tại nước ngoài, người Việt hải ngoại chắt chiu
tiết kiệm, gởi tiền về nuôi thân nhân càng ngày càng nhiều. Vào đầu thập
niên 90, cộng sản liền đổi cách xưng hô, gọi những người vượt biên là “núm ruột ngàn dặm” của tổ quốc.
Những
người Việt Nam ra đi định cư tản mác khắp thế giới, đông nhất là tại
Hoa Kỳ. Dần dần, cộng đồng Việt Nam lớn mạnh và thành công trên đất
khách, nay là quê hương thứ hai của mình. Nhờ có điều kiện học hành,
nhiều tinh hoa Việt Nam đã đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng
chung của quê hương mới. Chế độ cộng sản liền kiếm cách lợi dụng,
kêu gọi “núm ruột ở xa” hãy bỏ qua quá khứ, nhìn về tương lai, đóng góp
xây dựng đất nước. Chính sách của cộng sản đối với người Việt ở hải
ngoại có thể tóm tắt trong các điểm sau đây:
· Bòn rút tiền bạc càng nhiều càng tốt.
· Chỉ sử dụng tay sai để kinh doanh, hoặc tuyên truyền đường lối chính sách nhà nước cộng sản.
·
Lợi dụng trí thức thuộc ngành khoa học kỹ thuật, mời về nước để giảng
dạy hoặc làm việc trong các ngành hoàn toàn chuyên môn về khoa học kỹ
thuật, như bác sĩ, kỹ sư…
·
Hoàn toàn không chấp nhận các phê bình hay góp ý thẳng thắn về chính
trị để xây dựng quê hướng, những đòi hỏi về nhân quyền, dân quyền, và
không chấp nhận những thành phần trí thức về khoa học nhân văn như triết
học, tư tưởng, văn chương, sử học, xã hội học, trừ những thành phần
tình nguyện làm tay sai tuyên truyền cho cộng sản để đổi lấy một số
quyền lợi và hư danh nhất thời.
Dầu
rất yêu nước, và rất khắc khoải về tiền đồ dân tộc, đại đa số người
Việt ở nước ngoài, nhất là những thành phần tinh hoa trong các ngành
thương mãi, khoa học kỹ thuật, văn chương giáo dục, chẳng ai chấp nhận hợp tác với chế độ cộng sản Hà Nội.
Hợp tác với nhà cầm quyền Hà Nội chỉ giúp kéo dài một chế độ vong bản,
phi nhân, từ đó gián tiếp kéo dài thêm niềm thống khổ triền miền của dân
tộc Việt.
Kinh
nghiệm Ðông Âu cho thấy khi dân chúng nhìn ra chân tướng phản dân hại
nước của chế độ cộng sản, đồng thời ý thức được tự do dân chủ, dân quyền
và nhân quyền, tự họ đứng lên lật đổ chế độ cộng sản để cứu nguy dân
tộc. Tuy đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang lợi thế nhờ cầm quyền bằng bạo
lực công an trị, nhưng thời điểm giải trừ chế độ nầy đang khởi động, và
chắc chắn sẽ lớn mạnh, nhất là một khi cộng đồng người Việt ở hải ngoại
càng ngày càng đông đảo, và khoa học kỹ thuật càng ngày càng phát
triển, nhà cầm quyền cộng sản không thể che đậy độc tài, nói láo một
chiều để đánh lừa như trước đây.
Tiến
trình dân chủ và dân quyền trên thế giới hiện nay là không thể đảo
ngược được; những nhà nước độc tài càng ngày càng bị lên án và cô lập.
Bằng chứng là khi Lê Khả Phiêu, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam viếng
thăm nước Pháp từ 21 đến 25-5-2000, chẳng có đài truyền hình nào ở
Paris đưa tin. Rải rác vài báo viết ít dòng ngắn ở trang trong và nhân
đó chỉ trích chế độ cộng sản Việt Nam, kể cả các báo trước đây ủng hộ
cộng sản Việt Nam như tờ Libération [Giải Phóng]. Ðặc biệt báo Nouvel Observateur
[Người Quan Sát Mới] số ngày 31-5 chạy bài của nhà báo nổi tiếng
Delfeil de Ton, với tựa đề “Một Pinochet này nữa”. Trong bài báo nầy có
đoạn viết: “Pinochet vừa thăm nước Pháp; không có ai đòi bắt giữ
hắn. Hắn mang tên Lê Khả Phiêu, cái tên rất khó đọc. Khác với Pinochet ở
Chili, tội ác thuộc về quá khứ, đã về hưu, Lê Khả Phiêu đang tại chức,
đang gây tội ác, tổ chức của ông ta từng gây nhiều vụ ám sát, giết
người, nhiều người chết trong biển cả khi trốn chạy chế độ độc ác của
ông ta. Ông ta không cho phép một chút quyền tự do tư tưởng và tự do báo
chí nào…”(21)
Do tất cả những lẽ trên, câu nói của Moshe Dayan đúng là một lời tiên tri về tương lai cuộc chiến vừa qua: “Bắc Việt sẽ thất trận khi họ chiếm được Sài Gòn.”
Chính vì chiếm được Sài Gòn năm 1975, nên ngay sau đó chẳng những cộng
sản Việt Nam, mà cả cộng sản thế giới cũng bắt đầu thất trận. Cho nên có
thể xem ngày 30-4 chỉ là ngày sụp đổ tạm thời của Việt Nam Cộng Hòa,
nhưng lại chính là khởi điểm đánh dấu sự sụp đổ vĩnh viễn của huyền thoại cộng sản Việt Nam trong lòng dân tộc Việt Nam.
Sự sụp đổ của huyền thoại cộng sản càng làm cho chính nghĩa Quốc gia
dân tộc xuyên suốt từ thời tổ tiên chúng ta lập quốc, bị chao đảo một
thời gian vì hỏa mù của lý thuyết Mác xít ngoại lai, nay lại sáng tỏ hơn
bao giờ cả. Tinh thần Quốc gia Dân tộc bất di dịch là chân lý ngàn đời
của dân chúng Việt không thể nào bị đánh bại. Chắc chắn trước tình hình
quốc nội cũng như quốc tế thuận lợi như trên,một ngày không xa, chính thể Quốc gia sẽ phục sinh, nhân dân Việt Nam sẽ được tự do, hạnh phúc và phú cường.
TRẦN GIA PHỤNG (Toronto)
CHÚ THÍCH:
1. Nguyễn Tiến Hưng and Jerrold L. Schester, The Palace File, Harper & Row, Publishers, New York, 1986, tr. 350. Nguyên văn: “North Vietnam will lose the war when it takes over Saigon.” [Sách The Palace File được các ông Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Ðàm chuyển dịch sang tiếng Việt dưới nhan đề Hồ sơ dinh Ðộc Lập,
vơi một số những thay đổi do Nguyễn Tiến Hưng; Chu Xuân Viện nhuận sắc,
Nxb. C & K Promotions, Inc., Los Angeles, không đề năm xuất bản.
Trong sách nầy, câu nói của Moshe Dayan được trích dẫn ở trang 594.]
2. Nguyễn Ðình Tuyến, Những biến cố lớn trong 30 năm chiến tranh tại Việt Nam 1945-1975, Houston, Texas, 1995, tr. 19.
3. Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn
trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334.
Sách nầy được chọn là sách hay nhất về bang giao quốc tế của Câu lạc bộ
Overseas Press, Hoa Kỳ.
4. Roger Warner, sđd. tr. 336. Nguyên văn: “that
it might be worthwhile to sacrifice South Vietnam. Rather than squander
more American lives and billions of dollars trying to prop up South
Vietnam, with little chance of succeeding, why not accede to its failure
in exchange for an opening to China, in order to weaken the real
ennemy, the USSR?“.
5. Roger Warner, sđd. tr. 336. Nguyên văn: “So
I came to the conclusion, and this may sound thoroughly cynical to you,
that we would be better off not ro win this war. Particularly because
the Chinese had made a breakthrough to us, and it was far more important
to get the Chinese broken off from the Soviets and leaning to one side
in our favor than for us to win in Vietnam.” [Bill Sullivam là một
nhà ngoại giao kỳ cựu của Hoa Kỳ, đã từng làm đại sứ Hoa Kỳ tại Ai Lao,
thứ trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương, phụ tá và
sát cánh cho đến phút chót với Henri Kissinger trong các cuộc thương
thuyết tại hội nghị Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam.]
6. John S. Bowman, tổng biên tập, The Vietnam War, Day by Day [Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày], Mallard Press, New York, 1989, tr. 190.
7. Roger Warner, sđd. tr. 333. Nguyên văn: “that
losing the Vietnam War would be healthier for the U.S. than winning it.
That losing was in the national interest. That it was a plus… It was a
radical notion at the time, that by losing the war and by abandoning our
Southeast Asian allies to their fate we would be doing the right thing.”
8. Lời của Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng Việt Nam. (Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, hồi ký chính trị của một người không làm chính trị, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.)
9.
Một ví dụ rõ rệt nhất trong lịch sử Việt Nam, là vào năm 1801, nhà Tây
Sơn đem quân vây Quy Nhơn do Võ Tánh và Ngô Tùng Châu của lực lượng
Nguyễn Phúc Ánh trấn giữ. Theo kế hoạch của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh
chịu thua trận nầy, bỏ Quy Nhơn, tung quân ra đánh chiếm Phú Xuân, rồi
ra Bắc hà dẹp nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước.
10.
Ðạp đồng đài: tức xe đạp, đồng hồ, và radio transistor. (Lúc đó có
nhiều từ ngữ rất lạ lùng về việc nầy: ví dụ đồng hồ không người lái tức
đồng hồ tự động, đồng hồ có đèn tức đồng hồ dạ quang, đồng hồ có cửa sổ
tức đồng hồ có khung ngày.)
11.
Chuyện nầy do một cán bộ tên Phương, thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Hà
Nội, được gởi vào Nam để nghiên cứu kế hoạch văn hóa, kể tại nhà của nhà
văn Phan Du tại Ðà Nẵng vào thời điểm trên, người viết có mặt trong
buổi nói chuyện nầy.
12.
Một câu chuyện mà người viết nghe kể tại Sài Gòn trước năm 1980: Khi
thủ tướng Cộng Hòa Dân Chủ Ðức (Ðông Ðức), ông Erich Honecker
(1912-1994), qua thăm Việt Nam, ghé Sài Gòn, lúc đó đã có tên là Thành
phố Hồ Chí Minh. Honecker đề nghị thuê các trí thức Sài Gòn sang làm
việc tại Ðông Ðức, trả bằng ngoại tệ qua nhà cầm quyền cộng sản. Chủ
tịch Uỷ Ban Nhân Dân TPHCM lúc đó là Võ Văn Kiệt đồng ý ngay vì nhà nước
cộng sản rất cần ngoại tệ. Theo nhu cầu về chuyên viên của chính phủ
Ðông Ðức, ông Võ Văn Kiệt lên danh sách các chuyên viên đã tốt nghiệp
các trường đại học Ðông Âu, Liên Xô và Trung Cộng, nhưng Honecker lắc
đầu từ chối, và tự mình đưa ra một danh sách nêu đích danh tên tuổi
những chuyên viên khoa học kỹ thuật miền Nam đã tốt nghiệp tại miền Nam,
cũng như ở Âu Mỹø còn ở lại miền Nam.
13. Nguyễn Minh Cần, Công lý đòi hỏi, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tt. 76-77.
14. Nguyễn Hiến Lê, Hồi kí tập III, Nxb. Văn Nghệ, California, 1988, tt. 17-18, 25.
15. Cuộc phỏng vấn do Thanh Thảo thực hiện, nguyệt san Việt Nam Dân Chủ,
số 40, California, tháng 1-2000. (tài liệu rút từ Internet,
http//www.Imvntd.org/vndc0100/bai06.htm). Những chữ in đậm do người viết
bài nầy muốn nhấn mạnh.
16. * Ngô Nhân Dụng, “Jane Fonda hối tiếc”, http://www.nguoi-viet.com/spcl/0622/binhluan.htm * Xin xem thêm về Jane Fonda: http://www.rjgeib.com/thoughts/fonda/fonda.html
17.
Số người Việt Nam Cộng Hòa bị tù sau năm 1975 chưa từng được cộng sản
tiết lộ. Sau khi thăm dò nhiều người bị tù ở nhiều trại học tập tại các
tỉnh khác nhau, người viết chỉ đưa ra con số ước chừng mà thôi. Nhiều
người cho biết con số thật sự bị tù nhiều hơn, phải trên 1.000.000
người, vì chẳng những quân nhân, công chức, mà cán bộ xã ấp ở nông thôn,
và cả phụ nữ nữa, cũng bị đi tù nhiều năm
18. Việt Mercury, San Jose, California, 9-3-2001, http://www.vietmercury.com/2001/week10/News/Story01.html)
(Nữ ca sĩ Phương Thanh, trả lời phỏng vấn của thông tín viên Ðức Hà)
19. Vũ Thư Hiên, sđd.
tr. 303. Lời nói trên là của ông Vũ Ðình Huỳnh nói với con là nhà văn
Vũ Thư Hiên năm 1986. Ông Vũ Ðình Huỳnh gia nhập đảng CS năm 1930, từng
chứa chấp, nuôi ăn trong nhà tại Hà Nội những cán bộ cộng sản, kể cả ông
Hồ Chí Minh. Ông Vũ Ðình Huỳnh còn là bí thư của ông Hồ, Vụ trưởng Vụ
lễ tân Bộ ngoại giao cộng sản cho đến khi hưu trí năm 1964.
20. Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995, tr. 345.
21. Thành Tín, “Pháp du phiêu lưu ký”, Thông Luận.