Sunday, October 25, 2026

VAI TRÒ CỦA TƯỚNG MAI HỮU XUÂN TRONG BIẾN CỐ 1/11/1963


 Trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 nhằm lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, Thiếu tướng Mai Hữu Xuân giữ vai trò là một trong những thành viên chủ chốt của nhóm tướng lĩnh lãnh đạo, đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng sau:

• Án ngữ và kiểm soát lực lượng: Ông chỉ huy lực lượng từ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung để án ngữ tuyến đường từ miền Tây đi vào thủ đô Sài Gòn.
• Trực tiếp đi đón Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu: Sau khi anh em Tổng thống Diệm trốn thoát và ẩn náu tại Nhà thờ Cha Tam (Chợ Lớn), tướng Mai Hữu Xuân trực tiếp chỉ huy đoàn xe thiết vận xa (M113) đến đón hai ông.
• Liên quan đến cái chết của anh em ông Diệm: Khi Tổng thống Diệm yêu cầu đưa về dinh Gia Long hoặc Bộ Tổng tham mưu thay vì đi xe bọc thép như tù binh, tướng Mai Hữu Xuân đã từ chối và giục họ lên xe. Sau đó, hai ông đã bị sát hại trên đường di chuyển trong xe thiết vận xa dưới quyền chỉ huy/thi hành của nhóm cận vệ và sĩ quan đi theo (như Nguyễn Văn Nhung, Dương Hiếu Nghĩa).
• Thăng cấp sau đảo chính: Nhờ tham gia tích cực vào cuộc lật đổ này, ông tiếp tục giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền sau đó (như Đô trưởng Sài Gòn kiêm Tổng Giám đốc Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa)
---------------
Trung tướng Mai Hữu Xuân là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong lịch sử Việt Nam Cộng hòa, nổi tiếng với xuất thân từ ngành mật thám Pháp, vai trò chủ chốt trong cuộc đảo chính năm 1963 và cái chết của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu.
Sự thật và các nghi vấn xoay quanh cuộc đời ông
• Xuất thân mật thám: Ông bắt đầu sự nghiệp vào năm 1940 trong ngành mật thám Pháp tại Đông Dương và dần thăng tiến qua các vị trí an ninh, cảnh sát.
• Vụ ám sát Trình Minh Thế (1955): Nhiều tài liệu và nhân chứng lịch sử cáo buộc Mai Hữu Xuân là người đứng sau hoặc trực tiếp liên quan đến cái chết của tướng Trình Minh Thế tại cầu Tân Thuận năm 1955.
• Cái chết của anh em Ngô Đình Diệm (1963): Trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, với tư cách là người trực tiếp áp giải anh em Diệm - Nhu từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng tham mưu (hoặc qua Tổng Nha Cảnh sát), chính ông là người đã gọi điện hỏi Dương Văn Minh câu lệnh xử lý và liên đới trực tiếp đến cái chết của hai ông.
• Bí mật chưa được giải đáp trước khi qua đời:
• Trước năm 1975, ông từng bị cuốn vào nhiều mâu thuẫn chính trị và các cáo buộc “hòa hoãn với Cộng sản” dẫn đến việc bị buộc giải ngũ năm 1965.
• Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và định cư tại California.
• Trong những năm cuối đời, dù có nhiều nhà nghiên cứu và sử gia (như Hoàng Ngọc Thành, Thân Thị Nhân Đức) tìm cách liên lạc để phỏng vấn ông nhằm làm sáng tỏ các "bí mật" lịch sử (đặc biệt là vụ đảo chính 1963 và cái chết của anh em Ngô Đình Diệm), Mai Hữu Xuân luôn từ chối trả lời, cúp điện thoại hoặc giữ im lặng tuyệt đối cho đến khi qua đời vì bệnh tim tại California.
• Ngày tháng năm sinh chính xác và ngày mất cụ thể của ông không được công bố rộng rãi hay ghi nhận rõ ràng trong các hồ sơ công khai
---------------------
Tr.Tướng Mai Hữu Xuân
Mai Hữu Xuân (1917), nguyên là một tướng lĩnh gốc Cảnh sát-Công an của Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ ngành Mật thám của Chính quyền thuộc địa Pháp, sau được đồng hóa trong ngành Cảnh sát-Công an của Chính phủ Quốc gia Việt Nam và là người đứng đầu lĩnh vực này trong nhiều năm. Là sĩ quan cảnh sát duy nhất được thăng cấp tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng hòa. Ông cũng là một trong những thành viên chủ chốt trong cuộc Đảo chính Nam Việt Nam năm 1963 và liên quan đến cái chết nhiều nghi vấn của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.
Thân thế và sự nghiệp xuan
Ông sinh năm 1917 tại miền Trung Việt Nam. Năm 1937, tốt nghiệp bậc Trung học chương trình Pháp tại Sài Gòn với văn bằng Thành Chung. Sau đó được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch, ông làm Trưởng ga xe điện Xóm Gà.
Phục vụ Sở Liêm phóng Pháp
Năm 1940, ông bắt đầu sự nghiệp của mình ở ngành mật thám và được tuyển chọn làm mật báo viên thuộc Sở Liêm phóng Liên bang của Pháp ở Đông Dương. Chẳng bao lâu, Giám đốc mật thám Nam Kỳ để ý đến ông vì tinh thần mẫn cán và kết quả công việc. Ông được đặc cách công nhận là Gardien de Paix (Chánh Thanh tra), một phẩm trật thường chỉ dành cho người Pháp hoặc mang quốc tịch Pháp. Năm 1944, ông được theo học khóa 1 Huấn luyện viên Thể dục-Thể thao tại Phan Thiết.
Từ khi Pháp xâm lược trở lại Việt Nam (tháng 9 năm 1945), đường công danh của ông càng mở rộng. Lúc đầu giữ chức vụ Chef Brigade cùng thời điểm với Trần Bá Thành và Michel Mỹ, ông nhảy vọt lên vị trí thứ ba trong đẳng cấp ngành Mật thám Đông Dương, chỉ đứng sau Perrier, Giám đốc Liên bang và Bazin, Giám đốc Nam Việt. Ông phụ trách bộ phận Cảnh sát Đặc biệt miền Đông.

Quốc gia Việt Nam
Từ năm 1948 đến năm 1950, dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam, ông làm trợ lý cho tướng Nguyễn Văn Hinh trong ngành An ninh Quân đội phục vụ tại Ty An ninh Quân đội Cần Thơ với hàm Trung tá giả định ngạch trừ bị. Tháng 3 năm 1950, ông được cử làm Phụ tá Giám đốc Công an Nam phần. Ba tháng sau, ông được thay thế ông Nguyễn Văn Đây ở chức vụ Giám đốc.
Thánh 11 năm 1951, ông được cất nhắc lên làm Tổng Kiểm tra (tức Tổng Giám đốc Cảnh sát-Công an Nam phần). Nhưng sau đó, Lại Văn Sang người Bình Xuyên được cử thay thế ông. Lại Văn Sang cử em là Lại Hữu Tài làm Giám đốc Cảnh sát Sài Gòn-Chợ Lớn, thải hồi hết các nhân viên cảnh sát thuộc cấp của ông và thành lập Công an Xung phong.
Ngày 1 tháng 8 năm 1953, ông được đồng hóa sang Quân đội Quốc gia và được thăng cấp Đại tá giữ chức vụ Giám đốc Nha An Ninh Quân đội thay thế Đại tá Trần Văn Đôn được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân trong Bộ Tổng Tham mưu.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa
Đầu năm 1955, ông được Thủ tướng Ngô Đình Diệm thăng cấp Thiếu tướng và được cử đi công du Do Thái để nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển các khu vực định cư người Do Thái ở Trung Đông. Trở về nước, ông được cử làm Chỉ huy trưởng Khu chiến Miền Đông. Cuối tháng 7 năm 1956, ông được kiêm chức vụ Chỉ huy trưởng Chiến dịch Trương Tấn Bửu bình định Miền Đông đặt bản doanh tại Biên Hòa.
Đầu tháng 1 năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Đại tá Đỗ Mậu thay thế ông vào chức vụ Giám đốc Nha An ninh Quân đội và giao cho ông nhiệm vụ không quan trọng làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện số 1 thay thế Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ.

Ngày 1 tháng 11 năm 1953, trong cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Diệm, ông đã chỉ huy những khóa sinh đang được huấn luyện tấn công vào Tổng Nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát Đặc biệt. Sau đó ông đã cùng với Đại tá Nguyễn Văn Quan và Đại tá Dương Ngọc Lắm trong nhóm bắt giữ anh em Tổng thống Diệm và Cố vấn Nhu sau khi họ bị phát hiện trốn ở một Nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn. Khi anh em ông Diệm và Nhu được chở về sở chỉ huy ở Bộ Tổng Tham mưu, họ đã bị giết chết, dẫn đến một tranh cãi ai là người đã ra lệnh hạ sát anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Sau vụ đảo chính, ông là một thành viên của Ủy ban Quân sự Quản lý Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (còn gọi là Hội đồng Quân nhân Cách mạng). Ngày 2 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tướng và được bổ nhiệm giữ chức vụ Đô trưởng Sài Gòn kiêm Tổng Giám đốc Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia thay thế Đại tá Nguyễn văn Y, sau khi bàn giao Trung tâm Huấn luyện Quang Trung lại cho Đại tá Đặng Thanh Liêm.
Ngày 30 tháng 1 năm 1964, Ủy ban quân sự bị tướng Nguyễn Khánh cầm đầu một nhóm tướng lãnh thực hiện cuộc Chỉnh lý lật đổ, ông bị bắt cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính và Nguyễn Văn Vỹ, bị cáo buộc âm mưu hòa hoãn với những người Cộng sản và chuyến Nam Việt Nam thành một Quốc gia Trung lập. Cả 5 bị đưa lên giam lỏng (quản thúc) ở Đà Lạt. Đầu tháng 11 cùng năm, ông được trả tự do. Trở lại quân đội, ông được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Tuy nhiên, đến tháng 3 năm 1965, ông bị buộc phải giải ngũ. Sau đó ông cùng các cựu Trung tướng Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim thành lập Công ty xuất nhập khẩu DOXUKI.
1975
Ngày 29 tháng 4, cùng với cựu Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Hoàng và Đại tá Nguyễn Hồng Đài di tản khỏi Việt Nam trên Chiến hạm Hải quân. Sau đó, ông được sang định cư tại Washington DC, Hoa Kỳ.
Ông từ trần tại một Thành phố phía Bắc Tiểu bang California vì bệnh tim (không rõ thời điểm ông mất).
——————————-
BÁCH KHOA TOÀN THƯ
---------------------
DIỄN BIẾN THẢM KỊCH ĐÁM PHẢN QUỐC SÁT HẠI
TỔNG THỐNG VNCH NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ ÔNG CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU
-Liên Thành –
(Trích trong cuốn Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc?)
Trong buổi họp báo của ông Conein, nhân viên CIA và là người đại diện cho ông Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân Đảo Chánh từ lúc cuộc đảo chánh khởi đầu cho đến lúc kết thúc, Conein nói với các ký giả và báo chí ngoại quốc rằng:
– Các tướng lãnh Việt Nam đã họp, và rồi biểu quyết xử sự với ông Diệm và Ông Nhu.
Và diễn tiến thảm kịch đã xảy ra như sau: Đoàn xe do tướng Mai Hữu Xuân trong đó có một chi đội thiết vận xa đến Nhà Thờ Cha Tam. Đại Tá Dương Ngọc Lắm Tổng Giám Đốc Bảo An và Dân Vệ vào nhà thờ đón Tổng Thống và ông Cố Vấn.
Hai ông được mời lên xe thiết vận xa, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bất bình và hỏi: – Cách thức các Tướng đi đón Tổng Thống là như thế nầy sao? Tổng Thống là Tổng Thống của nhân dân chứ đâu phải là tù binh. Tại sao các anh đưa xe bọc sắt đón Tổng Thống như thế nầy?
Tổng Thống nói với Đại Tá Dương Ngọc Lắm: – Ông đưa tôi và Cố Vấn Nhu về dinh Gia Long rồi đến Tổng Tham Mưu. Ông Lắm trình lại với tướng Mai Hữu Xuân, Tướng Xuân từ chối.
Tướng Mai Hữu Xuân giục Tổng Thống và ông Cố Vấn lên xe, một lần nữa ông Cố Vấn Nhu lại nói:
– Thiếu Tướng nên biết cho đến giờ phút nầy Tổng Thống vẫn còn là Tổng Thống, không có lý do gì lại đi đón Tổng Thống bằng xe bọc sắt như thế nầy.
Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân quay đi không nói một lời, tức thì Đại Úy Nhung và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa xông đến đẩy Tổng Thống lên xe M113. Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu trợn mắt cầm điếu thuốc đang hút dang dở ném vào mặt tên Nhung rồi la to:
– Không được vô lễ với Tổng Thống!
Tên Nhung rút súng chĩa vào ông Cố Vấn Nhu. Tổng Thống thấy thế liền mím môi quắt mắt. Thấy vậy Nhung cho súng vào bao và quay mặt tránh đi chỗ khác. Sau đó thì Dương Hiếu Nghĩa đẩy Tổng Thống lên xe, một lần nữa ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu la to:
– Không được vô lễ với Tổng Thống. Tổng Thống Diệm nắm vai ông Cố Vấn: – Thôi chú, mình đi. Sau khi đẩy hai ông lên xe, tên Nhung bẻ quặt hai tay của Tổng Thống về phía sau lưng và trói lại, Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu cũng bị bẻ tay ra sau và trói như vậy.
Đoàn xe khởi hành về Bộ Tổng Tham Mưu gồm có: Dẫn đầu là xe Quân Cảnh, kế đến là xe của Đại Úy Phan Hòa Hiệp, đoàn xe tăng M113 trong đó có Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, tên Nhung và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi trên mui của chiếc xe nầy, kế đến là xe của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, xe của Đại Tá Nguyễn Văn Quang và Đại Tá Dương Ngọc Lắm.
Khi đoàn xe đi ngang qua cổng xe lửa tại đường Hồng Thập Tự, chúng phải ngừng lại vì có xe lửa chạy qua. Đây là thời điểm mà bọn sát nhân ra tay. Tên Nhung và tên Dương Hiếu Nghĩa ngồi trên xe M113 nhìn về Tướng Mai Hữu Xuân thì thấy Mai Hữu Xuân đưa 2 ngón tay. Rồi thì Đại Úy Phan Hòa Hiệp nghe một tràn súng nổ, Đại Úy Hiệp biết ngay hai người ngồi trên xe M113 đã bắn Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu rồi.
Đoàn xe đi đón Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã về đến Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng Tổng Thống và Ông Cố Vấn đã chết, hai tay bị trói ra phía sau với nhiều vết đạn và vết dao đâm, còn tóc tai, mặt mũi, áo quần của hai vị thì đầy máu.
Tại Bộ Tổng Tham Mưu, tên Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên thiết vận xa M113 nhảy xuống tay cầm khẩu tiểu liên Thompson có buột băng vải trắng giơ cao lên trời. Còn Nhung thì tay cầm con dao găm hớn hở vung lên trời như khoe rằng vừa tạo được một chiến thắng lẫy lừng. Nhung bị giết để bịt đầu mối sau đó, còn Dương Hiếu Nghĩa không bị thanh trừng. Sau khi định cư tại Mỹ nhiều năm, y đã cạo đầu mặc áo cà sa với pháp danh là Không Như, ngụ tại một ngôi chùa thuộc thành phố Pomona, nam California.
Theo Tướng Trần Văn Đôn kể lại, khi Mai Hữu Xuân vừa mới đến và đứng trước cửa phòng của Tướng Dương Văn Minh, chưa vào hẳn trong phòng thì đã chào tay và nói với Tướng Dương Văn Minh với giọng đầy hãnh diện:
– “Mission accomplished!”
Nhưng chiến tích của Mai Hữu Xuân không được Dương Văn Minh chào đón như mong đợi, thay vào đó, Dương Văn Minh không nói một lời nào mà cứ liếc về một bên. Tướng Xuân đoán dường như có người nào đó trong phòng. Khi kịp thấy nhân vật thứ ba không ai khác chính là Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân xoay lưng bước ra ngoài.
Thời gian ngắn sau đó Tướng Khánh đảo chánh (chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau). Tướng Khánh ra lệnh bắt giữ tên “Thiếu Tá” Nhung. Nhung lúc này là Thiếu Tá, lên một lon nhờ vào việc giết được người quan trọng nhất của quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm!
TTDiemvaCVNhuẢnh thi thể của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu
bị trói nằm bên trong sàn xe thiết vận xa M113
Lời khai của Nhung như sau: “Tôi được lệnh của Trung Tướng Dương Văn Minh đi theo đoàn thiết giáp đón hai ông Diệm Nhu, sau khi được tin hai ông gọi điện thoại xin đầu hàng và nói rõ họ đang ở tại Nhà Thờ Cha Tam trong Chợ Lớn. Chỉ huy vụ này là Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, với sự tham dự của nhiều sĩ quan khác như Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa, Đại Tá Lắm, Đại Tá Quang v.v… Chúng tôi đến Nhà Thờ Cha Tam thì hai ông Diệm Nhu ngoan ngoãn lên xe M113. Sau khi đóng cửa xe, tôi và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi trên mui xe. Từ xa tôi thấy thủ lệnh của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, ông ta đưa 2 ngón tay lên, tôi hiểu đó là lệnh thanh toán cả hai. Tôi rút súng Colt bắn ông Diệm 5 phát và ông Nhu 5 phát. Sau đó hăng máu tôi bắn thêm 3 phát nữa vào ngực ông Nhu. Tiếp đó Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa dùng súng tiểu liên Thompson bắn thêm một băng vào người ông Diệm và ông Nhu”.
Sau cuộc thẩm vấn đó thì tên Nhung đã “tự tử” chết bằng một sợi dây giày?! Chuyện hết sức phi lý sao lại có việc tự tử “đột xuất” của một “anh hùng”, một kẻ là “ân nhân” của các tướng lãnh phản loạn và nhóm tăng lữ Ấn Quang vì đã giết được “một tên độc tài gia đình trị đàn áp Phật Giáo” như thế? Nguyễn Văn Nhung, anh hùng của những kẻ phản loạn, phải được vinh danh và phải được trả công bội hậu “lên” như diều gặp gió mới phải chứ. Cớ sao tự nhiên phút chốc “anh hùng” lại ra người thiên cổ và bị lịch sử luận tội là tên phản loạn giết mướn?
Tại sao sau một “cuộc cách mạng hiển hách” như vậy mà cho đến nay vẫn không một ai dám nhận mình là kẻ đã có công với quốc gia dân tộc vì đã trừ khử “một tên độc tài đàn áp Phật Giáo” như thế? Từ Dương Văn Minh, đến Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính, đến toàn bộ nhóm tướng lãnh phản loạn, đến cả chính quyền Kennedy đều chối tội như thế? Câu trả lời đã quá rõ! Vì chúng sợ ô danh với lịch sử do đã nhúng tay vào máu của một con người hiền lành đức độ, yêu nước còn hơn chính bản thân mình!
Có một số dư luận nói rằng Tướng Khánh giết Nhung để trả thù cho Cụ Diệm. Thực ra, đây hoàn toàn là hành động giết người bịt miệng, một nguyên tắc kinh điển trong bất cứ một âm mưu giết người nào. Nếu thực sự có ý định trả thù cho Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì Tướng Khánh phải bảo vệ mạng sống cho tên Nhung bằng mọi giá để tìm ra thủ phạm gốc. Thủ thuật của Tướng Khánh có lừa được công luận hay không? Tướng Khánh đã không thực thi công lý và công bằng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ngay cả cho cả tên giết người Nguyễn Văn Nhung, vì y chỉ là kẻ thừa hành mệnh lệnh mà thôi. Tướng Khánh mặc dù không trực tiếp tham gia trong vụ giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng phải chăng ông đã theo chỉ thị của “ai đó”, bằng mọi giá phải đóng sổ vụ giết Tổng Thống bằng cách giết tên Nhung để bịt đầu mối. Không đòi công lý cho Tổng Thống, đã vậy sau đó, tướng Khánh còn về hùa với Thích Trí Quang xử tử người em út của Tổng Thống là ông Ngô Đình Cẩn! Đây là một vết tích ô nhục cho tất cả những ai đã nhúng tay vào máu của ông Ngô Đình Cẩn. Do đó, vai trò của Tướng Nguyễn Khánh cần được lịch sử đánh giá lại, phải chăng ông là một trái đệm để xóa tang chứng của một âm mưu giết sạch gia đình người lãnh đạo quốc gia VNCH?
Công lý nào mà “Hội đồng tướng lãnh” đã dành cho vị nguyên thủ quốc gia và gia đình của ông?
Ngoài ra còn có một tài liệu khác ghi nhận cuộc thảm sát Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu như sau:
Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johnson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddamn bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy.
NHẬN DIỆN BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ
Các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương, và Đại Tá Đỗ Cao Trí.
Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi CIA muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, vốn là một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, vốn là một cộng tác viên của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về Tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: “Chúng tôi như thế này”.
Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác họa xong kế hoạch hành động, ngày 2.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.
Vai trò của Lucien Emile Conein
Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xã trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.
Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là “the indispensable man” (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn “Vietnam: A History,” sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là “một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được”. Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.
Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt” hay “Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp”.
Khi cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin Tổng Thống và ông Cố Vấn đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng”. Lucien Conein đã nói với các loạn tướng đảo chánh bằng tiếng Pháp: “On ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs.” (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)
Khi từ giã cõi đời ngày 3.6.1998 tại Virginia, Lucien Conei đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.
LỆNH HÀNH QUYẾT
Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy Administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.
Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.
Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Ngô Đình Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”, Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johnson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này…
HÀNH ĐỘNG ÁC ÔN CÔN ĐỒ
Khoảng 10 giờ ngày 2.11.1963, khi chiếc M113 chở xác Tổng Thống và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy thi thể Tổng Thống trong bộ complet màu xám sậm và thi thể ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu trong bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần của Tổng Thống ra xem Tổng Thống có “bộ phận đó” không!
Với các dấu vết trên hai thi thể như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.
Trong cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.
Sandy Lesberg không cho biết ký giả này đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.
Với cuốn “Les Guerres du Vietnam” (Chiến tranh Việt Nam) xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.
Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn “A Death in November” (Cái Chết vào Tháng Mười Một), nói rằng khi chiếc xe chở Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Tổng Thống.
Theo bà, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này. Ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở Tổng Thống Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.
Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô. Sau này y đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Cách Mạng, xét xử và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn, theo lệnh của Henry Cabot Lodge.
Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của ký giả Sandy Lesberg.
Theo bà ký giả này, có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có khả năng theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho bà ký giả nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Cũng theo bà thì rất tiếc khi xuất bản cuốn “Việt Nam: Một Trời Tâm Sự”, Tướng Nguyễn Chánh Thi đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Trong cuốn sách này, Tướng Mai Hữu Xuân được đổi tên thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tướng Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:
Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bỗng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu Tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.
Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.
Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Thi thể Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả Tổng Thống Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Thi thể Tổng Thống có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Thi thể ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.
Vậy Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập, và đâm lúc nào?
Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiếc M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẻ hợp lý hơn cả. Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đoàn này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long và một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.
Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung, và Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ…
Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.
Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nhung, Thiếu Tá Nghĩa và Đại Úy Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào Tổng Thống Diệm:
– Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông Cố Vấn.
Ông Diệm:
– Ông Đôn và ông Minh đâu hè?
Đại Tá Lắm:
– Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.
– Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.
Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:
– Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.
Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:
– Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem..
Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:
– Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.
Đại Úy Nhung liền oang oang:
– Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.
Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:
– Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống…
Đại Úy Nhung:
– Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.
Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống…
Xe đi hết đường Nguyễn Trãi, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.
Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia.
Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha Cảnh Sát chạy ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:
– Ông Diệm và ông Nhu đâu?
– Ở dưới.
– Sao rồi?
– Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.
– Còn ông Diệm?
– Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.
– Chết hay sống?
– Không biết.
Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (giống như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.
Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiếc M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: “Xuống! Xuống!” Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ…
Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một “sở trường” của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.
Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.
Orange County, ngày 2 tháng 11 năm 2013
Nhân Kỷ niệm 50 Năm Ngày Đại Lễ Giỗ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu cùng Quân Dân Cán Chánh Việt Nam Cộng Hòa tại Tượng Đài Việt Mỹ Westminster, California, USA.
Liên Thành
626-257-1057
Đề tài liên hệ trích sách Thích Trí Quang, Thần Tượng hay Tội Đồ Dân Tộc tái bản lần thứ 1 vào tháng 5/2014:

Monday, September 28, 2026

SỰ DỐI TRÁ TRẮNG TRỢN CỦA TRUYỀN THÔNG MỸ

Sự dối trá trắng trợn của truyền thông Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam cuối cùng đã bị bộc lộ.

Nào là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1963. Nào là hình chụp Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm..
Đó là hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.
Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em. Đồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.
Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhãn khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu trước thảm họa này?
Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu với tựa đề: “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,” trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.
Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh! (www.WND.com) biết như sau: "Những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến." Botkin còn cho biết thêm: "Có cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào ngày 16 tháng Ba năm 1968.."
Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng không thể thiên lệch như vậy."
Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, tổng thống Nixon đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: "Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch."
Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: "Apocalypse Now", "The Deer Hunter", "Good Morning, Vietnam,” "Rambo", hay “Full Metal Jacket” cũng chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối diện trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa Cộng Sản.
Nhà làm phim
Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người lính Mỹ tham chiến tại đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng, độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp"
     Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, là người viết cuốn sách "Lội ngược dòng oan nghiệt" ("Ride the Thunder") để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu: "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bôi trong cuộc chiến tại Việt Nam" được dựng lên, sau khi đích thân đi điều nghiên tại những nơi xảy ra giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, thì lại khẳng định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai!
Botkin giải thích như sau: "Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của chúng tôi nhằm xóa đi hiểu lầm về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng."
Vào thập niên 1970, theo chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh" của tổng thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên chẳng còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân trong kế hoạch tổng tấn công vào mùa hè năm 1972, cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé này thoát khỏi tình thế nguy ngập.
Người thật việc thật - cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại Đông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố vấn quân sự của Mỹ...
Do anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng sản bị bỏ đói và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư toà án xét xử) gọi là trại "học tập cải tạo."
Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông là diễn viên Joseph Hiếu.
"Chúng tôi mở đầu bằng cuộc đời ông trong trại tù tập trung "học tập cải tạo" rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau đệ nhị thế chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”
Trung tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American Silver Star.
Botkin giải thích thêm: "Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì ở đó đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối.
Thông qua cuộc đời của Trung tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết "
Khi cuộc chiến đi đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng sản. Bao nhiêu người bị bỏ tù hoặc bị tử hình. Sáng 30 tháng Tư, những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, kết thúc 21 năm chiến đấu.
Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng sản, cựu chiến binh, thuyền nhân; có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.
Botkin tâm sự thêm: "Đối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải chỉ là để kiếm tiền mà là những nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy có trách nhiệm phải nói lên sư thật.
Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã hết cách lánh né mà buộc phải nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ."
Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim Botkin, đã giúp toàn khối Đông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản vốn đang lây lan mạnh lúc bấy giờ cũng như có hòa bình ổn định để phát triển.
Botkin nói: "Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonexia và Thái Lan. Nhờ có sự hiện của Hoa Kỳ tại Việt Nam, bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền thông như đã nghe đã thấy, đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ chấn hưng và phát triển để đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, không có nỗ lực của người Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như ngày nay."
"Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay," Botkin bàn thêm, "chúng ta đang loay hoay tìm lấy chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn (cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra,) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân bản tốt đẹp cho thế giới."
Rồi ông Botkin khẳng định: "Chúng ta đã cứu thế giới vào thời đệ nhị thế chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”
Chelsea Schilling
Nguyễn Trọng Dân lược dịch

Wednesday, August 26, 2026

CHUYỆN GÌ ĐÃ THỰC SỰ XẢY RA TRONG THÁNG 8 NĂM 1945?

 Lương Lê Huy

20 ngày làm đảo lộn Việt Nam.
Cách mạng tháng 8 là một cuộc cách mạng được thừa nhận ở cả VNCH và VNDCCH. Nhưng vào thời điểm nó diễn ra, có lẽ ít ai ngờ được tất cả những sự kiện sau đây chỉ là khởi đầu cho tấn bi kịch mang tên Việt Nam.
Xin trích dẫn lại các báo thời đó để cùng nhìn lại dòng sự kiện mà không bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền tô vẽ ngày nay. Mỗi mẩu tin bên dưới là một câu chuyện riêng, rất đáng giá cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu.
Ngày 9/8/1945 - Nội các Trần Trọng Kim từ chức vì 3 bộ trưởng từ nhiệm và một bộ trưởng qua đời do tai nạn trúng bom của quân Đồng Minh. Vua Bảo Đại chuẩn y, và giao cho ông Trần Trọng Kim lập nội các mới.
Trong lúc chờ lập nội các mới thì vua Bảo Đại hạ lệnh cho nội các cũ vẫn tiếp tục làm việc như một chính phủ lâm thời.
Ngày 14/8/1945 - Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước ký với Pháp, lấy lại Nam Kỳ, thống nhất Việt Nam.
Bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Sâm làm khâm sai Nam Kỳ.
Đất Nam Kỳ trở về với Việt Nam. Đây là kết quả thương lượng của Thủ tướng Trần Trọng Kim với Nhật.
Trước đó giữa tháng 7/1945 ông đã lấy lại 3 nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, sáp nhập Bắc Kỳ vào với An Nam (miền Trung). Riêng Nam Kỳ thì ban đầu người Nhật từ chối, phải điều đình đến tháng 8 mới được chấp nhận.
Ngày 15/8/1945 - Nhật Hoàng tuyên bố qua sóng phát thanh chấp nhận đầu hàng Đồng Minh.
Ngày 15/8/1945 - Nhật trao trả đoàn Bảo An Binh, ty Liêm Phóng, nha học chính, và trường đại học cho Việt Nam.
Ngày 15/8/1945 - Việt Nam tiếp nhận các Sở Liêm Phóng, Sở Thông Tin, và Sở Kiểm Duyệt.
Nội các Việt Nam ra yêu cầu với phủ Toàn quyền Nhật: Giao lại khí giới của quân Pháp cho chính phủ Việt Nam, dồn Pháp kiều vào một khu, bãi bỏ phủ Toàn quyền, trả lại vô tuyến điện cho chính phủ Việt Nam, đặt kiểm soát viện người Việt ở các ngân hàng.
Ngày 15/8/1945 - Đảng cướp Bình Xuyên cải tà quy chánh, giúp khí giới cho nước nhà chống thực dân.
Ngày 17/8/1945 - Đức Bảo Đại tuyên chiếu hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh ra giúp nước, để thành lập nội các mới.
Đây là lần đầu tiên ông nói câu "Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ", cũng như câu "Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm". Ông cũng nói rằng "Trẫm sẵn sàng hy sanh về hết cả phương diện" để củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc.
Nội các Trần Trọng Kim tuyên cáo đã đạt được 2 mục đích chính đề ra là thống nhất lãnh thổ Việt Nam và tổ chức bộ máy quốc gia để thế giới thấy dân tộc Việt Nam có khả năng độc lập và tự trị.
Sứ mệnh lịch sử đã hoàn thành, nay kêu gọi những phần tử khác của của quốc gia phải tới thay thế để đảm đương trọng trách chủ trì quốc vụ và củng cố nền độc lập vừa mới khôi phục.
Ngày 17/8/1945 - De Gaulle tuyên bố quân Pháp sẽ quay lại Đông Dương.
Chính phủ Trần Trọng Kim ra tuyên cáo Pháp đừng đi ngược dòng lịch sử một cách vô ích, nước Việt Nam đã khôi phục được nền độc lập thì không khi nào chịu đặt mình trở lại dưới ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc Pháp.
Không khí sục sôi trong dân chúng, nhiều tổ chức, đoàn thể kêu gọi đoàn kết biểu tình, biểu dương lực lượng nhằm chống Pháp quay lại.
Ở miền Nam có Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt, là tập hợp của nhiều đảng phái, cũng ra lời kêu gọi biểu tình.
Ngày 17/8/1945 - 20 vạn người biểu tình chống Pháp ở Hà Nội. Lúc này CS Việt Minh chưa cướp chính quyền.
Ngày 19/8/1945 - Lễ bàn giao quyền lực giữa quyền Thống đốc Nam Kỳ người Nhật và quyền Khâm sai Nam Kỳ người Việt.
Ngày 19/8/1945 - Lễ trao trả trường đại học và Đông Dương học xá ở Hà Nội cho Việt Nam.
Ngày 19/8/1945 - Biểu tình lớn ở Hà Nội để chống Pháp quay lại, Việt Minh lợi dụng chiếm phủ Khâm sai, dinh khâm sai, tòa thị chính.
Khâm sai Bắc Bộ Phan Kế Toại xin từ chức, đề cập đến những vụ "khủng bố từ đêm đến giờ".
Ngày 20/8/1945 - Vua Bảo Đại gửi thư cho Tổng thống Mỹ và các nước Đồng Minh kêu gọi ủng hộ Việt Nam độc lập. Ông cũng gửi thư cảnh báo De Gaulle đừng quay lại Việt Nam.
Quốc thư của vua Bảo Đại gửi Tổng thống Mỹ và các nước Đồng Minh có đoạn: "Một dân tộc như dân tộc Việt Nam đã có 2000 năm lịch sử và một dĩ vãng vẻ vang không thể chịu ở dưới quyền một dân tộc khác. Nước Pháp nên cúi đầu theo lẽ công bằng ấy mà Mỹ quốc là một nước hào hiệp đã tuyên bố và binh vực".
Thư của vua Bảo Đại gửi De Gaulle viết: "Các ngài hãy nhớ lại những nỗi đau đớn khổ sở mà các ngài đã phải chịu trong 4 năm trước khi các ngài bị người ngoại quốc xâm chiếm, thì các ngài đã hiểu rằng thời đại này một dân tộc có hơn hai ngàn năm lịch sử vẻ vang như dân tộc Việt Nam chắc chắn không muốn và không thể nào chịu để cho người ngoại Quốc áp chế hoặc cai trị nữa.
Nếu các ngài thấy rõ hiện tình của xứ này và biết sức mạnh của bầu nhiệt huyết đã tràn trề trong tâm can dân tộc Việt Nam không nhân lực nào đè nén nỗi thì các ngài lại càng hiểu rõ ràng hơn nữa. Vả lại nếu vạn nhứt mà các ngài có lấy lại được quyền cai trị xứ này thì quyền đó cũng không ai tùng phục nữa. Mỗi một làng sẽ trở nên một sào huyệt phản kháng mỗi một người cộng tác cũ sẽ trở nên một kẻ cừu địch và bọn quan lại và thực dân của các ngài cũng phải tự xin lui không thể nào ở được trong bầu không khí chết ngạt ấy".
Ngày 21/8/1945 - Thả tù chính trị yêu nước theo lệnh trước đó của vua Bảo Đại.
Ngày 21/8/1945 - Ở Sài Gòn, số người tham gia biểu tình do Mặt trận Quốc Gia Thống Nhất tổ chức là 200 ngàn người, bằng với số người tham gia biểu tình ở miền Bắc, nhưng họ không cướp chính quyền.
Ngày 22/8/1945 - Vua Bảo Đại ra chiếu giao cho Việt Minh chủ trì cùng các đảng phái khác lập nội các, với nhiệm vụ chiêu tập một quốc hội toàn quốc để ấn định chính thể quốc gia. Vua Bảo Đại sẽ vui lòng nhận chính thể mà quốc hội ấn định.
Ngày 23/8/1945 - Biểu tình ở Huế. Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh bị bắt. Một số công sở bị niêm gác. Một số bộ trưởng giao văn kiện. Cướp chính quyền ở Quảng Bình.
Việt Minh gửi điện yêu cầu nhà vua thoái vị.
Ngày 24/8/1945, vua Bảo Đại gửi điện cho Việt Minh nói ngài vui lòng thoái vị ngay và đã sắp đặt sẵn sàng, nhưng vì có trách nhiệm đối với lịch sử và toàn thể quốc dân, ngài muốn sự thoái vị của ngài có ảnh hưởng ích lợi cho tổ quốc, và muốn chính phủ mới ra mắt quốc dân một cách rất long trọng, nên ngài mong ông chủ tịch chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời gấp về Thuận Hóa để ngài giao chính quyền và làm lễ bàn giao.
Ngày 24/8/1945 - Trong chuyến thăm Mỹ để vận động ngoại giao cho Pháp tái chiếm Đông Dương, De Gaulle phớt lờ cảnh báo của vua Bảo Đại về việc Pháp không quay lại Việt Nam, khẳng định sẽ khôi phục chủ quyền ở Đông Dương. Tổng thống Mỹ Truman nói riêng với De Gaulle rằng Mỹ không phản đối. Tuy nhiên Mỹ cũng cấm tàu Mỹ hỗ trợ vận chuyển quân và khí tài của Pháp đến Đông Dương.
Ngày 25/8/1945 - Trần Huy Liệu, phụ trách tuyên truyền của Việt Minh, nói với báo giới là Việt Minh muốn vua Bảo Đại thoái vị chứ không phải giao cho Việt Minh lập chính phủ mới.
Ngày 25/8/1945 - Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt ở Nam Bộ sáp nhập với Việt Minh, tổ chức biểu tình. Ông Nguyễn Văn Sâm là một thành viên của Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt từ chức Khâm sai Nam Kỳ.
Ngày 25/8/1945 - Vua Bảo Đại ban chiếu thoái vị, nói rằng "trong giờ phút nghiêm trọng này, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi quốc hội thì không thể nào tránh được nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân, lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng".
Ngày 25/8/1945 - Biểu tình lớn ở Sài Gòn do Mặt trận Quốc gia Thống nhứt và Mặt trận Việt Minh tổ chức. Việt Minh tuyên bố lập Ủy ban chính quyền nhân dân cách mạng, chiếm chính quyền ở Nam Bộ. Báo chí phát hiện ra trong các bài phát biểu ở cuộc biểu tình, có bản tuyên bố của đảng Cộng sản và âm nhạc được sử dụng có cả bài Quốc tế ca.
Ngày 25/8/1945 - Tưởng Giới Thạch nói ủng hộ Đông Dương độc lập, không có ý xâm chiếm lãnh thổ mà chỉ đến để giải giáp quân Nhật.
Ngày 28/8/1945 - Trong những mệnh lệnh đầu tiên của mình, Chính phủ mới ra lệnh cấm chạy xe hơi tư nhân.
Ngày 29/8/1945 - Chính phủ mới ra lệnh cấm mua bán vàng bạc.
Trước đó, Ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ bố cáo tới các tư gia có máy truyền thanh rằng từ ngày 20/8/1945, các máy truyền thanh phải để dành riêng cho ủy ban nhân dân cách mạng tạm dùng trong ít lâu vào công việc tuyên truyền.
Việt Nam đổi giờ từ GMT+9 (giống Nhật) thành GMT+7 như cũ.
Ngày 30/8/1945 - Lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Công dân Vĩnh Thụy nhận làm cố vấn cho chính phủ mới.
Ngày 2/9/1945 - Tuyên ngôn độc lập ở Hà Nội. Ở Sài Gòn không tiếp sóng được. Bản tuyên ngôn không có câu mở đầu "Hỡi đồng bào cả nước" như chúng ta vẫn thấy ngày nay.
Bản tuyên ngôn nêu rõ lập nên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA DÂN CHỦ. Các bản in sau năm 1954 sửa lại thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Wednesday, July 22, 2026

AI CÓ QUYỀN VIẾT SỬ VIỆT NAM ?

Trần Trung Đạo


Nhà thơ Tô Thùy Yên viết trong bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang:
“Ta phá lên cười, ta phá lên cười
Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin
Hỏi nhau chơi thoả chút tính bông đùa:
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam - một tổ quốc...?”

Muốn biết “ai thật sự hy sinh cho tổ quốc” phải đọc lại lịch sử Việt Nam cận đại theo từng thời điểm.
Từ hậu bán thế kỷ 19 đến nay, có bao nhiêu cuộc chiến diễn ra trên đất nước Việt Nam?
Nếu đem ra hỏi Nguyễn Phú Trọng, ông ta sẽ trích ngay từ các nghị quyết của đảng, đó là cuộc “chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam chính thức bắt đầu vào tháng Giêng, 1930 tại Cửu Long, Hương Cảng và chấm dứt vào sáng 30 tháng Tư, 1975.”
Không đúng.

Cuộc chiến giành độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam không bắt đầu từ khi có đảng CS mà bắt đầu vào ngày 1 tháng 9, 1858, khi quân Pháp dưới quyền Đô Đốc Charles Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng chính thức mở đầu cuộc chiến tranh vì độc lập tự do và cuộc chiến đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến hôm nay.
Bộ máy tuyên truyền của đảng CS nhuộm đỏ nhận thức người dân Việt Nam bằng lý luận chỉ có đảng CSVN mới là đảng duy nhất thật sự mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.
Cũng không phải.

Đừng quên rằng, 72 năm trước khi đảng CSVN thành lập năm 1930, cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt đã bắt đầu từ 1858 với Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Nguyễn Duy Hiệu, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám và vô số anh hùng dân tộc khác.
Đừng quên rằng, 36 năm trước khi Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Việt Nam lần đầu năm 1941, các tư tưởng dân chủ khai phóng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Duy Tân Nhật Bản đã được các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và các nhà cách mạng của phong trào Duy Tân (1905) truyền bá khắp ba miền. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà tân học miền Bắc như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ đề xướng được đông đảo đồng bào ủng hộ.

Đừng quên rằng, 18 năm trước khi đảng CSVN ra đời, 1930, đã có rất nhiều đảng phái chính trị không CS chống thực dân Pháp được thành lập như Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo (1912) và theo sau bằng đảng Lập Hiến Đông Dương của Bùi Quang Chiêu (1919), Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927) do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học lãnh đạo, Việt Nam Độc Lập của Nguyễn Thế Truyền (1927) v.v... Các tổ chức cách mạng đó có khác nhau về phương pháp thực hiện nhưng đều đặt cơ sở trên nền tảng dân tộc và hướng tới một chế độ Cộng Hòa.

Đừng quên rằng, 90 năm trước khi Tạp chí Cộng Sản ra đời 1955, mấy mươi tờ báo đã được phát hành khắp nước như Gia Định Báo (1865), Tiếng Dân (1876), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đông Dương Tạp Chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917), An Nam Tạp Chí (1926), Phụ Nữ Tân Văn (1929), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934) và nhiều báo Pháp Ngữ. Tất cả đều nhằm thúc đẩy tiến trình khai dân trí tại Việt Nam.

Nhưng tại sao CS thắng?
CS thắng chỉ vì họ không từ chối bất cứ một thủ đoạn nào, không hề tính toán cân nhắc phải chết hay phải giết chết bao nhiêu người, miễn là đạt được mục đích CS hóa Việt Nam.
Song song đó, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tẩy não, lợi dụng và khai thác triệt để lòng yêu nước, bưng bít thông tin một cách tinh vi nhất trong lịch sử loài người.
Các đảng phái quốc gia Việt Nam không làm được điều đó. Họ nhân ái quá. Họ Việt Nam tính quá. Chính vì lòng nhân ái và Việt Nam tính đó mà phần đông những nhà cách mạng độc lập và dân chủ đã chết, không chỉ chết dưới máy chém thực dân mà còn do CS thủ tiêu.
Không ai có quyền viết sử Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách độc tài CS. Con đường có thể còn xa nhưng là con đường chính sử. Chuyến xe có thể phải chậm vì chạy bằng máu của chính mình nhưng là chuyến xe tự chủ, không nô lệ cho bất cứ một ngoại bang nào.
Trần Trung Đạo
(Trích trong Chính Luận)


Tuesday, July 14, 2026

TỪ THỰC DÂN ĐẾN CỘNG SẢN

  HOÀNG VĂN CHÍ

        Tác phẩm quan trọng nhất về giai đoạn này từ góc nhìn người trong cuộc là Từ Thực Dân đến Cộng Sản (bản tiếng Anh: From Colonialism to Communism, 1964) của Hoàng Văn Chí.
        Ông là trí thức yêu nước, tham gia Việt Minh từ sớm, làm việc trong bộ máy VNDCCH nhiều năm - đủ để quan sát từ bên trong.
        Sau Hiệp định Geneva 1954, ông di cư vào Nam rồi sang nước ngoài sinh sống và viết sách.
        Điều khiến tác phẩm có giá trị đặc biệt không phải ở sự thù địch từ đầu - mà ở chỗ tác giả đã tin, đã tham gia, và sau đó nhìn lại toàn bộ quá trình bằng con mắt của người trong cuộc.
        Hoàng Văn Chí không nhìn chủ nghĩa cộng sản như một lý thuyết sách vở mà như một "công nghệ cai trị và biến đổi xã hội" được vận hành cơ học, chính xác và lạnh lùng.
       Tên tác phẩm nói lên toàn bộ luận điểm trung tâm: người Việt Nam đã thoát khỏi ách thống trị thực dân chỉ để rơi vào ách thống trị khác, và ách sau về một số mặt còn toàn diện hơn vì kiểm soát không chỉ hành động mà cả tư tưởng.
       Ông dùng từ "chủ nghĩa toàn trị" - totalitarianism - và giải thích sự khác biệt với chế độ độc tài thông thường: độc tài muốn người ta tuân thủ, toàn trị muốn người ta tin tưởng.
       Dưới Pháp, một người có thể im lặng và an toàn.
       Dưới cộng sản, im lặng thôi chưa đủ, phải thể hiện nhiệt tình đúng mức.
       Về vai trò cố vấn Trung Quốc trong cải cách ruộng đất, Hoàng Văn Chí chỉ rõ: đoàn cố vấn do La Quý Ba đứng đầu mang nguyên xi cẩm nang cải cách ruộng đất của Đảng Cộng sản Trung Quốc áp vào Việt Nam, bất chấp cấu trúc nông thôn Việt Nam rất khác - địa chủ Việt Nam nhỏ hơn, nghèo hơn, và ranh giới giàu nghèo ở làng quê mờ nhạt hơn nhiều.
       Họ đưa ra "chỉ tiêu thành phần": mỗi làng bắt buộc phải tìm ra một tỷ lệ địa chủ nhất định, thường là 4–5% dân số.
       Nếu một làng toàn người nghèo đùm bọc nhau, đội cải cách vẫn buộc phải "đôn" những nông dân khá giả hơn một chút lên thành "địa chủ" để đấu tố cho đủ chỉ tiêu.
       Quota tạo ra áp lực cơ học - cán bộ cấp dưới bị đánh giá theo số địa chủ tìm được, tức là có động lực tìm cho đủ số dù phải bịa.

       Hoàng Văn Chí mô tả chi tiết quy trình chỉnh huấn tại chiến khu: trí thức buộc phải viết bản tự kiểm thảo, tự nhận mình là "kẻ bóc lột", "mang dòng máu phong kiến thối nát", phải khóc lóc và tự nhục mạ trước đám đông để được công nhận là "đạt yêu cầu về lập trường giai cấp".
       Ai không khóc, không tự sỉ vả mình tức là "chưa thành khẩn".
       Cơ chế tự phê bình này buộc người ta đồng lõa với hệ thống và tạo ra hồ sơ để dùng sau này - người không tự phê bình đủ mạnh bị nghi ngờ giấu diếm, nên người ta học cách phóng đại tội lỗi nhỏ để tỏ ra thành thật, dần hình thành một văn hóa tự hạ thấp bản thân.

       Sự vỡ mộng của Hoàng Văn Chí đến đỉnh điểm khi ông chứng kiến những địa chủ kháng chiến từng hiến gạo, hiến nhà, thậm chí có con là liệt sĩ, bỗng chốc bị đưa ra đấu tố và xử tử; khi con cái buộc phải đấu tố cha mẹ, hàng xóm hãm hại lẫn nhau để đạt chỉ tiêu thành phần.
       Hoàng Văn Chí kết luận rằng thảm kịch của giai đoạn này không nằm ở sự tàn bạo nhất thời mà ở chỗ sự tàn bạo đó được hệ thống hóa thành khoa học.
       Bài học ông rút ra là: khi một người giao phó hoàn toàn tư duy độc lập của mình cho một guồng máy ý thức hệ để đổi lấy một mục tiêu chung - dù là độc lập dân tộc - thì đến một ngày, chính guồng máy đó sẽ nghiền nát người đó và những giá trị nhân bản mà người đó theo đuổi.
       Đây là lý do tác phẩm vẫn được đọc và trích dẫn sáu mươi năm sau khi viết - không phải vì nó hoàn hảo mà vì nó thật, viết bởi người đã tin, đã tham gia, và bị phản bội.

        Số phận của ký ức: Sự vắng lặng của tư liệu về giai đoạn này không phải ngẫu nhiên - nó là kết quả của những cơ chế cấu trúc hoạt động đồng thời và triệt để.
        Từ 1954 trở đi, không có báo chí tư nhân, không có nhà xuất bản độc lập ở miền Bắc. Mọi thứ được in ra đều qua kiểm duyệt của Đảng.
        Dưới Pháp thuộc - dù là chế độ thực dân - vẫn có báo chí tương đối đa dạng, tranh luận công khai, và người nước ngoài tự do quan sát.
         Sau 1954 ở miền Bắc, tất cả những kênh đó đóng lại cùng một lúc.
        Trí thức Hà Nội - nhóm duy nhất có khả năng ghi chép - vừa chứng kiến vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1956: những người dám viết thật bị nghiền nát.

        Bài học rất rõ. Nguyễn Chí Thiện viết thơ trong tù không có giấy, thuộc lòng hàng trăm bài thơ trong đầu suốt nhiều năm trước khi có cơ hội ghi ra - đây không phải ẩn dụ mà là điều kiện vật chất thực tế của việc ghi chép dưới chế độ đó. Khác với sau 1975 - có hàng triệu người vượt biên mang theo ký ức - giai đoạn 1954–1960 ở miền Bắc gần như không có đường ra.
        Số người trốn thoát được sang phương Tây rất ít, nên nguồn hồi ký bên ngoài rất mỏng.
        Lưu trữ nhà nước Việt Nam về giai đoạn này vẫn chưa được mở cho nghiên cứu độc lập.
        Phần lớn tư liệu chi tiết đến từ hồi ký của người di cư và nghiên cứu của học giả nước ngoài như Gareth Porter, Edwin Moïse, Gerard Tongas.

        Tài liệu của các cơ quan tình báo Pháp và Mỹ về Hà Nội giai đoạn 1955–1958 cũng được trích dẫn trong một số công trình nghiên cứu, dù khả năng tiếp cận công khai còn hạn chế.
        Câu hỏi về độ trung thực của tài liệu nội bộ đòi hỏi phân biệt nhiều lớp.
        Các báo cáo thuần túy hành chính - số người bị xử lý, số tài sản tịch thu, số hộ được phân loại thành phần - thường tương đối chính xác về mặt số liệu vì cấp dưới cần báo cáo lên cấp trên để chứng minh hoàn thành nhiệm vụ.
        Khi tài liệu liên quan đến đánh giá chính trị thì sự bóp méo bắt đầu xuất hiện: cán bộ cấp dưới phóng đại thành tích và giảm nhẹ sai lầm, cấp trên tổng hợp lên thành báo cáo còn đẹp hơn - đây là bệnh cấu trúc của mọi hệ thống tập trung quyền lực không có phản hồi độc lập.

        Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy lãnh đạo cấp cao biết sự thật: Hồ Chí Minh công khai nhận lỗi năm 1956, Trường Chinh bị cách chức - những quyết định này đòi hỏi tài liệu nội bộ đánh giá trách nhiệm rõ ràng.
        Thế hệ trực tiếp trải qua - sinh năm 1930–1945 - nay đã 80–90 tuổi.
        Thế hệ con cái họ biết qua lời kể nhưng không trải nghiệm trực tiếp.
        Thế hệ cháu lớn lên với sách giáo khoa nhà nước.
        Mỗi thế hệ, ký ức loãng đi một lần.
        Cơ chế kiểm soát tinh vi nhất không phải là xóa ký ức mà là không tạo ra nhu cầu tìm kiếm.
        Nếu sách giáo khoa không nhắc đến cải cách ruộng đất như một thảm họa, không có Nhân Văn Giai Phẩm, không có đời sống Hà Nội trước 1954 - thì không có điểm khởi đầu để tìm hiểu.

       Người trẻ Việt Nam hiện nay không biết câu hỏi nào cần đặt ra.
       Kinh nghiệm từ Đông Âu sau 1989 cho thấy sự thật thường sống sót.
       Ở Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc - sau 40–50 năm cộng sản kiểm soát lịch sử - khi hệ thống sụp đổ, lưu trữ mở ra và sự thật tái xuất hiện nhanh hơn nhiều người tưởng.
       Vì tài liệu vẫn tồn tại, vì ký ức gia đình vẫn được truyền miệng, vì một số người vẫn viết và giữ bản thảo trong ngăn kéo.
        Sự thật không cần đa số biết để sống sót - nó chỉ cần đủ người giữ gìn.
        Điều duy nhất thực sự có thể mất vĩnh viễn là chiều sâu cảm xúc - cái mà người cao tuổi diễn đạt bằng từ "rất khốc liệt" nhưng không có ngôn ngữ nào tiếp tục mô tả.
        Thứ đó chỉ tồn tại khi còn người trực tiếp trải qua, và nó đang biến mất từng ngày. 

      *  Nguồn tham khảo chính: Hoàng Văn Chí, Từ Thực Dân đến Cộng Sản (From Colonialism to Communism, Praeger, 1964).
      *    Edwin Moïse, Land Reform in China and North Vietnam (University of North Carolina Press, 1983).
      *   Gareth Porter, Vietnam: The Politics of Bureaucratic Socialism (Cornell University Press, 1993).
     *   Gerard Tongas, J'ai vécu dans l'enfer communiste au Nord Vietnam (Nouvelles Éditions Debresse, 1960) - hồi ký của hiệu trưởng Lycée Balzac Hà Nội, ở lại đến 1959.

       * Tài liệu nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), được trích dẫn qua các công trình học thuật thứ cấp.
     *   Nguyễn Chí Thiện, Hoa Địa Ngục (Flowers from Hell, Yale Southeast Asia Studies, 1984)     
      *  Dương Thu Hương, Những Thiên Đường Mù (1988)
     *   và các tiểu thuyết khác về đời sống miền Bắc sau 1954

Ảnh: Hợp tác hóa nông nghiệp ở huyện Đông Anh phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc.