Monday, February 16, 2026
Monday, February 9, 2026
Sunday, February 1, 2026
BÀI HỌC NGƯỜI VIỆT NAM NÀO CŨNG PHẢI NHỚ
Thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế
Nguyễn Lý Tưởng
Cuộc tấn công Tết Mậu Thân (1968) là một hành động dã man, diệt chủng mà
Việt Cộng đã để lại trong lòng thân nhân của những nạn nhân tại Miền Nam
Việt Nam, điển hình là tại Thành Phố Huế một nỗi kinh hoàng, một niềm uất
hận nghẹn ngào, một món nợ mà con cháu phải đòi cho được kẻ sát nhân phải
trả bằng máu!. Vụ “Thảm sát Tết Mậu Thân 1968” tại Huế đến nay đã 39 năm
rồi, chỉ còn một năm nữa là kỷ niệm 40 năm (1968-2008) nhưng phía Cộng
Sản không có một chút hối hận, không một lời xin lỗi. Trái lại, trong
những năm gần đây, Hà Nội đã tổ chức rầm rộ “Mừng chiến thắng Tết Mậu
Thân”. Tại sao Cộng Sản lại cố khơi dậy biến cố đau thương đó? Tại sao
Cộng Sản cứ rêu rao thành tích diệt chủng đó? Chúng tôi đặt vấn đề: Ai
thắng? Thắng ai?
Cuộc chiến thắng được mô tả “Những người cầm súng đã chiến thắng những người tay không” (gồm những người dân vô tội, các nhà tu hành, thanh niên sinh viên học sinh, nhân viên dân sự, viên chức nhà nước đang ăn Tết với gia đình......). Thật là một điều mỉa mai!
Trên thực tế, Cộng Sản đã bị quân đội Việt Nam Cộng Hoà và Ðồng Minh
tiêu diệt trên 100.000 cán binh Việt Cộng từ miền Bắc xâm nhập vào và
thành phần du kích địa phương. Cộng Sản cũng đã gây thiệt hại cho hàng
trăm ngàn thường dân vô tội tại Miền Nam phải cảnh màn trời chiếu đất và
hàng chục ngàn người chết hoặc bị bắt đi mất tích. Những mồ chôn tập thể
tại Huế đã minh chứng tính cách dã man, diệt chủng của cuộc “Tổng tấn
công, tổng nổi dậy” của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân. Trước sự việc nêu
trên, chúng tôi xin bày tỏ mấy ý kiến sau đây: Cách đây 39 năm, chúng tôi
đã sống vào những ngày xảy ra biến cố Tết Mậu Thân ở Huế và các nơi khác,
lại được tiếp xúc với một số nhân chứng của cả hai bên
(Quốc
Gia cũng như Cộng Sản về hồi chánh).
Về sau còn được đọc một số sách báo, tài liệu liên quan đến biến cố Mậu
Thân 1968. Là một người theo học ngành Sử, chúng tôi thấy có trách nhiệm
phải đóng góp phần hiểu biết của mình vào kho tài liệu lịch sử Việt Nam
với tư cách là một nhân chứng. Chúng tôi chỉ trình bày sự thật theo tinh
thần sử học như lời Sử gia Gustave de Coulanges đã nói:
“Je
n'impose rien, je ne propose rien, j'expose ”
(Tôi không áp đặt, tôi không chủ trương, tôi chỉ trình bày).
Biến cố Mậu Thân xảy ra chưa đầy một tháng, theo số liệu ước tính của Việt
Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ thì đã có khoảng 80.000 người Việt Nam chết
(kể cả thành phần cán binh Việt Cộng).
Theo báo chí của Cộng Sản tiết lộ vào năm 1998, nhân kỷ niệm 30 năm Mậu
Thân (1968-1998) thì đã có trên 100.000 lính Việt Cộng chết hoặc mất
tích. Các nạn nhân bị chôn sống, bị giết tập thể tìm được xác, hoặc chết
dưới khe, dưới suối mà chúng ta đếm được từng sọ người tại 22 địa điểm
trong Thành Phố Huế và tỉnh Thừa Thiên là 2.326 sọ người trong số 6.000
người thuộc tỉnh Thừa Thiên và Thành Phố Huế đã được thân nhân xác nhận là
chết hoặc bị bắt đi thủ tiêu, mất tích. Hội “Nạn nhân Cộng Sản trong Tết
Mậu Thân” ở Huế và tỉnh Thừa Thiên có hơn 4.000 gia đình. Theo báo chí
ngoại quốc ước tính có hơn 5.000 người bị giết chết hoặc bị bắt đem đi mất
tích. Hàng chục, hàng trăm nạn nhân bị chôn sống trong một cái hố sâu, tay
bị trói bằng dây điện, dây tre, bị đâm bằng lưỡi lê, bị đánh bằng cán
cuốc, bị bắn bằng súng hoặc bị chôn sống. Dã man nhất là tại Khe Ðá Mài
(thuộc vùng núi Ðình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên)
Việt Cộng đã dùng súng đại liên và mìn giết tập thể hơn 400 người, vất xác
xuống dưới khe, lâu ngày thịt thối rữa bị nước cuốn đi, chỉ còn sọ người,
xương người dồn lại một đống. Người ta đã dựa vào các dấu vết còn lại của
nạn nhân như áo len, giày dép, tượng ảnh, giấy căn cước bọc nhựa (ID).....
để biết được thân nhân của mình đã chết ở trong đống sọ và xương lẫn lộn
đó.
Ngày 8-11-1969 tại Lương Viện
(Sư Lỗ)
quận Phú Thứ, tỉnh Thừa Thiên, người ta tìm được xác của Linh mục Bửu Ðồng
(56 tuổi) chôn chung với Linh mục Hoàng Ngọc Bang (73 tuổi) và hai sư
huynh phụ trách trường La San Nghĩa Thục Phú Vang. Trong bao kính đọc sách
của Linh mục Bửu Ðồng có giấu 3 bức thư: gởi cho cha mẹ, gởi cho các em và
gởi cho giáo hữu. Chúng tôi đã công bố ba bức thư đó trên báo và trong
sách “ Thảm sát Mậu Thân ” in lần thứ nhất vào năm 1998 và tái bản lần đầu
năm 1999.
Bốn công dân ưu tú của Cộng Hòa Liên Bang Tây Ðức là vợ chồng Bác sĩ Horst
Gunther Krainick, Bác sĩ Raymund Discher và Bác sĩ Alterkoster đến giảng
dạy tại Trường Đại Học Y Khoa và giúp Bệnh Viện Huế, cũng đã bị Việt Cộng
bắt đem đi chôn sống tại khu vực Chùa Tường Vân, phía Tây Huế.....
Hầu hết các nạn nhân là những nhà tu hành, sinh viên học sinh, những người
dân vô tội, những người không có vũ khí trong tay, những người đang ở
trong nhà với vợ con của họ, những người đã chấp hành lệnh đến trình diện
để học tập về chủ trương chính sách của “Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam”
(một tổ chức của Cộng Sản)...
Những hình ảnh về thảm sát Mậu Thân ở Huế cũng như các nơi khác trên toàn
Miền Nam đã được đưa lên màn hình (TV, phim ảnh...) được chuyển qua vệ
tinh ngay khi biến cố xảy ra, đã gây xúc động trên toàn thế giới khiến cho
dư luận phải lên án những hành động dã man của Việt Cộng. Tất cả những
ai đã từng sống ở Huế và Miền Nam trước 1975, chắc chắn đã được nghe, được
thấy, được đọc qua sách vở, báo chí, qua những lời kể lại cũng như qua
truyền hình, phim ảnh về Tết Mậu Thân. Ðồng bào của chúng ta ở Huế nói
riêng và toàn Miền Nam nói chung. Sau biến cố này, hễ nghe tin Việt Cộng
đến là gồng gánh nhau bỏ hết nhà cửa tài sản, lo chạy lấy thân. Hình ảnh
Việt Cộng đi đôi với thảm sát, đấu tố, chôn sống, hầm chôn tập thể.
Nếu muốn trình bày một cách đầy đủ về cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế và Miền
Nam vào năm 1968, tưởng không thể trong một vài trang báo mà nói hết được
những điều muốn nói, phân tích được những khía cạnh cần thiết và quan
trọng bắt buộc phải trình bày. Một vài bài báo, một vài cuốn sách thiết
tưởng cũng chưa hoàn thành được nhiệm vụ đó. Những điều chúng tôi trình
bày trong sách “Thảm sát Mậu Thân”
(xuất bản năm 1998 và tái bản năm 1999)
chỉ là để gợi ý một cách tóm lược đối với những thế hệ chưa từng thấy,
chưa từng nghe, chưa từng biết đến vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế. Riêng đối
với quý vị thức giả, những bậc cao niên, đã từng là nhân chứng qua các
biến cố lịch sử của đất nước, hay đã có thì giờ nghiên cứu, tham khảo
nhiều tài liệu sách báo, phim, ảnh... thì những điều chúng tôi trình bày,
không có gì mới lạ. Chúng tôi ước mong các thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên
sau cuộc chiến, nhất là những người ở ngoại quốc, được cơ hội tìm hiểu
lịch sử Việt Nam mà không bị xuyên tạc, bóp méo, không phản bội lại sự
tranh đấu cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền và dân chủ của toàn thể dân
tộc Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai.
Ðiều thôi thúc chúng tôi phải lên tiếng về vấn đề này, trước hết là vì
sách vở, báo chí ngoại quốc và nhất là tài liệu của Việt Cộng và phe
phản chiến thân Cộng đã xuyên tạc, bóp méo sự thật quá nhiều. Chúng tôi
phải khẳng định rằng các tài liệu hiện có trong các thư viện và văn khố,
ngay cả các tài liệu của Việt Nam Cộng Hoà
(tức chính quyền Miền Nam Việt Nam trước 1975)
cũng hãy còn nhiều thiếu sót. Có những ký giả trước đây đã viết bài làm
cho người đọc thêm hoang mang và nghi ngờ về các dữ kiện phía quốc gia
chúng ta công bố. Và dường như phía Tây Phương cũng cố tình làm ngơ, không
làm nhiệm vụ thông tin về biến cố Mậu Thân một cách đúng đắn hay cố tình
bưng bít sự thật.
Về phương diện khảo cứu chuyên môn, các nhà sử học phương Tây đã có một
quy định chung là tài liệu ghi lại một biến cố xảy ra, nếu sau 30 năm mà
không có những chứng minh ngược lại, thì tài liệu đó trở thành chính sử và
được dùng làm tài liệu giáo khoa để giảng dạy trong trường học. Vì thế từ
năm 1997, trước khi bước vào thời điểm 30 năm (1968-1998), nhiều nhân
chứng trong đó có người Việt Nam, người ngoại quốc, gồm đủ mọi thành phần
tôn giáo, chính trị..... đã lên tiếng trả lời.
Năm 1998, chúng tôi với tư cách là nhân chứng, đã cùng một số anh em thực
hiện tuyển tập “Thảm sát Mậu Thân...”. Chúng tôi cũng đã tổ chức các lễ
tưởng niệm nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân tại nhiều nơi như ở Pháp, Ðức và
nhất là tại Hoa Kỳ vào các năm 1997 và 1998 để nói lên cho mọi người biết
những hành động dã man, tàn ác của Cộng Sản. Ðồng thời, các cộng đồng
người Việt ở khắp nơi trên thế giới cũng đã tự động tổ chức những buổi lễ
tưởng niệm như trên. Báo chí, truyền thanh, truyền hình cũng đã tiếp tay
phổ biến rộng rãi việc làm của anh em chúng tôi cũng như của các cộng đồng
người Việt tỵ nạn.
Trong khi đó tại Sài Gòn vào năm 1998 và tại Hà Nội vào năm 2003,
Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức hội thảo nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng
Mậu Thân (1968-1998) vào dịp Tết Mậu Dần (1998). Và, Tết Quý Mùi (2003),
Cộng Sản Việt Nam lại tổ chức mừng 35 năm chiến thắng. Thật là mỉa
mai!. Và đó cũng là một hành động khiêu khích đối với các gia đình nạn
nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân!
Phải chăng Cộng Sản đã chiến thắng bằng cách hy sinh 58.373 cán binh
trong Tết Mậu Thân 1968 trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà (Miền Nam)
với 9.461 người bị bắt, cơ sở nằm vùng bị phát giác, bị tiêu diệt qua
chiến dịch Phượng Hoàng của Việt Nam Cộng Hoà?
(Con số này là do Việt Nam Cộng Hoà công bố. Nhưng chính quyền Cộng
Sản Việt Nam vào đầu năm 1998 đã cho biết đã có trên 100.000 cán binh và
binh sĩ của chúng bị chết hoặc mất tích tại Miền Nam trong Tết Mậu Thân
1968).
Trong khi đó, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có 4.954 người chết, 15.097
bị thương, 14.300 thường dân bị chết, 24.000 thường dân bị thương, 627.000
người trở thành vô gia cư. Từ Mùa Hè 1968 trở đi, nông thôn Miền Nam dần
dần được bình định. Việt Cộng đã thảm bại trong Tết Mậu Thân nhưng chúng
đã chiến thắng trở lại trong Mùa Xuân 1975 nhờ sự hỗ trợ tích cực của
Cộng Sản Quốc Tế. Trong khi đó, phía Việt Nam Cộng Hoà chúng ta lại
chia rẽ, bị Ðồng Minh bỏ rơi.
Sau Tết Mậu Thân, có một lần chúng tôi được hướng dẫn phái đoàn báo chí,
truyền hình ngoại quốc đến Huế chứng kiến các mồ chôn tập thể. Tôi thấy
các nạn nhân nằm ôm ấp nhau, gối đầu lên nhau dưới một cái hố sâu trong đó
gồm đủ mọi thành phần tôn giáo, chính đảng. Và sau ngày 30-4-1975, tôi đã
gặp đủ mọi thành phần quốc gia trong nhà tù như thế. Khi đưa tay ra bốc
một nắm đất dưới đáy mồ chôn tập thể ở Huế đã thấm máu các nạn nhân, tôi
không thể phân biệt được trong nắm đất đó có máu của ai?. Cũng như khi cửa
nhà tù đóng lại thì anh em chúng ta bất kể là người của tôn giáo nào, đảng
phái nào, đều có một kẻ thù chung là Cộng Sản. Trước năm 1975, tại Miền
Nam mọi người đều nghe nói “Vui Xuân xin đừng quên Tết Mậu Thân”. Câu nói
đó, cho đến bây giờ vẫn còn ý nghĩa.
NHỮNG HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA VIỆT CỘNG NĂM 1968 TẠI HUẾ
1. Tại Phú Cam, khi Việt Cộng tiến vào làng này, lực lượng
nghĩa quân ở đây chiến đấu rất hăng say. Nhưng quân số Việt Cộng quá
đông, cấp tiểu đoàn, nên anh em nghĩa quân giấu súng và chạy lẫn lộn trong
dân chúng. Việt Cộng đã vào nhà thờ bắt tất cả các người đàn ông, thanh
niên đem đi.
Hơn 300
(nhiều tài liệu khác là hơn 500)
người đã bị bắt trong đó có Lê Hữu Bôi, Lê Hữu Bá..... hai người nầy từ
Nam Giao chạy về Phú Cam hy vọng nơi đây không có Việt Cộng. Họ đã trốn
trong nhà thờ để tránh bom đạn. Những người Phú Cam bị bắt, bị giết tập
thể tại khe Đá Mài thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc quận Nam Hòa, Thừa
Thiên. Xác chết nằm dưới khe, thịt thối rữa bị nước cuốn trôi đi, chỉ còn
sọ và xương lẫn lộn.
Tháng 10-1969, sau gần hai năm mới tìm được chỗ đó. Thân nhân đến nhận các
dấu vết như thẻ căn cước bọc nhựa, quần áo, đồ dùng, tràng hạt, tượng ảnh.
Trong số các di vật nầy có thẻ căn cước của Lê Hữu Bôi
(Bôi là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, năm 1963 nổi tiếng qua
phong trào tranh đấu của Phật tử chống Tổng Thống Ngô Đình Diệm).
Có những em học sinh bị bắt trong nhà thờ Phủ Cam, cũng bị giết chết tập
thể bằng đại liên, bằng mìn tại Khe Đá Mài như Bùi Kha (16 tuổi), Phan
Minh (16 tuổi), Nguyễn Duyệt (17 tuổi), v...v...... Đại úy Trung, khóa 16
Đà Lạt, sĩ quan liên lạc của Sư Đoàn 101 Dù Mỹ bị kẹt ở Phú Cam. Ông trốn
ra được và cùng lực lượng quân đội ta trở lại tái chiếm Phú Cam đã bị tử
trận.
2. Tại Thành Nội và Gia Hội là nơi Cộng Sản chiếm đóng rất lâu,
nhiều người bị bắt, bị đem ra xét xử. Cộng Sản đã lập ra tổ chức Liên
Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình đưa Giáo Sư Lê Văn Hảo
(Đại Học Văn Khoa Huê)
lên làm Chủ Tịch và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu
(Chánh
Đại Diện Miền Vạn Hạnh)
và Bà Nguyễn Đình Chi
(Nguyên Hiệu Trưởng Trường Đồng Khánh Huê)
làm Phó Chủ Tịch.
Nguy hiểm nhất là các phần tử theo phong trào tranh đấu chống chính quyền
Việt Nam Cộng Hoà năm 1966 như Hoàng Phủ Ngọc Tường
(giáo sư),
Hoàng Phủ Ngọc Phan
(sinh viên Y khoa),
Nguyễn Đắc Xuân
(sinh viên Sư Phạm),
Trần Quang Long
(sinh viên Sư Phạm),
Phan Chánh Dinh tức Phan Duy Nhân
(sinh viên),
v...v.....
Khi quân đội Chính Phủ ở Sài gòn ra Huế tái lập trật tự vào mùa hè 1966,
bọn chúng chạy vào chiến khu theo Việt Cộng, nay trở lại Huế, dẫn Việt
Cộng đi lùng bắt bạn bè, những sinh viên ở trong các chính đảng quốc gia
chống Cộng như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng và những anh
em công chức, cán bộ, cảnh sát, sĩ quan, v...v..... bị kẹt lại trong khu
vực Việt Cộng kiểm soát. Chúng lập tòa án nhân dân để xét xử họ trả thù
những người trước đây đã chống lại chúng. Trước Tết Mậu Thân mấy tháng, Lê
văn Hảo đã bị Cảnh Sát Thừa Thiên bắt giam vì lý do đã phát hành báo bí
mật tuyên truyền chống Mỹ, chống chiến tranh và ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam. Nhưng sau đó y đã làm đơn nhận lỗi và xin khoan hồng, đồng thời
Giáo Sư Lâm Ngọc Huỳnh, Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa cũng đã vận động xin
chính quyền Việt Nam Cộng Hoà tại tỉnh Thừa Thiên khoan hồng cho y nên
ông Đoàn Công Lập - Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên - đã trả tự do cho y.
Sau khi quân đội Việt Nam Cộng Hoà tái chiếm Thành Nội Huế, Lê Văn Hảo
chạy theo Việt Cộng ra Hà Nội và trở lại Huế năm 1975, được cho làm ở Ty
Thông Tin Văn Hóa. Nhân cơ hội được Cộng Sản cho đi Úc, Lê Văn Hảo đã
xin "tỵ nạn chính trị", hiện y đang sống ở Pháp. Trả lời cuộc phỏng vấn
của Đài BBC, y đã xác nhận việc Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan
và đồng bọn đã lập tòa án nhân dân trong Tết Mậu Thân để xét xử sinh viên
và những người quốc gia ở Huế là đúng. Y nói y không tham gia tòa án đó.
Việt Cộng đã bắt được ông Nguyễn Văn Đãi
(Phụ Tá Đại Biểu Chính Phủ),
ông Bảo Lộc
(Phó Tỉnh Trưởng)
tại
tư gia. Riêng ông Lê Đình Thương - Phó Thị Trưởng Huế - không chịu ra đầu
hàng, khi Việt Cộng tấn công vào, ông tự tử bằng lựu đạn. Nghị Sĩ Trần
Điền, Chủ Tịch Ủy Ban Canh Nông Thượng Nghị Viện, một trong những vị lãnh
đạo cao cấp của Hướng Đạo Việt Nam, đã từng làm Tỉnh Trưởng Quáng Trị,
làm giáo sư ở Huế, đã bị bắt và bị chôn sống.
Thiếu Tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên, nhà
ở 176 Bạch Đằng
(gần cầu Đông Ba)
Huế, trốn trong nhà đã ba bốn ngày. Việt Cộng vào nhà bắt vợ con ra đứng
giữa sân và tuyên bố nếu ông Kháng không ra trình diện thì sẽ tàn sát cả
nhà khiến ông phải ra nộp mạng. Việt Cộng đã trói tay ông, cột ông vào
cọc giữa sân, xẻo tai, cắt mũi, tra tấn cho đến chết, thật là dã man và
kinh hoàng.
Ông Trần Ngọc Lộ, Bí Thư Đại Việt Cách Mạng (ĐVCM) Quận Phú Vang, người
lập ra môn phái võ Thần Quyền ở Huế, bị bắt cùng với vợ của ông, đã bị
chúng giết để lại bầy con dại bơ vơ. Anh Trần Mậu Tý, thuộc Đặc Khu Sinh
Viên Đại Việt Cách Mạng ở Huế bị bắt và tra tấn dã man cho đến chết.
Con số đảng viên Đại Việt Cách Mạng chết tại Huế trong Tết Mậu Thân lên
đến trên 300 người, trước 1975, tôi có giữ danh sách đó, sau vì hoàn cảnh
phải thủ tiêu, nay đang sưu tầm lại. Bên Việt Nam Quốc Dân Đảng, có Giáo
sư Phạm Đức Phác, ông Lê Ngọc Kỳ, v...v..... là những đảng viên cao cấp
cũng bị Việt Cộng giết chết trong Tết Mậu Thân.
Việt Cộng đã tàn sát cả nhà bà Từ Thị Như Tùng và chồng là Trung Tá
Nguyễn Tuấn, chỉ huy Thiết Giáp ở Gò Vấp, chỉ có một em bé may mắn sống
sót hiện ở Mỹ. Ngày 9-2-1968, Tiểu Đoàn K.8 của Việt Cộng tấn công vào
làng Dương Lộc, nghĩa quân và dân làng chiến đấu quyết liệt, Việt Cộng
thiệt hại nặng. Sau khi nghĩa quân rút ra khỏi làng, Việt Cộng đã bắt
Linh mục Lê Văn Hộ và em Nguyễn Tiếp mới 13 tuổi, giúp lễ cho cha. Chúng
đã chôn sống Linh mục và em Tiếp tại vùng Chợ Cạn
(Triệu Phong).
Tại Phú Vang, Việt Cộng vào trường La San bắt ba Sư huynh và chôn sống
với đồng bào vô tội, Việt Cộng cũng bắt Linh mục Bửu Đồng đi và sau đó
đã giết ngài.
3. Những mồ chôn tập thể tại chùa áo Vàng
(đường Võ Tánh),
tại Sân Trường Gia Hội, phường Phú Cát hoặc vùng Phú Vang, Phú Thứ,
v...v..... hàng trăm nạn nhân bị chôn trong những mồ chôn tập thể, nạn
nhân bị đâm bằng lưỡi lê, bị đánh bằng cán cuốc vào sọ, bị bắn bằng súng
hay bị chôn sống, tay bị trói bằng giây điện hay giây tre, v...v.....
Ba bác sĩ Alterkoster, Discher và Krainick
(người Tây Đức),
giảng dạy tại Đại Học Y Khoa Huế cũng bị Việt Cộng giết trong Tết Mậu
Thân vì cho là CIA. ông Võ Thành Minh
(người thổi sáo kêu gọi hòa bình ở Genève, 1954),
Tết Mậu Thân 1968, ông đang ở trong từ đường cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự
Huế bị Việt Cộng bắt và đề nghị ông đứng ra làm "Chủ Tịch Liên Minh Dân
Tộc Dân Chủ Hòa Bình" của Việt Cộng. Ông từ chối, bị bắt lên núi, và bị
chúng giết. Những nơi khác ngoài Huế mà chúng tôi được biết, cũng không
kém phần dã man như ở quận Hoài Nhơn, Việt Cộng đã tàn sát 200 người một
lúc trong đó có cả em bé 12 - 13 tuổi, có các cụ già, vì tất cả những
người nầy đã cùng ông Nguyễn Giảng (ĐVCM) chống lại chúng, không chịu đầu
hàng. Nhân dân địa phương có lập bia kỷ niệm, nhưng bia đá nầy đã bị Việt
Cộng phá sau 30-4-1975.
ĐI TÌM XÁC CÁC NẠN NHÂN
Theo con số tổn thất về nhân mạng được chính quyền Việt Nam Cộng Hoà
công bố, tại Huế có khoảng 6.000 người chết trong đó về phía quân đội
Việt Nam Cộng Hoà có 384 người chết và 1.800 người bị thương, về phía
Mỹ có 147 chết và 857 người bị thương. Con số nầy đã được các sách vở, báo
chí thời đó ghi lại. Riêng cá nhân tôi trong thời gian làm Dân Biểu và
hoạt động cho Hội Nạn Nhân Cộng Sản trong Tết Mậu Thân tại Huế và Thừa
Thiên, chúng tôi ghi nhận được 4.000 gia đình có thân nhân chết, có khai
báo tên tuổi để xin trợ cấp. Thiệt hại ở các tỉnh khác, tôi không rõ.
Nhưng có lẽ không nơi nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà có số
tổn thất cao hơn Huế được, vì Huế đã bị Việt Cộng chiếm giữ trong thời
gian quá lâu.
Sau Tết Mậu Thân ít lâu, tình hình Huế và Thừa Thiên trở nên yên tĩnh, kế
hoạch bình định phát triển rất tốt Một số các gia đình nạn nhân bỗng nhiên
được người chết về báo mộng và họ bắt đầu đi tìm, nhờ đồng bào bí mật
hướng dẫn nên họ đã tìm ra các nạn nhân. Sau đó chính quyền Huế đã mở các
cuộc hành quân tìm xác nạn nhân và đã tìm được ở những nơi xa như Phú
Vang, Phú Thứ, v...v..... những hầm chôn tập thể. Những nơi trong thành
phố đã được phát giác rất sớm, khoảng trong vòng một tuần sau khi Việt
Cộng bị đẩy ra khỏi thành phố.
Nhưng những nơi xa, có nơi vài ba tháng, có nơi gần hai năm sau mới tìm
được như tại Khe Đá Mài mà chúng tôi đã nói trên đây.

Hài cốt nạn nhân của Việt Cộng Tết Mậu Thân
1968
Năm 1968 và 1969, có một ủy Ban đi tìm xác đã làm việc tích cực và họ cũng
đã vào Sài gòn thuyết trình và trưng bày bằng chứng tại Quốc Hội
(Hạ
Nghị Viện).
Theo tôi được biết ông Võ văn Bằng, Nghị Viên ở Thừa Thiên đã từng tham
gia các đoàn người đi tìm xác nạn nhân năm 1968 hiện đang có mặt ở quận
Cam, Nam Cali. Những buổi lễ tưởng niệm và an táng các nạn nhân tại Huế
được tổ chức nhiều lần: Tại núi Ba Vành vào mùa hè 1968 và tại núi Ba Tầng
(Ngự Bình)
vào tháng 10 năm 1969. Những nơi đó đã được xây dựng thành di tích, trồng
cây, dựng bia, v...v..... Ngày nay Việt Cộng đã cho lệnh phá các di tích
đó để cho hậu thế không còn nhắc nhở đến nữa. Viết về Mậu Thân 1968, có lẽ
phải đến cả cuốn sách dày. Đây chỉ là một vài điều nhỏ gợi nhớ mà thôi.
Ước mong những người trong cuộc, còn nhớ nhiều, biết nhiều sẽ đóng góp
thêm, lên tiếng bổ túc cho chúng tôi. Tết Mậu Thân là bài học cho người
quốc gia, cho các thế hệ mai sau. Khi chúng tôi đứng trước một mồ chôn tập
thể ở Huế, chúng tôi thấy trong đó có đủ mọi hạng người, không phân biệt
tôn giáo, đảng phái, địa phương hay thành phần xã hội. Tất cả đều là nạn
nhân của Cộng Sản, cùng chôn chung một hố. Khi thân nhân đến nhận xác
đem đi rồi, chỉ còn lại máu nạn nhân thấm vào đất. Và không ai phân biệt
được trong hố đất đó, đâu là máu của người Công Giáo hay Phật tử, đâu là
máu của quân nhân hay sinh viên học sinh, đâu là máu của cán bộ đảng nầy
hay đảng nọ. Tất cả chỉ là máu của người quốc gia, nạn nhân Cộng Sản mà
thôi.
Năm 1975, khi bước chân vào nhà tù Cộng Sản, chúng tôi cũng gặp đủ mọi
hạng người, thuộc đủ mọi tôn giáo, mọi thành phần xã hội. Nhà tù cũng
chẳng khác chi cái mồ chôn nạn nhân Việt Cộng trong Tết Mậu Thân. Khi
đất nước rơi vào tay Cộng Sản thì mọi người không phân biệt tôn giáo,
đảng phái đều là nạn nhân của Cộng Sản hết. Đó là bài học rất đắt giá
cho tất cả chúng ta.
Nguyễn Lý Tưởng
-------------------------------------------------------------

Friday, January 23, 2026
Friday, January 9, 2026
NGẪM VỀ CHỮ DÂN TỘC VIỆT NAM
NGUYỄN GIA VIỆT
Tuesday, December 23, 2025
Thursday, October 30, 2025
CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NỀN ĐỆ NHỨT CỘNG HÒA
Ls. Nguyễn Văn Chức
ĐS Henry Cabot Lodge - TT Ngô Đình Diệm.
Hồì 4:30 trưa thứ sáu, mùng 1/11/1963, nghĩa là khoảng 3 giờ sau khi tiếng súng đảo chánh bắt đầu nổ, TT Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Lodge.
Và đây là nội dung cuộc nói chuyện lần cuối cùng giữa vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam với viên đại sứ Mỹ.
Tổng thống Diệm: Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để
có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy những tiếng súng nổ,
nhưng không biết rõ thực hư. Vả lại bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn
và chính quyền Mỹ có lẽ không thể đưa ra một ý kiến về vấn đề này.
Tổng thống Diệm: Nhưng chắc chắn ngài cũng có những ý niệm đại khái về vấn
đề này. Dù sao, tôi cũng là một vị quốc trưởng. Tôi đã cố gắng làm bổn
phận trên tất cả.
Đại sứ Lodge: Dĩ nhiên ngài đã làm bổn phận của ngài. Như tôi đã nói với
ngài lần đầu tiên sáng hôm nay, tôi khâm phục sự can đảm của ngài và khâm
phục sự đóng góp to lớn của ngài đối với quê hương của ngài. Không ai có
thể lấy đi cái công của ngài đối với tất cả những gì ngài đã làm. Nhưng
bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn bản thân của ngài. Tôi được báo cáo
rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em
ngài bình yên đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức. Ngài có nghe thấy nói
điều đó không?
Tổng thống Diệm: Không (ngừng một lúc, TT Diệm nói tiếp) ngài có số điện
thoại của tôi.
Đại sứ Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể làm được điều gì cho sự an toàn bản
thân của ngài, thì xin ngài cứ gọi tôi.
Tổng thống Diệm: Tôi đang tìm cách lập lại trật tự.
Về cuộc nói chuyện nói trên giữa TT Diệm và đại sứ Lodge chúng ta chỉ cần
ghi nhận ba điểm sau đây:
Thứ nhất: cái bất lương của đại sứ Lodgẹ Ông đã dối trá khi nói với
TT Diệm: “Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể
trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng không rõ
thực hư”.
Thứ hai: cái ngu dấu đầu hở đuôi của nhà ngoại giao được coi là
thượng thặng của Mỹ. Thật vậy, ở câu trên, đại sứ Lodge vừa nói với TT
Diệm rằng ông chỉ nghe thấy tiếng súng nổ, mà không rõ thực hư. Thì ngay
câu dưới ông lại nói với TT Diệm rằng: “Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm
trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài đi ra ngoại
quốc nếu ngài từ chức”.
Thứ ba: cái khí phách của TT Diệm. Đến phút chót, và trong cơn nguy
khốn, trước mặt ngoại bang, ông vẫn giữ được thể thống của một người lãnh
đạo quốc gia, và tư cách của vị tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Ông
không hạ mình xuống xin ân huệ của ngoại bang. Như tổng thống Marcos của
Phi Luật Tân đã hạ mình xuống xin ân huệ của Mỹ, ngày 25/2/1986.
Hồi 5:30 chiều 1/11, tức là khoảng một giờ sau cuộc điện đàm giữa TT Diệm
và đại sứ Lodge, trung tướng Dung văn Minh gọi điện thoại cho ông Diệm và
đòi ông Diệm phải đầu hàng. Ông Diệm từ chối không muốn nói chuyện với
tướng Minh.
Hai giờ sau, tức là khoảng 7:30, tướng Minh lại gọi cho ông Diệm, ông Diệm
lại từ chối không nói chuyện. Tướng Minh rất tức giận về thái độ khinh bỉ
của ông Diệm.
Khoảng 8 giờ chiều, tướng Minh ra lệnh tấn công vào dinh Gia Long. Người
được chọn để thi hành cuộc tấn công là đại tá Nguyễn văn Thiệu, một sĩ
quan công giáo, lúc đó chỉ huy sư đoàn 5 bộ binh.
Một điều mà nhóm đảo chánh đã không ngờ đến, là khoảng 8 giờ chiều hôm đó,
anh em ông Diệm đã lên một chiếc xe hơi màu đen do ông Cao Xuân Vỹ lái, bí
mật ra khoải dinh Gia Long và đến tạm trú tại nhà Hoa kiều Mã Tuyên.
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2/11, đại tá Thiệu mở nhiều đợt tấn công với thiết
giáp và pháo binh vào dinh Gia Long. Nhưng các cuộc tấn công ấy đã bị đẩy
lui. Những quân nhân trung thành với ông Diệm đã chiến đấu vô cùng dũng
cảm, mặc dù thua sút về quân số, vũ khí, mặc dù không được tiếp tế và mặc
dù ở trong tình thế tuyệt vọng. Cuối cùng, nhóm đảo chánh đã phải cầu cứu
trung tá Nguyễn cao Kỳ cho phi cơ phóng pháo lên bắn phá thành Cộng Hòa để
hỗ trợ quân đảo chánh và áp đảo tinh thần những binh sĩ phòng thủ dinh Gia
Long.
Hồi 5 giờ sáng ngày 2/11, binh sĩ trong dinh Gia Long kéo cờ trắng đầu
hàng, sau khi được lệnh bằng điện thoại của ông Diệm.
Hồi 6:45, ông Diệm lại gọi điện thoại. Người nghe điện thoại là thiếu
tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Diệm cho tướng Khiêm biết ông và ông Nhu hiện
đang ẩn náu tại nhà thờ cha Tam, Chợ Lớn, và yêu cầu đem xe đến đưa về bộ
Tổng Tham Mưu gặp các tướng lãnh. Tướng Dương văn Minh bèn cử thiếu tướng
Mai hữu Xuân, đại tá Nguyễn văn Quang, đại tá Dương ngọc Lắm, thiếu tá
Dương hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn văn Nhung đem xe thiết giáp đi rước
những kẻ đầu hàng về bộ tổng tham mưu.
Đoàn xe rời bộ tổng tham mưu hồi 7:30. Tướng Đôn cho sửa soạn một căn phòng cho anh em ông Diệm, và mời bác sỉ Đinh Xuân Minh đến “săn sóc cho Cụ”.
Những gì xảy ra sau đó, đã được sách vở báo chí cũng như lịch sử ghi chép
đầy đủ. (xin qúy vị đọc bài “Bọn Ác Ôn Côn Đồ” của Tú Gàn vừa post lên Net
để biết rõ chi tiết diễn tiến…. bọn côn đồ phản loạn kia đã làm gì đối vởi
anh em TT Diệm trên đường về từ nhà thờ cha Tam trở về tổng tham mưu?)
Khoảng 8:30, chiếc xe thiết giáp về đỗ tại sân tổng tham mưu với hai xác
chết trên sàn xe. TT Diệm đã bị bắn đàng sau ót, ông Nhu bị bắn ở lưng và
bị đâm nhiều nhát dao trên ngực. Hai tay các nạn nhận đều bị trói quặt ra
đàng sau lưng.
Cuộc đảo chánh 1963 đã kết thúc bằng cái chết của ông Diệm và em ông, Nhu.
CHÁNH NGHĨA DÂN TỘC
Người ta đã suy nghĩ và đã viết nhiều về cái chết đó.
Có người cho là quả báo nhãn tiền: ông Diệm đã phạm tội ác đối với quốc
gia dân tộc, ông Diệm phải đền tội. Đó là cái nhìn của những kẻ ghét ông
Diệm.
Có người lại nghiêm khắc phê phán nhóm tướng lãnh đảo chánh là mọi rợ, Ông
Diệm đã ra đầu hàng, với sự thỏa thuận của các tướng lãnh. Ông Diệm phải
được đối xử như một kẻ đã đầu hàng. Nếu nhóm tướng lãnh đảo chánh không
coi ông Diệm là một tổng thống đầu hàng, thì ít nhất cũng nên có cái mã
thượng và phẩm cách của người quân nhân “thắng trận” để đối xử với một
hàng binh. Cùng lắm, họ có thể đưa ông Diệm ra trước tòa án để công lý tùy
nghi định tội. Tại sao lại phải giết một cách lén lút và hèn hạ như vậy?
Đó là cái nhìn của số đông, cái số đông gồm những kẻ thương mến ông Diệm,
cũng như những kẻ không thương mến nhưng không thù ghét ông Diệm.
Nhưng, lịch sử có cái nhìn riêng của nó. Cái chết của ông Diệm là một sự
cần thiết. Nó mang ý nghĩa trọn vẹn của một phủ định và một xác định. Nó
phủ nhận và thẳng tay xóa bỏ gía trị lịch sử và gía trị dân tộc của biến
cố 1963, đồng thời xác định bản chất đích thực của biến cố ấy, trước dân
tộc và lịch sử.
Thật vậy:
Biến cố ngày 1/11/1963 đã từng được tôn vinh là một cuộc vùng lên của nhân dân miền Nam và của cái gọi là “đại bộ phận của dân tộc VN”. Vùng lên để lật đổ một bạo quyền.
Nhân dân vùng lên, vì anh em ông Diệm là “những kẻ đại tội làm hư uế chánh
nghĩa dân tộc và làm suy nhược sức mạnh của miền Nam”.
Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm “phong kiến như vua, độc tài như cộng
sản”.
Nhân dân vùng lên, vì chế độ Ngô Đình Diệm là “một chế độ dùng bạo lực
thay chính trị, dùng khủng bố thay vì giáo dục”.
Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm “độc tài dộc tôn độc đảng”, và vì
“suốt chín năm nhà Ngô và đảng Cần Lao ngự trị tại miền Nam, ngoại trừ một
thiểu số thống trị với tất cả đặt quyền đặc lợi, còn thì nhân dân phải
sống khổ nhục sợ hãi không khác gì nhân dân miền Bắc đã sống dưới chế độ
Tần Thủy Hoàng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản”.
Nhân dân vùng lên, vì “chín năm cai trị là chín năm bạo trị, 15 triệu đồng
bào là gần 15 triệu nạn nhân, quân đội và phong trào đấu tranh của Phật
giáo chỉ là những lực lượng có duyên và phương tiện để thi hành bản án mà
gần 15 triệu đã tuyên án từ 9 năm qua”.
Nhân dân vùng lên, vì bạo quyền Ngô Đình Diệm “đã tiến hành những chính
sách tai hại không phải cho một người mà cho cả một dân tộc”, đã “dùng bạo
lực để hủy diệt một tôn giáo chỉ biết có tình thương” và “đã dùng gian trá
để đem nữa phần đất còn lại của dân tộc bán đứng cho CS miền Bắc”…
Trên đây là những nét chính, tổng qúat hóa tội ác của họ Ngô và được liệt
kê trong quyển VNMLQHT (trang 279, 232, 303, 305, 317, 330, 791, 793…) Vì
những tội ác ấy, nhân dân đã phải vùng lên.
Đó không phải là luận điệu của riêng ông Đỗ Mậu, mà còn là luận điệu của
cả cái tập đoàn đứng sau lưng ông ĐM, cũng là cái tập đoàn từng mệnh danh
là “đại bộ phận của dân tộc”.
Trong những tháng ngày sau đảo chánh, luận điệu trên dã trở thành chân lý
của những kẻ làm đảo chánh, cũng như của những kẻ hoan hô đảo chánh.
Các tướng Tôn Thất Đính, Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đặng văn Quang, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Trần văn Đôn, Đỗ Mậu ….vv… đã “anh dũng” đưa ra những lời tuyên bố lịch sử: “quân đội lãnh sứ mạng của nhân dân, đứng lên lật đổ Ngô Đình Diệm, vì chế độ Ngô Đình Diệm độc tài phản dân hại nước, và vì anh em họ Ngô bắt tay với Hà Nội để dâng hiến miền Nam cho cộng sản”.
Bản tuyên cáo chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng đọc ngày 2/11
cũng đã mở đầu bằng câu:
“cuộc cách mạng của toàn dân, thành công trong
vinh quang, đã chấm dứt một chế độ độc tài, tàn bạo, bất lực….. Đứng trước
sự thối nát của chính quyền Ngô đình Diệm, quân đội đã nhận thức sự cần
thiết phải giải thóat đồng bào để tiến tới một chế độ dân chủ thực sự, nên
quân đội, dưới sự lãnh đạo của hội đồng quân nhân cách mạng, đã cương
quyết vùng lên…”
Bản tuyên cáo của chánh phủ lâm thời VNCH cũng cùng một luận điệu đó. Và
bản hiến ước tạm thời của chính quyền “cách mạng” cũng đã mở đầu bằng lời
ca tụng “cuộc cách mạng chống độc tài đã
hoàn toàn thành công với truyền thống hy sinh phục vụ tổ quốc của quân đội
VNCH để dành lại cho dân tộc nền dân chủ tự do”
Nói tóm lại, Ngô Đình Diệm là một tên trọng tội, một tên đại gian đại ác,
một tên phản dân hại nước, một kẻ Toan bán đứng miền Nam cho CS… Quyền lợi
của quốc gia VN, và sự sống còn của dân tộc VN đòi hỏi rằng tên đại gian
đại ác ấy phải bị lật đổ và đền tội trước quốc dân.
Đó là chính nghĩa được khoác lên vai biến cố ngày 1/11/1963.
Câu hỏi được đặt ra: đã có chính nghĩa dân tộc sáng ngời như vậy tại
sao “cách mạng” 1963 lại phải lén lút và hèn hạ cho người ám sát tổng
thống Diệm trên chiếc xe thiết giáp di chuyển từ nhà thờ cha Tam về bộ
tổng tham mưu? Tại sao không đường đường chính chính đem tên tội đồ Ngô
Đình Diệm ra trước tòa, dù là tòa án nhân dân – để xét xử và sau khi tòa
tuyên án, hành quyết tên tội đồ trước khi mặt trời mọc? Tại sao lại phải
hành động lén lút và đê tiện nhưng những kẻ đâm thuê chém mướn?
Chánh nghĩa dân tộc của cách mạng để đâu? Liêm sỉ của cách mạng để đâu?
Khí phách của các tướng lãnh để đâu?
LIÊM SỈ CÁCH MẠNG
Hồi 8:30 ngày 2/11/63, chiếc xe thiết giáp từ nhà thờ cha Tam trở về đỗ tại sân bộ tổng tham mưu.
Khi nhìn thấy hai xác chết bê bết máu của anh em ông Diệm, các tướng đảo
chánh đã hoảng hốt cực độ. Trong cơn hốt hoảng đó, họ đã tuyên bố với báo
chí rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Nhưng ngay sau đó, Lucien Conein nhắc
cho họ biết rằng anh em ông Diệm là người công giáo, vì vậy lời giải thích
“anh em ông Diệm tự sát” sẽ chẳng được ai tin và chỉ càng gieo thêm nghi
ngờ. Các tướng lãnh bèn đổi giọng và tuyên bố với báo chí rằng “đó là một
cuộc tự sát vì rủi ro”.
Luận điện này đã trở thành lập trường chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng và của chính quyền cách mạng.
Hiển nhiên, các tướng đảo chánh đã nói dối. Nhưng vấn đề đặt ra: tại sao
họ phải nói dối? Tại sao họ phải cúi mặt không dám nhìn sự thật và phải
che dấu sự thật?
Tướng Dương văn Minh là kẻ đã ra lệnh cho đàn em giết ông Diệm để trừ hậu
họa. Nhưng sau khi ông Diệm chết, tướng Minh không dám nhìn nhận sự thật.
Tướng Minh không phải là kẻ chiến bại, mà là kẻ chiến thắng ông Diệm, đồng
thời là chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng và người hùng của cách mạng.
Tại sao tướng Minh lại phải nói dối? Tại sao lại phải hèn hạ?
Chưa hết. Tướng Dương văn Minh chẳng những không dám nhìn nhận hành động
của mình, mà còn tìm cách chối tội và đổ lỗi cho người khác.
Trong cuốn Les Guerres du Viet am và Our Endless Wars, trung tướng Trần
văn Đôn đã viết như sau: “Big Minh không bao giờ nhận trách nhiệm về vụ cố
sát anh em ông Diệm. Mỗi khi vấn đề được nêu ra, ông ta lại tìm cách lôi
kéo tôi vàọ Trong thời gian bị lưu đày tại Vọng Các, big Minh đã thanh
minh với một linh mục công giáo rằng ông không có trách nhiệm gì về vụ
giết ông Diệm, big Minh còn khuyên linh mục, nếu muốn biết rõ câu chuyện,
thì nên đến hỏi tôi” (Our Endless Wars, trang 113).
Tướng Dương văn Minh, lãnh tụ cuôc vùng dậy của nhân dân VN và của cái gọi
là đại bộ phận dân tộc VN, đã phạm hai cái hèn.
Ông Diệm đã ra đầu hàng, đã được các tướng lãnh chấp nhận cho đầu hàng, và
đã được các tướng lãnh cử người đưa xe đến chở về đại bản doanh của cuôc
đảo chánh. Nhưng tướng Minh đã lén lút cho bộ hạ giết anh em ông Diệm trên
xe thiết giáp. Đó là cái hèn thứ nhất.
Sau khi đã cho người ám sát ông Diệm, tướng Minh đã không dám nhìn nhận
hành động của mình. Đó la cái hèn thứ hai.
Cái hèn của tướng Minh cũng là cái hèn của nhóm tướng lãnh ngày 1/11/63,
những kẻ không có chánh nghĩa hoặc biết rằng mình không có chánh nghĩa,
hoặc nghi ngờ về chánh nghĩa của mình. Bởi vì: nếu họ có chánh nghĩa, nếu
qủa thật họ đã vì dân vì nước tự động đứng lên để diệt trừ một đai họa cho
dân tộc, nếu qủa thât họ đã quân đội và cái “đại bộ phận của dân tộc” đã
vùng lên lật đổ một bạo quyền để cứu lấy tổ quốc VN, thì việc giết ông
Diệm phải được coi là một hành vi chánh đáng hợp tình hợp lý hợp lòng dân
và hợp lịch sử. Và những kẻ đã ra tay giết ông Diệm có quyền tự hào về
hành vi đó.
Còn gì chánh đáng hơn là thay mặt nhân dân diệt trừ một tên phản quốc, và
diệt trừ mọi mầm mống phản loạn sau này? Diệt trừ bằng thủ đoạn giết lén
tuy không đường đường chính chính như diệt trừ bằng một bản án tử hình của
tòa án, nhưng xét cho kỹ, cũng không có gì đáng hổ thẹn. Cách mạng nào mà
không đổ máu? Cách mạng nào mà không giết? Mà giết thì đã sao? Nhất là
giết một tên “đại gian đại ác, tội đồ của dân tộc”.
Thế thì tại sao lại phải nói dối, tại sao phải chối tội và tìm cách đổ tội
cho người khác?
Câu trả lời là: những kẻ đó không có chánh nghĩa. Vì vậy phải hèn hạ, phải
giết lén, phải nói dối, phải chối tội và đổ tội lẫn cho nhau.
KHÍ PHÁCH TƯỚNG LÃNH
Tại sao các tướng lãnh không có được cái khí phách tối thiểu và tinh thần
liên đới trách nhiệm để tuyên bố rằng: ông Diệm có tội với dân tộc, cách
mạng đã giết ông để trừ hậu họa. Nếu không được cái khí phách tối thiểu
đó, thì ít nhất cũng phải có được cái liêm sĩ tối thiểu để nói sự thật với
quốc dân. Nói rằng: ông Diệm đã bị giết ngoài ý muốn và ngoài dự liệu của
các tướng đảo chánh.
Tại sao lại lừa bịp quốc dân và sống sượng nói dối rằng người chết đã tự
sát?
Là vì: họ không có chánh nghĩa, không kết hợp và hành động vì chánh nghĩa,
vì vậy đã phải nói dối, nói quanh, chối tội và đổ tội lẫn cho nhau. Thật
là mỉa mai: người sống sợ người chết, và kẻ thắng trận sợ kẻ bại trận.
Đúng là một lũ đầy tớ giết chủ như trung tướng Nguyễn chánh Thi đã nhận
định một cách sâu sắc. Và giết chủ rồi, lũ đầy tớ nhìn nhau, lo sợ.
Vẫn chưa hết. Trong cuốn Our Endless War và Les Guerres du Vietnam, tướng
Trần văn Đôn còn viết rằng: “trưa mùng 2/11, xác hai anh em ông Diệm được
di chuyển về bệnh viện Saint Paul. Sáng hôm sau, ông Minh và tôi đến viếng
thăm ông bà Trần Trung Dung tại nhà. Bà Dung là cháu ruột ông Diệm. Ông
Minh nói với bà Dung: chúng tôi đến đây không phải chia buồn. Chúng tôi hy
vọng bà hiểu cho rằng cái chết của ông Diệm và ông Nhu đã xảy ra như là
một sự ngẫu nhiên đáng tiếc lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành. Chúng tôi
rất buồn, nhưng bây giờ sự việc đã xảy ra, chúng tôi không thể làm gì được
nữa. Chúng tôi mong bà thu xếp lo việc chôn cất” (Our Endless War, trang
111).
Một lân nữa, tướng Dương văn Minh lại nói dối, lại chối tội. Lúc này ông
không còn là trung tướng Dương văn Minh nữa, mà là đại tướng Dương văn
Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, quốc trưởng của nước VN, và
“người hùng” của dân tộc. Ông không chối tội trước quốc dân, trước báo
chí, hoặc trước đám đông, mà chối tội trước người cháu gái của ông Diệm.
Tướng Minh nói rằng cái chết của anh em ông Diệm đã xảy ra như một sự tình
cờ ngẫu nhiên. Sự dối trá thật là trắng trợn. Cái chết của anh em ông Diệm
đã không xảy ra như một sự tình cờ, mà đã xảy ra theo kế hoạch của tướng
Minh và với mệnh lệnh của tướng Minh.
Tướng Minh còn nói rằng “cái chết ấy đã xảy ra trong lúc cuộc đảo chánh
đang tiến hành”. Tướng Minh lại nói dối. Anh em ông Diệm đã bị giết trên
chiếc xe thiết giáp do chính các tướng lãnh đảo chánh gửi đến để đón ông
về bộ tổng tham mưu. Lúc đó, cuộc đảo chánh đã chấm dứt. Chấm dứt từ lâu.
Lúc đó các tưởng đảo chánh đã bắt đầu ăn mừng “cách mạng thành công” và
bắt đầu chia tiền.
THẰNG HÈN VÀ THẰNG NÓI LÁO
Năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Đại tướng Dương văn Minh
nạp đơn ứng cử. Vấn đề giết ông Diệm lại được đặt ra. Một quyển sách mang
tên “Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống” xuất hiện. Báo chí lai khơi đống
tro của lịch sử, và những người trong cuộc đã có dịp lên tiếng về cái chết
của ông Diệm.
Ứng cử viên tổng thống Dương văn Minh, trong nhiều cuộc phỏng vấn, tuyên
bố rằng ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh em ông Diệm
trong cuộc đảo chánh 1963. Ứng cử viên Dương văn Minh nói: “Thiệu, lúc đó
một đại tá tham gia cuộc đảo chánh, đã không đem quân vào dinh tổng thống
đúng thời điểm để ngăn chặn Ngô Đình Diệm trốn thoát”. Theo ông Minh, nếu
anh em ông Diệm bị bắt giữ ngay trong dinh Gia Long, họ đã không bị giết.
(Tài liệu ngày 20/7/71 về VN tại thư viện quốc hội Mỹ ghi như sau: “Minh
said Thieu, then a colonel who had participated in the coup, had failed to
bring his troops to the presidential palace in time to prevent Diem from
escaping. Minh held that if Diem and his brother had been taken into
custody at the palace they would not have been murdered”).
Ứng cử viên đương kim tổng thống Nguyễn văn Thiệu, khi thấy tướng Minh
liên can mình vào vụ ám sát ông Diệm, đã chửi tướng Minh là thằng hèn và
thằng nói láo.
Ông Thiệu nói: lúc đó ông được tướng Trần thiện Khiêm, bây giờ là thủ
tướng cho biết Dương văn Minh đã nói với ông ta (tức Trần thiện Khiêm)
rằng: đảo chánh phiền phức và khó khăn quá, chi bằng áp dụng phương thức
dễ nhất, là ám sát Diệm. (tài liệu ngày 20/7/71 ghi như sau: Thieu called
Minh a coward and a liar when linking him to the Diem assassination… Thieu
said at the time he had been informed by gen. Tran thien Khiem, now
premier, that Minh had told him the coup was so complicated and difficult
that the easiest way is to assassinate Diem).
Hồ sơ lưu trữ tại thư viện quốc hội Hoa Kỳ ngày 20 và 21/7/71 có ghi rõ
những lời nói trên của đại tướng Dương văn Minh, kèm theo lời của đương
kim tổng thống VN Nguyễn văn Thiệu gọi cựu quốc trưởng VN Dương văn Minh,
chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, là “thằng hèn và thằng nói
láo”.
Tướng Nguyễn văn Thiệu chửi tướng Dương văn Minh là thằng hèn và thằng
nói láo. Lời chửi sâu sắc và xác đáng này cũng có thể dùng để nói về toàn
thể hội đồng quân nhân cách mạng 1963, trong đó có tướng Thiệu, trong vụ
ám sát ông Diệm và giải thích cái chết của ông Diệm.
Quả thật ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Bởi chính cái gian dối
hèn hạ của những kẻ đã lật đổ và giết ông. Kẻ thắng trận phải run phải sợ
cúi mặt trước kẻ bại trận. Và đổ tội lẫn cho nhau, nguyền rủa lẫn nhau.Ông
Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Chính cái gian dối hèn hạ của những
kẻ giết ông đã phơi bày thực chất của nhóm người làm đảo chánh và phơi bày
cái ý nghĩa đích thực của biến cố 1963. Một nhóm người không có chính
nghĩa. Một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ xướng và để phục vụ mưu đồ của
ngoại bang. Một “lũ đầy tớ giết chủ” như lời nhận định của tướng Nguyễn
Chánh Thi Một vụ “giết mướn”, như lời phê phán của nhà văn quân đội Nguyễn
Đạt Thịnh.
BA TRIỆU ĐỒNG (VN) CỦA CIA
Như đã trình bày ở chương 6 về cuộc đảo chánh, ngày 30/10/1963 tức là hai
ngày trước khi cuộc đảo chánh bùng nổ, đại sứ Lodge đã gửi về tòa Bạch Ốc
một công điện gồm 13 điểm. Điểm 11, đại sứ Lodge đề cập đến lời yêu cầu
của các tướng đảo chánh muốn có một số tiền để “mua chuộc phe chống đối”.
Theo các tài liệu còn lưu trữ tại thư viện quốc hội Mỹ, thì hôm đảo chánh
Lucien Conein đã đến bộ ổng tham mưu trao một gói bạc ba triệu bạc VN
($3,000,000 đồng) cho tướng Trần văn Đôn, gọi là để “mua chuộc phe chống
đối nếu cần”.
Lucien Conein
Trong quyển VNMLQHT, ông Đỗ Mậu cũng viết: “Conein bèn mặc quân phục mang theo một khẩu 375 Magnum và một gói tiền độ 3 triệu đồng bạc rồi đến bộ tổng tham mưu”. Nhưng ông ĐM không biết rõ mục đích và số phận của số tiền đó. Vì vậy, ông viết tiếp: “cũng cần nói rõ rằng số tiền ba triệu đồng VN do Conein mang đến đã không được một tướng lãnh nào hay biết trừ tướng Đôn. Tướng Đôn không bao giờ trình bày cho hội đồng tướng lãnh biết có nhận số tiền đó của Conein hay không, và nếu có thì đã xử dụng vào việc gì”. (trang 816).
Trong quyển Việt Nam Nhân Chứng, tứơng Đôn nhình nhận có đươc Conein trao
cho số bạc ba triệu, và ông đã “tặng cho các bạn”, chứ không bỏ vào túi.
Ông viết: “Đúng 1:30 trưa, ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin
đặc biệt để liên lạc vơi đại sứ Mỹ và một bao tiền ba triệu bạc VN. Đảo
chánh vừa thành công, trong không khí rộn ràng đó, tôi có tặng cho các bạn
một số tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị mà không đòi làm biên nhận đầy đủ. Đến
năm 1971, tôi ra lệnh cho thiếu tá Đặng văn Hoa tìm lục lai các biên nhận
về việc ghi số tiền ba triệu bạc của Conein, thì th/tá Đặng văn Hoa làm tờ
trình và một số các biên nhận. Tôi xin đính kèm theo đây để chứng minh.
Tôi không tổ chức đảo chánh để kiếm số bạc như vậỵ Vì lúc đó mấy triệu bạc
VN đối với tôi không phải là số tiền mà tôi khao khát” (VN Nhân Chứng,
TVD, trang 211).
Viết như vậy, tướng Đôn đã muốn thanh minh cho sự trong sạch của ông.
Nhưng ông đã làm một công việc thừa thãị Bởi lẽ: không ai kết tội tướng
Đôn nhận tiền của Mỹ để bỏ vào túi riêng. Người ta kết tội các tướng đảo
chánh đã làm như nhuốc cuộc đảo chánh, và làm nhơ nhuốc Quân Lực VNCH.
Người ta kết tội các tướng lãnh đã xử sự như những tay sai của Mỹ, trong
vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.
Chúng ta hãy đọc kỹ phiếu đệ trình của th/tá Hoa, được tướng Đôn công bố
và đính kèm trong phần phụ lục của quyển VN Nhân Chứng của ông, để có một
ý niệm.
Phiếu đệ trình,
ngày 14 tháng 8 năm 1971
Trích yếu: Về số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày Cách mạng 1/11/63.
Kính thưa trung tướng,
Số bạc 3 triệu đồng của ông Conein cho mượn thì đã được trung tướng chỉ thị cấp cho những người sau đây:
Ngày 1/11/63, T/T/TMT Trần thiện Khiêm nhận ………………………..500,000 $
(do đạI tá Đặng văn Quang làm biên nhận)
Ngày 1/11/63, T/T Tôn Thất Đính tư lệnh quân đoàn 3 nhận ……………500,000 $
(do đại úy Phạm viết Hùng nhận)
Ngày 10/11/63, TT Tôn thất Đính có nhân thêm ………………………100,000 $
Ngày 4/11/63, tặng sư đoàn 5 …………………………………………….50,000 $
(do đại tá Nguyễn văn Thiệu nhận)
Ngày 5/11/63, tặng liên đoàn thủy quân lục chiến của đại tá Lê nguyên Khang ..100,00$ (do đại úy Quế nhận)
Ngày 5/11/63, đại tá Trần ngọc Huyến thị trưởng Đàlạt nhận……………100,000$
Ngày 9/11/63, thiếu tá Phan hòa Hiệp trường thiết giáp nhận …………100,000$
Ngày 19/11/63, đại úy Đào ngọc Diệp câu lạc bộ tổng tham mưu nhận…100,000$
Tổng cộng ……………………………………………………………1,550,000$
Tất cả số tiền 1,550,000 $ trên đây đều có biên nhận (đính kèm).
Như vậy còn lại 1,450,000 $, trung tướng cũng tặng cho anh em nhưng không có chữ ký biên nhận.
Nếu tôi nhớ không lầm thì trung tướng đã tặng cho các ông sau đây:
Trung tướng Dương văn Minh
Trung tướng Lê văn Kim
Trung tướng Tôn thất Đính
Thiếu tướng Nguyễn hữu Có
Thiếu tướng Trần ngọc Tám
Trung tướng Nguyễn Khánh
Trung tướng Nguyễn cao Trí
Ngày 14 tháng 8 năm 1971
Ký tên
Hoa
Đọc phiếu trình trên đây, người ta thấy rõ số tiền ba triệu đã được tuớng
Đôn chia ra làm haị Một nửa “tặng” cho các đơn vị đảo chánh gọi là tiền ủy
lạọ Một nữa “tặng” cho các bạn !
Trong những ngườI nhận tiền “ủy lạo”, tướng Trần thiện Khiêm, tham mưu
trưởng QLVNCH, nhận 500,000$.
Tướng Tôn thất Đính, tư lệnh quân đoàn 3 kiêm tổng trấn Saigon-Gia Định, nhận 600,000$.
Số còn lại chia cho sư đoàn 5, liên đoàn thủy quân lục chiến, trường thiết giáp, câu lạc bộ tổng tham mưu và đại tá thị trưởng Dalat, Trần ngoc Huyến.
Trong những người được “tặng” tiền, có các tướng Dương văn Minh, Lê văn
Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn hữu Có, Trần văn Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ cao Trí
(riêng tướng Dương văn Minh còn được hưởng số bạc 6 ngàn Mỹ kim lấy được trong chiếc cặp của TT Diệm).
Nói tóm lại: tất cả tướng tá có quân hoặc có công tham dự và cuộc đảo
chánh, đều được “ủy lạo” hoặc “tặng tiền”. Nói cách khác: cuộc đảo chánh
năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng (tặng).
Và đây là điều quan trọng: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng bằng tiền của CIA, do đích thân CIA đưa đến.
Vấn dề đặt ra: các tướng đảo chánh đã xin tiền, hay chính người Mỹ đã
tự động đem đến?
Theo như công điện ngày 30/10/63 của của đ/s Lodge gửi cho cố vấn an ninh
tòa Bạch Ốc thì các tướng đảo chánh đã “yêu cầu” được có một số tiền để
dùng vào việc mua chuộc phe chống đối, nếu cần. Điểm 11 của công điện viết
như sau: “As to requests from the Generals, they may well have need of
funds at the last movnent with which to buy off potential opposition”. Tạm
hiểu như sau: Theo lời yêu cầu của các tướng lãnh, họ có thể cần một số
tiền vào phút chót để mua chuộc (những kẻ) chống đối có thể xuất hiện.
Tức là: các tướng lãnh đảo chánh đã xin tiền. Và xin tiền với danh nghĩa
để mua chuộc phe chống đối (các sĩ quan còn trung thành với ông Diệm).
Theo những cuốn hồi ký của tướng Đôn (Our Endless War, Les Guerres du
Vietnam, và Nhân Chứng VN), thì cuộc đảo chánh năm 1963 là một “vấn đề
hoàn toàn nội bộ của VN”. Tướng Đôn đã vô tình hay hữu ý không biết đến
nội dung bức công điện của đại sứ Lodge về vấn đề các tướng đảo chánh đã
xin tiền. Ông mô tả Lucien Conein như một bà phước tự động đem tiền đến
cho các tướng xử du.ng. Trong cả hai trường hợp (các tướng xin tiền, hoặc
Conein tự động đem tiền đến), việc cung cấp số bạc ba triệu đã được chính
quyền Mỹ sắp đặt và quyết định trước. Rất có thể các tướng đảo chánh đã
xin, cũng rất có thể các tướng lãnh đã không xin. Nhưng trong cả hai
trường hợp, họ đã ngửa tay ra nhận !
Hành động ngửa tay nhận tiền của các tướng đảo chánh đã làm nhơ
nhuốc cuộc đảo chánh. Họ đã làm nhục chính họ, điều đó không quan hê.. Họ
đã sỉ nhục Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ..!!
Phiếu đệ trình phát tiền do tướng Đôn công bố có nhiều điều làm cho người
ta phải thắc mắc.
1/ Trích yếu của phiếu trình có ghi: “về số bạc ba triệu bạc của ông
Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63.
Trước hết, số bạc ba triệu đồng (VN) đã do chính quyền Mỹ cung cấp, chứ
không phải tiền ông Conein cho mượn. Điều này không cần phải chứng minh,
nó đã đi vào lãnh vực hiểu biết công cộng, cũng như đã được các tài liệu
của Mỹ xác nhận. Thâm tâm các tướng Đôn, Minh, Đính, Kim Khiêm cũng biết
điều đó. Vậy thì, tại sao trong phiếu trình lại ghi là tiền ông Conein cho
mượn? Và nếu là tiền ông Conein cho mượn thì các tướng đảo chánh đã trả
lại cho ông Conein chưa? Nếu trả rồi, chắc chắn tướng Đôn sẽ thấy có bổn
phận phải xuất trình bằng chứng, cũng như ông đã thấy có bổn phận phải
xuất trình bằng chứng về sự chi tiêu số bạc.
Thứ đến, phiếu trình ghi rằng số tiền ấy dùng để thù lao các đơn vị trong
ngày cách mạng 1/11/63. Thù lao là trả công. Tại sao lại ghi như vậy?
Người ta lại nghĩ rằng tướng Đôn đã không đọc kỷ phiếu trình, trước khi
công bố.
Những chi tiết nói trên không nên có trong phiếu trình. Dư luận đã từng
cười ra nước mắt, nay một lân nữa lại phải cười ra nước mắt, và thương hại
cho cái gọi là cuộc cách mạng 1963.
2/ Phiếu trình của thiếu tá Hoa đề ngày 14/8/1971, tức là gần 8 năm sau
cuộc đảo chánh. Traong quyển VN Nhân Chứng, tướng Đôn cũng đã viết rõ: năm
1963, ông tặng tiền mà không làm biên nhận, đến năm 1971, ông mới ra lệnh
cho thiếu tá Hoa tìm lại các biên nhận và lập phiếu trình.
Câu hỏi được đặt ra: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập
phiếu trình về số bạc đã chi tiêu năm 1963?
Như chúng ta đã biết: năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ 2. Năm
đó, tướng Dương văn Minh ra ứng cử: vấn đề ông Diệm và cuộc đảo chánh 1963
lại được đặt ra trước công luận. Và như trên đã trình bày, ngày 20 và 21
tháng 7 năm đó, hai ông Nguyễn văn Thiệu và Dương văn Minh chửi lộn nhau
về cái chết của ông Diệm.
Năm 1971 cũng là năm bầu cử Hạ Nghị viện khóa 2. Ngày bỏ phiếu là
30/8/1971. Tướng Trần văn Đôn ra tranh cử dân biểu tại đơn vị Quảng Ngãi.
Và ông đắc cử. Những sự việc nói trên có thể trả lời cho câu hỏi: lý do
nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc ba
triệu đã chi tiêu năm 1963.
Tôi muốn nói với các tướng đảo chánh và những kẻ vẫn lớn tiếng ca ngợi biến cố 1963 và cuộc vùng dậy của đại bộ phận dân tộc rằng: hãy có can đảm nhìn vào sự thật.
Biến cố ngày 1/11/1963 chỉ là một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ mưu và nhằm phục vụ quyền lợi của ngoại bang. Cuộc tạo phản ấy đã được thi hành bởi những tay sai bản xứ. Những kẻ này đã ngửa tay nhận tiền của ngoại bang. Và: đảo chánh xong rồi, họ đã chia nhau số tiền ấy, mặc dù chẳng được bao nhiêu.
Thật là nhục! Nhục cho những tướng lãnh đảo chánh. Nhục cho cuộc đảo chánh. Và nhục lây cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
(Việt Nam Chính Sử, Ls. Nguyễn Văn Chức, trang 86-95).





