Monday, September 16, 2024

SỬ GIA TRẦN TRỌNG KIM VIẾT VỀ CỘNG SẢN

 

Trần Trọng Kim (1883-1953)

Thủ Tướng Chính Phủ Trần Trọng Kim (17/4/1945 – 19/8/1945) bị Việt Minh cướp chính quyền, nhân cơ hội sau ngày Nhật bị Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử đã tạo ra một khoảng trống chính trị. Ông Trần Trọng Kim là một trí thức yêu nước,có tài. Trong bốn tháng điều hành chính phủ, ông đã thực hiện: Sửa đổi hành chánh, hợp nhất hai chính phủ Bảo Hộ và Nam Triều, thay thế công chức Pháp bằng công chức Việt, ra lệnh dạy tiếng Việt tại các trường trung tiểu học, dự định thống nhất pháp luật ba kỳ, tổ chức những đoàn Thanh Niên Tiền Phong, chiến dịch chống nạn đói, mang gạo từ Nam ra Bắc cứu đói…

Là một nhân chứng lịch sử, ông Trần Trọng Kim đã ghi lại những sự kiện xảy ra trong quyển “Một Cơn Gió Bụi.” Hồi ký này viết từ 1949, xuất bản 1969. Sau đây là một số trang được chụp ra từ quyển sách ấy.

Tuesday, August 27, 2024

HỒ CHÍ MINH CHUẨN BỊ CHO CUỘC CƯỚP CHÍNH QUYỀN VÀO THÁNG 8 NĂM 1945 VÀ 02 THÁNG 09 NĂM 1945

 Khi phe đồng minh trên đà thắng khối Fascist trong đó gồm có Nhật tại Đông Dương thì phe cộng sản đã có chương trình cho tình hình biến chuyển được coi là rối ben. Hồ Chí Minh(HCM) đã dọn đường nhiều tháng trước khi có biến cố vào tháng 8/1945.

Tháng 7/1945 “Deer” team OSS của tình báo Hoa Kỳ nhảy vào miền Bắc Việt Nam. Hai bên OSS và HCM đã gặp nhau. Lúc này HCM đang bị bệnh kiết lỵ và đường ruột bị nhiễm trùng rất nặng. Nhân viên y tế của OSS đã chuẩn bệnh và đoán Hồ khó qua khỏi, nhưng ông ta được tận tình giúp và thoát chết.

Could the war in Vietnam been avoided? Cuộc chiến tranh Việt Nam có thể không xảy ra? Đây là câu hỏi của một số bài viết, trong đó đưa ra những trường hợp, sự kiện (facts):

  • Pháp đã trao độc lập cho Việt Nam vào 3/1945 và vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập. Hòa ước 1884 đã bị xé bỏ. Ngay cả HCM vào 7/1945 cũng đã ký một văn kiện với Mỹ là hợp tác với chính phủ Trần Trọng Kim.
  • Nếu người Mỹ (bộ phận y tế thuộc OSS) không cho thuốc HCM uống để trị bệnh kiết lỵ thì Hồ chắc chắn không sống sót. HCM chết lúc này thì khó ai thay thế để tiếp tục có những thủ đoạn gian manh như Hồ.
  • Khi đã biết âm mưu của HCM là thừa lệnh quốc tế cộng sản nhuộm đỏ cả Đông Dương (sau khi Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 đã bị vô hiệu hóa) thì chính phủ Pháp đã tuyên chiến với Hồ vào 9/1946. Tuy nhiên, trước khi thật sự có chiến tranh chính phủ Pháp đã cho tướng Jean Fonde nói chuyện với tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, mục đích là khuyên Giáp và HCM nên suy  nghĩ lại vì chiến tranh sẽ gây nhiều hệ lụy thảm khốc. Giáp trả lời ngay rằng giết cả triệu dân Việt cũng không quan trọng vì tất cả phục vụ cho mục tiêu chính trị.
    https://www.youtube.com/watch?v=w5EAJmxBK0w
  • Dĩ nhiên còn những sự kiện nữa để chứng minh rằng không cần cộng sản Việt Nam vẫn có độc lập. Cộng sản chỉ mang đến tai họa mà thôi.

HCM biết rằng Hoa Kỳ đã cho phép Pháp tái chiếm Đông Dương để diệt trừ cộng sản qua hội nghị Potsdam vào 7/1945. Lúc này khoảng ngày 15/8/1945 theo lời kể của tác giả Patti:

Tại Hà Nội,  Hồ và Archimedes Patti, trưởng cơ quan tình báo OSS của Hoa Kỳ, có buổi nói chuyện. HCM quyết làm ra chiến tranh nếu Pháp tái chiếm, dù có tiêu diệt hết sự sống của mỗi đàn ông, đàn bà, và trẻ em. Chính sách “tiêu thổ tới cùng” (scorched earth to the end) của HCM mà qua lần đối thoại này đã làm cho ông Patti không bao giờ quên những lời nói quá ác độc đó.

This statement from a man who was a master of understated diplomacy was, I knew, not an idle threat and I still remember it vividly (Why Viet Nam, page 4) – Lời nói này từ miệng của một người mà người này là tổ sư của lối ngoại giao gian manh, tôi đã biết, đó không là một đe dọa vu vơ và tôi vẫn còn nhớ nó một cách rõ ràng.

Trở về những tháng đầu của 1945. Khi biết phe đồng minh đang thắng thế ở Âu Châu thì tại Á Châu Nhật đang lo sợ sự đổ bộ của đồng minh trên vùng miền mà Nhật đang chiếm đóng. Như trên, Nhật đảo chánh Pháp ngày 9/3/1945. Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11/3/1945 và xé Hòa Ước 1884 với Pháp. Cụ Trần Trọng Kim được mời từ Thái Lan về thành lập chính phủ ngày 17/4/1945.

Chính phủ Trần Trọng Kim gồm những nhân tài lãnh đạo và được dân chúng ủng hộ. Chính phủ đã sửa đổi hành chánh để hợp nhất hai chính quyền bảo hộ và Nam triều, thay thế công chức Pháp bằng công chức Việt, dự định thống nhất pháp luật ba kỳ để tránh lạm quyền, tổ chức những đoàn thanh niên tiền phong, chiến dịch chống nạn đói. Có những lần gạo được mang từ Nam ra Bắc đã bị Việt Minh chặn lại cướp lấy.

Một số cơ sở chính phủ vẫn còn người Nhật điều hành.  Buổi xuống đường ngày 17/8/1945 tại Nhà Hát ở Hà Nội là để nói lên tinh thần độc lập và ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Trong lúc các diễn giả đang hô hào dân chúng thì Việt Minh vào hạ cờ vàng ba sọc đỏ của chính phủ. Hai ngày sau, tức 19/8/1945, Việt Minh tổ chức một cuộc xuống đường quy mô hơn cũng tại Nhà Hát Lớn, và sau đó chiếm cứ các công sở.

Để được “công nhận” cái “chính phủ” HCM sắp ra mắt vào ngày 2/9/1945, Hồ đã thực hiện một số màn ngoạn mục nhắm vào những người Mỹ.

Ngày 25/8/1945, trên các đài phát thanh đã kêu gọi dân xuống đường ngày 26/8/1945 để  nghênh đón “phái bộ đồng minh”. Trên tờ Cứu Quốc ra ngày 29/8/1945 cũng có đăng về tin này, và họ còn dùng chữ “vĩ nhân“ để nói về người Mỹ. Sau đó chỉ huy trưởng cơ quan tình báo OSS, ông Archimedes Patti, đã đính chánh rằng Hoa Kỳ không phải đồng minh với Việt Minh, xin đừng lạm dụng. Còn ai ngoài Hoa Kỳ để Hồ dựa vào? Một quốc gia hùng mạnh thắng thế chiến thứ hai và đang đương đầu với làn sóng đỏ.

Người dân ồ ạt ra đường, một phần cũng vì hâm mộ người Mỹ, nhưng không thấy Mỹ nào hiện diện. Thế nên cả đám Việt Minh nằm trong ban tổ chức kéo nhau đến tận nhà riêng của ông Patti. Họ kéo cờ, ca quốc ca Hoa Kỳ, nên bắt buộc ông Patti phải thay quần áo ra ngoài làm lễ.

IMG_1502

Chưa hết. Bốn ngày sau, tức 30/8/1945, phe Hồ lại hô hào dân chúng xuống đường nữa để chống Pháp, để chứng tổ cho Hoa Kỳ thấy rằng dân không ưa Pháp. HCM thừa biết qua hội nghị Potsdam vào tháng trước, tức tháng 7/1945, Hoa Kỳ đã ngấm ngầm cho Pháp trở lại tái chiếm, dù vào tháng 3/1945, pháp đã tuyên bố ra đi trao độc lập cho vua Bảo Đại. Tái chiếm để dẹp làn sóng đỏ của Hồ mà de Gaulle đã nhiều lần yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ.

HCM rất muốn những đại diện của OSS tham dự ngày 2/9, nhưng ông ta hoàn toàn thất bại. Có lẽ Hồ nghĩ rằng ông đã qua mắt được những người Mỹ khi nói với họ rằng mình không phải cộng sản. HCM đã lầm vì ngay lúc OSS mướn Hồ làm lon ton để đương đầu với Nhật, người Mỹ đã biết Hồ là ai. Họ dùng người cộng sản này trong giai đoạn mà thôi.

Trong đám đông ngày 2/9/1945, giữa mùa thu nóng nực của Hà Nội, có vài người Mỹ thuộc OSS đến để quan sát. Đại Úy Ray Grelecki kể lại trong phim thời sự “Uncle Ho Uncle Sam” rằng những máy quay hình cứ để thẳng vào các người Mỹ, và họ đi qua đi lại nhiều lần. HCM rất cần Mỹ trong các phim để tuyên truyền rằng Hoa Kỳ ủng hộ chính phủ của ông ta. Có phải Hồ khi biết chỉ có vài người Mỹ tham dự để quan sát nên đăm ra lúng túng. Câu nói thừa thải “đồng bào có nghe rõ không?” để chấn chỉnh sự bối rối.

Thủ đoạn dùng ngay những câu trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ để đọc trong ngày gọi là “tuyên ngôn độc lập” của HCM thật là hạ sách mà sau này nhiều sử gia của Hoa Kỳ đem ra châm biếm. Một con người không có tư tưởng (pragmatic)! Lối nịnh hót, ve vuốt này của HCM cũng đã làm cho Stalin bực mình đến phải đặt cho Hồ một tên là người cộng sản ngu xuẫn kém văn hóa (troglodyte)!

Chính tác giả Archimedes Patti trong cuốn Why Viet Nam cũng cho rằng HCM thật là ngu ngơ khi đạo văn mà còn yêu cầu Patti xem qua. Hơn hết, tác giả đã thẳng thắn ghi ngay vào Chương 1 (Chapter 1) với kết luận là HCM là sư tổ của lối ngoại giao gian hùng, lưu manh.

Tóm lại, mẹ Việt Nam đã cho ra lầm một đứa con phản bội tổ quốc. Di lụy của HCM là đàn em cộng sản và con cháu họ đã theo gương bán nước của Hồ bất kể phản ứng của toàn dân, ngay cả còn sát hại, bỏ tù những tấm lòng yêu nước.

Xin đáp lại lời thơ của Tố Hữu:

Hồ trở về đây tổ quốc ơi
Mang theo chủ nghĩa sát hại người
Ba mươi năm ấy Minh học tập
Dân tộc là mồi cho Đảng xơi!

Bút Sử
20/8/2018

Nguồn: Why Viet Nam?, Archimedes Patti, 1980; phim Uncle Ho Uncle Sam Documentary; Sử Địa 12ab, Ban Giáo Sư Sử Địa, 1973, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon

Wednesday, June 26, 2024

NHỮNG QUY TẮC GIAO CHIẾN CỦA KHÔNG LỰC HOA KỲ TẠI VIỆT NAM

 Mark Berent


Mark Berent
Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném thả bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân. Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".
Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968, lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. 
F-4-streaking-in
Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng. Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control)). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném thả bom. Do đó, có lúc các phi vụ được chấp thuận ném thả bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận.. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.
Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!
US Air Force Lt. Col. Mark Berent

Tôi hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường. Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.
Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. 

F-4-flight
Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội thả bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.
Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp thả bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…” Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.
Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.
Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.
Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể thả một khối hỏa châu nặng, có thể cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà thả bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!
Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng thả bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.
F-105


Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.
Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với 2 trái bom: 250 và 500 ký và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng thả bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay thả bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!
Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.
Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?
Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng tôi đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh thả bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!
Sau khi lệnh ngưng thả bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép thả bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được thả bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100 xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!
Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miềân Nam mới phải?
Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải thả bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đất. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có. 85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn chặn?!.
AC-130-view-of-convoy


Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.
Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để thả bom, chỉ vì lệnh cấm.
Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng không chịu phục tùng lệnh của chúng.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!
Tác giả: Mark Berent
Mark with his books on the SE Asia War Games (Vietnam)

Berent, a three-tour veteran of the S E Asia War


Nguồn: https://captainbillywalker.com/war-stories/mark-berent/

Sunday, June 2, 2024

NHỮNG DÒNG SÔNG LỊCH SỬ


Nư
ớc Việt ta được thiên nhiên ưu đãi nằm bên bờ đại dương nghe sóng vỗ rì rào mời gọi
khi bình minh v
ừa ló dạng đoàn thuyền tấp nập ra khơi, chiều về mang đầy hải sản.
Nh
ững dòng sông uốn éo chằng chít từ Bắc vào Nam, lợi thế cho thương nghiệp và quân sự.
Nh
ững con thuyền buôn bán ngược xuôi cung cấp sản phần đi khắp nơi cần thiết. Những
tr
ận thủy chiến oanh liệt làm địch hoàng hồn hết vía trên những dòng .sông lịch sử còn in
d
ấu tới nay- Có những dòng sông mang dấu ấn chia lìa xa cách :
-
Ôi những dòng sông thân yêu Quê hương !
Ôi nh
ững dòng sông oanh liệt một thời !
Ôi nh
ững dòng sông chia lìa xa cách !
Ôi nh
ững dòng sông nhớ mãi muôn đời !
 

*Sông Bạch Hạc- Ngọc Hoa công chúa.
Đây là Lá Thư Công chúa Ng
ọc Hoa gởi về vua cha
Hùng Vương 18 nhân d
ịp Giỗ Tổ, sau khi Sơn Tinh
chi
ến thắng Thủy Tinh kết hôn với công chúa.
Truy
ện mang nét huyền sử, nhưng đó là thời gian
đ
ầu mở nước của các vua Tổ Hùng vương đất Việt
và ch
ứng tích dòng Bạch Hạc vẫn còn lưu lại trải
qua bao năm tháng.

( Trích 1 đo
ạn trong Lá thư )
‘Ngày này thì phu quân Sơn Tinh Đại Vươ
ng đã
hiển linh nơi núi Tản Viên, trở thành vị đệ nhất

phúc thần của Đại Việt và ngài vô cùng linh ứng.

Hát GiangTrên sông ngày ấy, các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.’ -Tổ tiên khổ công bao đời mở Nước, Mười tám đợi vua Hùng dựng Giang sơn, Đất Việt trời Nam trải rông huy hoàng, Là kho báu cháu con phải gìn giữ, Nếu để một tấc đất vào tay giặc, Là có tội phản bội với tổ tiên, Phải ghi tâm khắc cốt không thể quên, Bảo tòan Giang sơn, báo đền Quốc tổ. *Hát Giang- Nhị Trưng Vương* Hai Bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí mão (43). Những nữ tướng của hai bà là chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số chạy thoát, số bị bắt. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn. bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, Hai Bà lưu lại tiếng thơm muôn đời. Ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi nhớ công ơn danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt nam. -Nhị Trưng vương vang danh gái Nước Việt, Trả thù chồng,quyết bảo vệ Non Sông, Gái má hồng phất cao cờ khởi nghĩa, Sáu mươi lăm thành trì đã đoạt xong, Mừng chiến thắng quân reo hò phấn khởi, Sau yếu thế, trầm mình xuống Hát giang 
Ngã ba Bạch Hạc nơi kinh thành xưa thật là một vùng sông nước hữu tình, sầm uất trên bến dưới

thuyền. Khi buổi chiều tà, mặt trời đỏ ối lặn sau dãy Ba
Vì, nơi có núi Tản Viên. Ngọc Hoa con
không ngừng cảm thán!
Hát GiangTrên sông ngày ấy, các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.’ -Tổ tiên khổ công bao đời mở Nước, Mười tám đợi vua Hùng dựng Giang sơn, Đất Việt trời Nam trải rông huy hoàng, Là kho báu cháu con phải gìn giữ, Nếu để một tấc đất vào tay giặc, Là có tội phản bội với tổ tiên, Phải ghi tâm khắc cốt không thể quên, Bảo tòan Giang sơn, báo đền Quốc tổ. *Hát Giang- Nhị Trưng Vương* Hai Bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí mão (43). Những nữ tướng của hai bà là chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số chạy thoát, số bị bắt. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn. bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, Hai Bà lưu lại tiếng thơm muôn đời. Ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi nhớ công ơn danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt nam. -Nhị Trưng vương vang danh gái Nước Việt, Trả thù chồng,quyết bảo vệ Non Sông, Gái má hồng phất cao cờ khởi nghĩa, Sáu mươi lăm thành trì đã đoạt xong, Mừng chiến thắng quân reo hò phấn khởi, Sau yếu thế, trầm mình xuống Hát giang Hát GiangTrên sông ngày ấy, các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.’ -Tổ tiên khổ công bao đời mở Nước, Mười tám đợi vua Hùng dựng Giang sơn, Đất Việt trời Nam trải rông huy hoàng, Là kho báu cháu con phải gìn giữ, Nếu để một tấc đất vào tay giặc, Là có tội phản bội với tổ tiên, Phải ghi tâm khắc cốt không thể quên, Bảo tòan Giang sơn, báo đền Quốc tổ. *Hát Giang- Nhị Trưng Vương* Hai Bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí mão (43). Những nữ tướng của hai bà là chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số chạy thoát, số bị bắt. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn. bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, Hai Bà lưu lại tiếng thơm muôn đời. Ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi nhớ công ơn danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt nam. -Nhị Trưng vương vang danh gái Nước Việt, Trả thù chồng,quyết bảo vệ Non Sông, Gái má hồng phất cao cờ khởi nghĩa, Sáu mươi lăm thành trì đã đoạt xong, Mừng chiến thắng quân reo hò phấn khởi, Sau yếu thế, trầm mình xuống Hát giang