Sunday, March 22, 2020

NHỮNG CỘT TRỤ CHỐNG GIỮ PHƯƠNG NAM



(Hình: tvvn.org)

Để nhớ 5/5/1992,
Thành Kính Tưởng Niệm.
Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ huy trưởng Biệt Động Quân
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh SĐ 18 Bộ Binh
Thiếu Tướng Huỳnh Bá Di, Tư Lệnh SĐ 9 Bộ Binh
Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II
Nhân lần Tướng Quân Lê Minh Đảo Về Trời, 19/3/2020

Thơ PHAN NHẬT NAM


Quả đáng sợ,
Bốn Người Lính chịu đủ 17 năm,
5 ngày tù mất nước
Quả kính phục,
Bốn Tướng Lãnh gánh khối nặng vô lường thấm nhục
Thay mặt toàn phần Quân Lực Miền Nam!


Thế giới phương Tây hãy nhìn xuống đây...
Việt Nam!
Nơi, thương khó quy hàng,
Quê hương Miền Nam trả giá máu
Hòa Bình-An Ninh toàn cầu thắng lợi!
Cơn khổ lụy Mười Bảy Năm
Khởi từ 1975...
Đằng đằng không được nói
Hai mươi-lăm triệu người Nam, Sài Gòn lây lất ...
Thêm bao nhiêu khốn khổ bên bờ Bắc héo hon ...
Bao nhiêu gia đình thuộc “diện sĩ quan”
Chồng cải tạo, vợ con nát thân vượt biên di tản,
Bao nhiêu người “học tập” ra đi?
Bao nhiêu “cải tạo” trở về?
Hồi kết cuộc
Bốn Người Lính uống lượng đắng cuối cùng
âm thầm bền bĩ
Bốn Tướng Lãnh
Vô vàn võ công
Khiêm nhường vị trí
Đời dài áo lính
Nghiệp nặng chiến tranh
Buổi Miền Nam uất hận nhân phận cùng đành
Thân trói chặt
Cảnh hàng binh vong quốc!


Mười Bảy Năm- Năm ngày tù kể từ giờ mất nước
Cũng “Sáu Ngàn Hai Trăm Mười đêm não nề đếm được
Tướng Quân tận tịch nhiên
Thanh thản nhân hậu nụ cười
Với tiếng nhạc, nốt trầm cao, thoát đi từng giờ vây hãm (1)
Mặc gió bão ĐẢO điên.
Cuốn trôi rác rưởi, bọt bèo, phiền muộn
Vững THÂN tùng bách DI qua lần khổ nạn
Khắc khoải mười-bảy năm
Từ hiểu nghĩa bi thương
GIAI do tiền định lẽ thường
Yên Bái
Hà Nam
Chốn ngặt Hàm Tân cuối trời vây hãm (2)
Xiên qua thân nỗi thống nhục thất trận,
bại tướng gãy cờ
Cùm xích siết đau
Luôn ngỡ giấc mơ
Buổi mất nước
Một phút giờ không THẬT!
Sôi uất hận
Cào xé gan
Bật vỡ toang tim cật
Sống từng ngày cào cấu
Chết khắc khoải lần qua đêm
Từng đêm...
Trời Tây-Bắc dằng dặt trăng sao
Rờn rợn máu ối tanh, trăng đỏ lưỡi liềm xao xác
Tiếng chim cú Trại 5 (3)
Khu đồi chè căm căm nhịp thở
Tướng Quân nghiến răng nuốt xuống
Gờn gợn xiết ngang đường thở
Tầng tầng thống khổ không nói nên lời
Ngật ngật đớn đau dội tiếng thét về trời
Soi bóng xuống đất đen tăm tối
Tướng Tù Binh !
Mười bảy năm
Trí nảo, mạch tim nhận vô vàn cơn đau thắt ruột
Bóng tối ơi... Hãy cuốn trọn một lần...


Buổi Tháng Tư,
Tướng ở lại với quân, vững tay súng vùng rừng Miền Đông (4)
Khi tập đoàn cấp cao đồng vắng mặt nhanh săm sắp
Người Lính ngừng lại trên giòng kinh Rạch Chiếc ngầu đen
Soi bóng điêu tàn chập lá cờ Vàng trên
nóc kho Tân Cảng
Nơi x Thủ Đức, Biên Hòa..
Ầm ầm pháo Bắc quân đổ sập

...
Người Chỉ Huy Biệt Động cuối cùng ở lại,
Một mình nơi doanh trại trống trơn
Phòng sở điêu tàn, tấm soái kỳ rũ xuống
Âm ẩm lạnh giọt mưa đầu mùa thấp thỏm
Ba mươi năm chinh chiến để thua trận một lần này
Trại Đào Bá Phước săn sắt trùng vây (5)
Cuộn giây kẽm gai rối bời gầm gầm đe dọa
...

Một thân còn lại (6)
Đơn độc trên chiếc trực thăng võ trang hết đạn
Dưới kia Sài Gòn bốc cháy thấp thoáng đoàn lũ xe tăng
Người nghe đau,
Nhịp tim đập rõ nhanh
Lệnh đầu hàng gớm ghê ...
Có THẬT  không? ...
Mất nước?!
Cánh mi mỏng nôn nao khẽ chớp
Giọt máu nóng nào hình như sẵn trào căng
Bay về đâu? ...
Bên phương trời tây, bắc, nam, đông ...
Nghe rõ đau xuyên THÂN
Giây phút đồ hình đóng đinh con CHÚA
....

Người không còn ai...
Trông ra hai nhánh sông ầm ầm nước cuốn
Chín cửa Rồng ứa thẩm
Sài Gòn đã thành sự dối lừa
Chiến hữu thiết thân cùng đường bức tử
Không còn ai?
Một mình trùng vây vũng lửa
Hứng toàn phần,
Tận đủ
Nghĩa đầu hàng, giải phóng giao quân
Đè xuống một lần
Tướng lãnh hàng đầu Vùng Bốn Chiến Thuật tàn binh (7)
Trần Bá Di.


Mười bảy năm,
Cánh Phượng Hoàng  giữa vây khốn tên, cung
Bốn Tướng Quân dựng nên khối Tượng Tiếc Thương vô hình ...
Trong tâm thức tấm lòng người Nam nhớ nước (8)
Vạn triệu nhân quần trên hành tinh mấy ai biết được
Một trăm bốn bảy thành viên Liên Hiệp Quốc
Có ai hay?
Nào có một ai hay?
Thế giới Đông-Tây hòa hoãn yên lặng hôm nay
Từ mỗi bóng xương Việt Nam,
Hằng bốn mươi năm xuất huyết (9)
Với đội quân hai mươi-lăm năm chịu lời khinh miệt (10)
Bốn Tướng Lãnh ...
17 năm lâm nạn ngày đêm gánh đủ
Nếm cạn đáy đọa đày trên đất nghiệt xa xăm
Cách giết người yên lặng
Không đội hành hình
Không máy chém, cắt cổ, phanh thây
Của Chủ Nghĩa Sát Nhân, tận đời Mạt giáo
Kỹ thuật giết người siêu đẳng ...
Học tập - Cải tạo - Tập trung
Thế giới nơi nơi
Chắc hẳn không ai hiểu thấu?!
Hai Mươi Thế Kỷ
Loài người không khả năng biết tận
Người Lính sống
Cũng là nên chứng nhận
Từ con NGƯỜI, hẳn Sức Mạnh Siêu Nhân
Từ con NGƯỜI, hiển hiện LỰC THÁNH THẦN
Người vượt SỐNG
Sự ÁC gớm ghê phải cuối cùng tận diệt ...
...

Ôi cảm động Nguồn Ân Linh Siêu Việt
Vâng, kính tạ Lòng Độ Trì Thánh Triết
Nung vàng ròng dậy lửa
Nên dẫu gớm ghê đọa đầy máu ứa
Người về đây
Người đã thật về đây
Một buổi Tháng Năm
Miền Nam Vàng rực sắc mây
Tướng Quân về Sao Mai một ngày mọc muộn
Bốn vì Sao soi giữ bốn hướng trời gai góc
Triệu quân ta hôm nay nên một lần bật khóc
Như giờ Cờ Vàng Ba Sọc lừng lững lên cao
Giữa mù sương xứ Huế sáng Xuân nào (11)

Viết lại, 20 Tháng Ba, 2020

Ghi Chú:
(1) Tướng Đảo, Tướng Thân kết thành ban nhạc song tấu cho bạn tù nghe dịp cuối tuần
(2) Yên Bái, Hà Nam, Hàm Tân: Những trại tù giam cấp Tướng từ 1975-1992
(3) Trại 5, Liên Trại I, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái nơi nhốt tù binh cấp Tướng
(4) Miền Đông, Xuân Lộc, Long Khánh –Trận chiến cuối cùng với Tướng Lê Minh Đão
(5) Trại Đào Bá Phước: Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân với Tướng Đỗ Kế Giai
(6) Tướng Lê Văn Thân bị bắt sáng 30/4//75 khi dùng trực thăng dự định xuống Vùng IV với Tướng Khoa Nam
(7) Tướng Trần Bá Di, Tư Lệnh Sư Đoàn 9 (Vùng IV) được lệnh của Tướng Nguyễn Khoa Nam đại diện bàn giao cho cộng sản sau 30/4/75
(8) Tượng Tiếc Thương: Công trình điêu khắc của Nguyễn Thanh Thu dựng trước
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa
(9) Chiến tranh Việt Nam (1945-1975)
(10) Quân Đội Quốc Gia-Quân Lực VNCH (1951-1975)
(11) Mậu Thân Huế, 1968 – Đại Tá Lê Văn Thân Tư Lệnh Phó Sư Đoàn I Bộ Binh, đơn vị chủ lực của mặt trận Huế

Monday, March 2, 2020

NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ QUÊN !


Huy Phương/Người Việt
Suốt mấy chục năm trường, Cộng Sản Bắc Việt nung nấu bởi nghĩa vụ quốc tế, với súng đạn của hậu phương XHCN quyết tâm thôn tính miền Nam bằng mọi giá.
Miền Nam vừa lo hạnh phúc cho dân, vừa đoàn kết chống sự xâm lược của miền Bắc và hàng trăm nghìn chiến sĩ đã nằm xuống cho một miền Nam no ấm, thịnh vượng và giữ được bờ cõi suốt hai mươi năm.
Nhưng không như các dân tộc văn minh khác, như sau cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ, khi thất trận những người lính miền Nam phải gánh chịu tất cả sự trả thù đê tiện, hèn hạ của miền Bắc. Họ bị cầm tù, tước đoạt quyền làm người, bị hạ nhục và bị truy sát đến ba đời, ngay cả con cái cũng không sao có thể trở thành một người dân yên bình được!
Những gì tiêu biểu cho hình ảnh người lính miền Nam đều bị tiêu diệt, triệt hạ đến tận cùng, từ trong sách vở, thi ca, đến hình ảnh tượng đài đều bị giật sập, băm nát.
Những người Cộng Sản ngày nay chủ trương phá đổ hình tượng Lenin, nhưng chừa lại một khoảng tôn kính trong các nghĩa trang quân đội, trong khi chỉ trong ngày đầu tiên vào Sài Gòn, quân Bắc Việt đã chủ trương giật sập tượng đài Tiếc Thương ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, ghi lại hình ảnh người lính miền Nam, dù chỉ là hình ảnh một người lính đã gác súng.
Trước tiên, với sự hung hãn, hăm hở với cả sự hận thù tàn sát, Cộng Sản đã hành quyết những người thua trận đã đầu hàng, với những vũ khí thô sơ như dao, rựa, mã tấu và với mọi phương cách dã man như thời trung cổ với lối tùng xẻo, dội nước sôi. Cũng không hề khoan nhượng với người chết, quân Bắc Việt đã chủ trương đào mồ những người chết đem ra chợ cho nổ cốt mìn, và chỉ ba ngày sau khi thắng trận, nhẫn tâm cày nát rồi san bằng nghĩa trang Quân Đội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp!
Quân Bắc Việt muốn xóa hết hình tượng của những người lính VNCH trong lòng nhân dân, bằng thủ đoạn bôi xấu dĩ vãng, kỳ thị lý lịch, xếp hạng công dân, đưa quân đội miền Nam vào những nhà tù tập trung ở những nơi rừng thiêng, nước độc trong khi con cái và gia đình được xỉ danh là những gia đình “có nợ máu với nhân dân!”
Họ có thể hòa hợp với nước Mỹ, đã từng được gọi là “đế quốc xâm lược,” nhưng với người lính VNCH thì không, Cộng Sản đày đọa những người lính này cho đến tận cùng, từ người sống thất trận lạc loài không còn khả năng chiến đấu, đến người tử sĩ nằm trong nghĩa trang, và kỳ thị ngay với những thương binh bất hạnh, què cụt sống bên lề xã hội.
Sau chiến tranh, hài cốt của những người lính Mỹ, “kẻ cựu thù,” được xem như những món “quốc bảo,” dành để mua bán, đổi chác, mặc cả với phía Hoa Kỳ.
Trên đất nước Việt Nam, không thiếu những nghĩa trang đẹp đẽ, được nhang khói chăm sóc tận tình. Mỉa mai thay, đó chính là nơi chôn cất quân Trung Cộng xâm lược vào biên giới tổ quốc, ngày nay được Cộng Sản Bắc Việt vinh danh như là những chiến sĩ, anh hùng. Chỉ dọc theo quốc lộ xuyên Việt từ Nam ra Bắc, đã có bao nhiêu nghĩa trang đồ sộ, san sát bia mộ của những “anh hùng, liệt sĩ” sinh Bắc, tử Nam, “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc!”
Nhìn lại, phía thua trận, hài cốt của “những người anh em,” trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị phong tỏa, cấm di dời, đổi tên, để dân sự hóa một nghĩa trang quân đội thành một bãi đất tha ma dân sự, xóa hết một di tích lịch sử, để đời sau không còn ai biết đến nữa!
Hình ảnh của người lính miền Nam thất trận trong cuộc nội chiến của Hoa Kỳ từ Tháng Tư, 1861, đến Tháng Tư, 1865, là Tổng Thống Liên Minh Miền Nam Jefferson Davis, Tổng Tư Lệnh Liên Minh Robert E. Lee và Tư Lệnh Phó Thomas Jackson, hơn một thế kỷ qua, vẫn còn sừng sững trên núi đá Stone Mountain, Georgia; hay hài cốt của 30,000 binh sĩ thất trận của miền Nam vẫn còn nằm chung với người thắng trong Confederate Section của Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington của một đất nước Hoa Kỳ bao dung và vĩ đại!
Nhưng những người lính miền Nam thua trận trong cuộc chiến kéo dài 20 năm thì không!
Từ một quân đội hùng mạnh đứng hàng thứ tư thế giới, phải chăng những người lính miền Nam ngày nay là những người lính bị quên lãng.
Tháng Ba lại về! Tháng Ba của những trận lui binh máu đổ, cát biển miền Trung thấm máu người. “Tháng Ba Gãy Súng” của những người lính can trường không khuất phục được cả một số mệnh đất nước, chết trong lãng quên, sống trong lưu lạc. Tháng Ba, ai còn thắp một nén hương cho những người lính đã một thời xả thân để giữ vững miền Nam.
Nhưng ngày nay, qua thời gian, hình ảnh người lính bị tước vũ khí, ngậm ngùi trước số phận của đất nước, tuy bị lăng mạ, xuyên tạc, chôn vùi bởi thế lực của kẻ cầm quyền, nhưng chưa bao giờ hết, qua cuộc biển dâu, qua thời gian gạn lọc vàng thau, hình ảnh người lính của miền Nam vẫn sống trong lòng dân tộc, như là biểu tượng của lòng dũng cảm của người trai giữ nước. Đó là những bia mộ muôn đời hiện hữu trong lòng người, mà không phải ai cũng có được!
Từ hơn bốn mươi năm nay, những người Việt Nam tị nạn Cộng Sản, bỏ quê hương ra đi, có mặt trên những vùng đất tự do của thế giới, đã mang theo hồn nước và quê hương, trong đó có hình ảnh của người lính VNCH. Do đó nhiều tượng đài khắc ghi hình ảnh người lính đã được xây dựng, biểu tượng của lòng biết ơn cũng như là nơi thờ tự thiêng liêng của người Việt lưu vong.
Mỗi người Việt lưu vong, mỗi đứa trẻ nước Việt lớn lên sẽ phải hiểu người lính miền Nam là ai, đã sống và chiến đấu cho ai, trong một hoàn cảnh nghiệt ngã nào đã phải ngậm ngùi thua trận.
Có những thứ chúng ta nghĩ rằng nó đã chết, hay bị người ta vùi dập, tìm cách chôn nó đi, mà nó vẫn còn sống!
Xin đốt một nén hương lòng cho anh linh những người lính miền Nam, nhân ngày lui binh ngày này của Tháng Ba, bốn mươi lăm năm về trước! (Huy Phương)

Sunday, February 23, 2020

VIỆT NAM : TIẾNG GÀO THÉT TỪ BÊN TRONG

ANDRE MENRAS
Người thực hiện cuốn phim đặc biệt này là André Menras, một giáo sư người Pháp, dạy Pháp văn ở trường Jean Jacques Rousseau Sài gòn từ năm 1968, cũng đã từng phản chiến, mê muội theo CS, treo cờ CS trên Tượng TQLC, công khai ủng hộ MTGPMN, đã bị VNCH bỏ tù và trục xuất về nước đầu năm 1973. Sau 75 được chế độ CS cấp quốc tịch Việt nam với cái tên Hồ Cương Quyết ( theo họ Hồ của tên đồ tể bán nước Hồ Chí Minh). Nhưng chẳng bao lâu, anh ta đã nhận ra bộ mặt thật dã man, ghê tởm của tập đoàn CS. Làm cuốn phim này, như để trả nợ, hối lỗi cho sự sai lầm ngu xuẩn của mình.
Phim dài 1 giờ 42 phút. Có nhiều cuộc phỏng vấn những "nhân vật" lạc đường, một thời "nổi danh" mà chúng ta đều biết: Tương Lai, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Kha Lương Ngãi, Lê Thân, Nguyễn Văn Kết vv

Friday, January 31, 2020

KHÔNG THỂ NÀO XÓA MỘT NỀN VĂN HÓA, VĂN CHƯƠNG VÀ NGHỆ THUẬT

Đỗ Duy Ngọc

Người ta có thể đập bỏ một di tích đã hơn 100 năm, người ta cũng có thể phá nát một ngôi chùa cổ, và người ta cũng có thể đốn hạ những hàng cây cổ thụ rợp bóng ký ức của nhiều người, xóa sạch những dinh thự, những kiến trúc đã hiện diện ở miền Nam này suốt cả thế kỷ.

Tất cả sẽ biến mất nhường lại cho những khối bê tông đồ sộ, những dãy nhà chọc trời. Năm, mười năm sau, thế hệ trẻ lớn lên sẽ không biết, không nhớ những di tích đã bị tiêu diệt. Nhiều thành phố sẽ bị đánh mất ký ức về những kiến trúc, những hàng cây, và khi những người già mất đi, sẽ còn ai nhớ đến chúng. Có chăng chỉ còn là những hình ảnh trên bưu ảnh, trong những cuốn sách ảnh đã ố vàng phủ bụi thời gian.
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng văn chương, hội hoạ, thơ ca, âm nhạc thì không thế. Bởi đó là văn hóa của một vùng đất, là hơi thở của một quãng đời. Nhà thờ, dinh thự, hàng cây có thể bị đánh mất và lụi tàn trong tâm khảm của nhiều người, nhưng văn hóa thì không. Miền Nam Việt Nam trải qua hai mươi năm chiến tranh và trong khoảng thời gian ấy tồn tại một nền văn hóa văn nghệ không thể phủ nhận. Nó là tiếng nói, là suy nghĩ của một thời đại được phản ánh trong văn học nghệ thuật. Nó mang hơi thở của chiến tranh nhưng đầy ắp tính nhân văn và cũng không thiếu những tình tự dân tộc. Và chính điều đó làm cho nó tồn tại dù đã bị nhiều lần vùi dập.
Tại sao chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi lăm năm rồi, văn hóa, văn nghệ của miền Nam thất trận vẫn được người dân yêu thích và tán dương. Và không chỉ ở miền Nam, những người đã từng đọc, từng nghe, từng thấy trong suốt cuộc chiến tranh mà cả người miền Bắc sau cuộc chiến cũng bị thu phục.
  
Lúc cuộc chiến đang diễn ra, nhạc đỏ, văn chương, thơ ca của miền Bắc có nhiệm vụ hô hào, kích động và cổ vũ chiến đấu.
Khi hòa bình, văn nghệ tung hô lại trở thành lạc lõng, không còn hợp thời và chính điều đó khiến cho những tác phẩm đó không còn được yêu thích và ưa chuộng. Nó trở thành dĩ vãng, kỷ niệm của một thời đã đi qua. Người ta nhắc lại nó, trình diễn nó trong những buổi lễ kỷ niệm, những lễ lạt. Và chúng không còn khán giả.
Tất nhiên khi không còn hoặc quá ít người thưởng thức thì không có nhà đài nào, nhà xuất bản nào trong thời buổi kinh tế như thế này dám dùng nó để kiếm tiền. Bởi văn hóa văn nghệ thời nay cũng chỉ là một cách để kinh doanh. Không ai làm kinh doanh để nhận lấy lỗ trắng tay cả.
Và văn hóa, văn nghệ miền Nam trước 1975, không phải tất cả đều có giá trị, không phải tác phẩm, tác giả nào cũng hay. Thế nhưng đa số nó mang nỗi lòng của con người, của mỗi cá nhân. Nó mang tình cảm thật của một thế hệ, không lên gân, không hô hào.
Ca nhạc miền Nam không phải chỉ có nhạc Boléro, chẳng qua là suốt hơn bốn mươi năm, âm nhạc của thời đại không có gì nổi bật để hấp dẫn quần chúng nên họ tìm về cái cũ, cái mang tình người, tính nhân văn, thể hiện được tình cảm của họ.

https://baomai.blogspot.com/

Câu trích dẫn của Ray Bradbury (DOB) "You don't have to burn books to destroy a culture. Just get people to stop reading them."


Âm nhạc của miền Nam còn có Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Phạm Thế Mỹ, Anh Việt Thu, Y Vân, Y Vũ, Dương Thiệu Tước, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Hoàng Thi Thơ, Từ Công Phụng, Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Phạm Mạnh Cương, Lê Uyên Phương, Trần Thiện Thanh, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang... và nhiều nhiều nữa không kể hết, nhạc của những nhạc sĩ này đâu chỉ có điệu Boléro, nhưng vẫn là những bài hát tiêu biểu của miền Nam, mang tình tự dân tộc, mang hơi thở cuộc sống và nỗi niềm riêng của mỗi con người về tình yêu, về thân phận, về cuộc đời. Không ai có thể xóa được.
image
Một cảnh đốt sách thật tang thương tháng 05/1975 ở Sài Gòn

Thế mà ở hội nghị giao ban quý III/2019 của Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP. HCM ngày 10/11, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận định sáng tác văn học, nghệ thuật đang xuống thấp một cách không tưởng và ông phát biểu:
"Giữ chế độ này là giữ thành quả cách mạng, nhưng giờ bỏ qua hết, chạy theo giải trí, game show… Trong khi để kế thừa cái đã có thì làm không tốt, mà lại ca ngợi boléro của chế độ cũ thì chính là ca ngợi luôn đời sống của giai đoạn đó… Cũng từ khi đi vào thị trường, hội nhập, chúng ta lại quên đi biến động vô cùng phức tạp. Chương trình Âm nhạc Việt Nam - Những chặng đường trên VTV không biết chủ trương của Bộ Chính trị hay của ai, vì cái này ca ngợi nhạc của Sài Gòn cũ bằng những lời có cánh”
BM
  
Đồng thời, Nhạc sĩ Trần Long Ẩn với tư cách Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM cũng cho rằng, nói chua cay, mỉa mai như báo chí thì nhạc cách mạng hiện nay gần như đã “rút lui vào hoạt động bí mật”. Các chương trình chính thống muốn lên đài truyền hình vào giờ vàng thì khó lắm.
Cũng theo ông Ẩn, nhạc ca ngợi Việt Nam Cộng hòa mà giờ cũng cho là ca ngợi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì không được:

“Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Vậy mà đồng thời, phong trào cách mạng ở miền Nam trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng nữa”. (Trích báo Phụ Nữ)
Đó là những quan niệm quá lạc hậu và lỗi thời. Và theo ý ông Liên và ông Ẩn thì không nên phổ biến và nên xóa sạch loại văn hóa độc hại của miền Nam trước 1975.
image

Sau 75, chế độ mới đã phát động đốt sạch cái họ gọi là văn hóa đồi trụy, phản động. Hàng ngàn tấn sách đã bị đốt, nhưng không đốt được văn hóa trong tim của người miền Nam. Đó là điều bất khả thi, vì những thứ mà các ông cho là độc hại đó là tinh hoa của miền Nam đã thấm đẫm trong lòng người, mà như trên đã nói, có thể xóa bỏ một ngôi chùa, một dinh thự, một con đường, đập phá nát bia mộ, lăng tẩm, chứ không thể xóa bỏ được một nền văn hóa.
Người nào kêu gọi và thực thi việc xóa nhòa, tẩy sạch một nền văn hóa thì kẻ đó đi ngược lại với lịch sử, là kẻ mọi rợ, là kẻ vô văn hóa.
https://baomai.blogspot.com/
Đã qua rồi thời đốt sách, đã không còn là thời đấu tố, đã không còn có thể cấm hát, cấm đọc. Bởi cấm cũng không được khi lòng người còn luyến tiếc mà chẳng có gì để thế chỗ.
Đừng dao to búa lớn làm chi, nếu các ông có những sáng tác hay hơn cái cũ của miền Nam thì tất nhiên cái cũ đấy sẽ bị lãng quên, chẳng cần chi kêu gào xóa sạch làm gì.
Nhưng các ông lại không đủ tài năng để làm điều đó.

Đỗ Duy Ngọc

Sunday, January 19, 2020

BIỆT HẢI TRÊN VÙNG BIỂN BÃO TỐ

Tưởng nhớ đến 74 chiến sĩ Hải Quân QLVNCH hy sinh tại Hoàng Sa ngày 19/01/1974 bởi bọn Trung cộng xâm lược.

Phạm Phong Dinh
Sau khi hay tin 15 Biệt Hải thuộc Tuần Dương Hạm HQ 16 Lý Thường Kiệt được một ngư thuyền cứu vớt tại eo biển Qui Nhơn, cách đảo Cù Lao Xanh (hay còn gọi là Mũi Yến) 55 cây số về phía Đông và vẫn còn ở ngoài hải phận quốc tế, nhiều phóng viên quân đội đã chạy đôn chạy đáo tìm mọi cách để đến gặp và nhìn tận mắt những người lính biển đầu tiên đã viết những dòng hải sử chiến đấu chống quân Trung cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Chỉ với 15 người lính, các anh đã phải đối đầu với một lực lượng hung hãn địch gấp gần 20 lần hơn trên đảo Vĩnh Lạc. Trong lúc những chiến hạm của Hải Quân Việt Nam còn đang giáp chiến với hải quân Trung cộng, tiếng đại bác của hai bên nổ rền mặt đại dương, thì 15 chiến sĩ Biệt Hải đã kiệt liệt đối súng với hàng trăm lính bộ chiến của Trung cộng trên hòn đảo nhỏ này. Giữa cơn lửa đạn mù rời, toán Biệt Hải nhận được lệnh rút bỏ Vĩnh Lạc, vì cấp chỉ huy mặt trận Hoàng Sa không thể hy sinh oan uổng những đoàn viên ưu tú nhất của quân chủng. Không có một chiếc tàu nào đến đón, vì lúc đó 14 tàu chiến Trung cộng đang vây đánh Tuần Dương Hạm HQ 16 Lý Thường Kiệt, Tuần Dương Hạm HQ 5 Trần Bình Trọng, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 và Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4. Chiếc xuồng đổ bộ giờ đây đã trở thành chiếc phao cứu sinh duy nhất của toán chiến sĩ lạc loài này. Cuộc hành trình vượt chết trên vùng biển bão tố bắt đầu.

Một toán thám sát Biệt Hải được chiếc HQ 16 Lý Thường Kiệt thả xuống gần đảo Vĩnh Lạc, rồi các anh dùng thuyền nhỏ chèo vào và đổ bộ lên bờ biển. Đảo Vĩnh Lạc (còn gọi là đảo Quang Ảnh hay Money) thuộc chủ quyền Việt Nam từ thời triều đình nhà Nguyễn, nhưng đã bị hải quân Đài Loan lợi dụng lúc ra giải giới quân Nhật khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 21.8.1945, đã ngang ngược chiếm lấy và tuyên bố chủ quyền từ năm 1946. Đến lượt Trung cộng đoạt lấy đảo Vĩnh Lạc cuối năm 1949, sau khi đánh bại quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở lục địa. Đảo Vĩnh Lạc, cũng như hầu hết các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (còn gọi là Paracel) có cấu tạo san hô rất kiên cố, nên địa thế rất khó khăn cho tàu bè cặp bến. Đây là đảo có nhiều cây cối và là nơi chim biển đến sinh sống nhiều nhất. Số phân phosphate từ phân chim ước lượng phải gần 1,200,000 tấn. Đó là một trong những lý do tại sao thu hút lòng tham lam bất chính của cả Đài Loan và Trung cộng.

Trung Úy Lâm Trí Liêm, Trưởng Toán Biệt Hải, khi anh dẫn 15 chiến sĩ đổ bộ lên Vĩnh Lạc, đã khám phá bốn ngôi mộ với bốn cái bia đá do Trung cộng dựng nên để xác nhận chủ quyền của chúng. Những ngôi mộ chẳng biết có bộ xương nào ở dưới hay không, nhưng những tấm bia chỉ là biểu trưng của sự giả trá quỉ quái của bọn cộng sản, với dụng ý chứng tỏ đã có dấu chân của chúng từ lâu. Trung Úy Liêm ra lệnh cho đoàn viên Biệt Hải nhổ những tấm bia đá này chuyển xuống HQ 16 để chuyên viên của ta dịch sang Việt ngữ xem chúng khắc cái quái gì trên đó, rồi đem về Sài Gòn. Ngoài nhiệm vụ phá hủy những di chứng giả tạo của Trung cộng, Toán Biệt Hải còn có công tác cắm cờ Việt Nam và bảo vệ cờ để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.

Khi Trung Úy Liêm cùng chiến sĩ Biệt Hải của anh đặt chân lên đảo Vĩnh Lạc, hòn đảo hoàn toàn hoang vắng không một bóng người, chỉ có mỗi bốn nấm mộ nằm chơ vơ giữa vùng trời nước. Quân ta nằm bố trí trên đảo chờ chuyến tiếp tế, nhưng vì các chiến hạm còn đang theo dõi thám sát những hành động của tàu Trung cộng, nên mãi đến chiều ngày 17.1.1974 mới có tàu đến đổ xuống một khối lượng lương khô cho 93 ngày, có nghĩa là Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Hoàng Sa của Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc đã dự định phải giữ đảo ít nhất là ba tháng. Tiếng súng hải chiến bắt đầu nổ trên vùng biển Hoàng Sa ngày 19.1.1974. Lúc đó là 10 giờ 25 sáng. Lúc 10 giờ 22 phút, một hộ tống hạm Trung cộng loại Kronstadt đã hướng mũi tàu đâm thẳng vào Khu Trục Hạm HQ 4 Trần Khánh Dư đang giữ chặt đảo Quang Hòa. HQ 4 nhận được lệnh khai hỏa từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn, quả đại bác đầu tiên được bắn ra sau nhiều ngày sẵn sàng tác chiến đã trúng ngay chiếc tàu giặc. Chiếc Kronstadt bị chìm xuống đáy biển. Chiếc HQ 4 bị hư hại nhẹ. Với chiến thắng nức lòng đó, những HQ 5, HQ 10 và HQ16 tuần hành chung quan các đảo Quang Hòa và Duy Mộng đồng nổ súng đánh đuổi địch. Cả một vùng Hoàng Sa ầm tiếng sấm phẫn nộ của người nước Nam. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 trúng một chiếc hỏa tiễn Styx từ chiến hạm Trung cộng bị hư hại rất nặng và chìm dần. Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà trúng đạn giặc ở cầu thang chỉ huy, đã anh dũng hy sinh, 32 chiến sĩ trên tàu bị mất liên lạc. Những thủy thủ của HQ 10 bềnh bồng giữa đại dương đến 6 giờ 30 chiều ngày 22.1.1974 thì được thương thuyền Hòa Lan KOPIONELLA vớt được 23 người, cách phía Đông Đà Nẵng 287 cây số. Sáng hôm sau, chiến hạm Việt Nam đến tiếp nhận số chiến sĩ lưu lạc này, trong số đó có thân xác của Hải Quân Đại Úy Nguyễn Mạnh Trí, Hạm Phó HQ 10, đã chết và 2 chiến sĩ bị thương.

Những chiến sĩ Biệt Hải nằm trên đảo Vĩnh Lạc nhìn về hướng Duy Mộng và Quang Hòa cách đảo chừng 34 cây số đã thấy những đốm lửa sáng lóe lên. Đoàn viên truyền tin liên lạc với Đài Khí Tượng thì được biết một tàu Trung cộng đã bị quân ta bắn trúng đang từ từ chìm xuống biển cả. Những người lính Biệt Hải reo hò vang dậy chào mừng chiến công của đồng đội. Dẫu biết rằng Hải Quân Việt Nam ở thế hạ phong về tàu chiến và vũ khí, nhưng ngay phát súng đầu, HQ 4 Trần Khánh Dư đã nhắc cho giặc Bắc nhớ lại trận hải chiến kinh hoàng ở cửa biển Vân Đồn năm 1287, Tướng Quân Trần Khánh Dư đã đánh chìm hàng trăm chiến thuyền của tướng Ô Mã Nhi và tên hải tặc Trương Văn Hổ, mà đã đẩy đạo quân 20 vạn của Thoát Hoan trên bộ vào thảm cảnh chết đói và hoàn toàn chiến bại. Giao chiến bằng tàu thường không thắng nỗi bốn chiếc HQ thời Đệ Nhị Thế Chiến của ta, Trung cộng phải hối hả điều thêm những chiến hạm tối tân Komar trang bị hỏa tiễn tầm xạ Dù vậy, các HQ của Hải Quân Việt Nam cũng đã hủy diệt thêm một tàu và làm hư hại hai chiếc khác, trước khi nhận được lệnh rút ra khỏi quần đảo Hoàng Sa sau hai giờ pháo chiến. Một kế hoạch đánh tập kích lực lượng địch vài ngày sau đó của Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam được phác họa, nhưng đã không được thực hiện vì nhiều lý do khác nhau.

Cuộc hải hành bằng xuồng cao su trên đại dương

Ba ngày trấn giữ Vĩnh Lạc không thấy có Toán Thám Sát nào đến thay thế, hướng Hoàng Sa đã im tiếng súng mà trên không luôn có nhiều phi cơ rất lạ bay lượn vòng vòng, Trung Úy Liêm nhận định rằng tình hình ngày càng rất bất lợi cho đảo Vĩnh Lạc, với một nhúm chiến sĩ ít ỏi như thế này. Có tin Trung cộng đã điều chiến hạm đến tấn công Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Từng đợt hải pháo của tàu giặc dội ì đùng xuống một diện tích nhỏ bé của hòn đảo, rồi bốn chiếc Mig 21 và Mig 23 xuất phát từ đảo Hải Nam bay đến oanh kích dọn bãi để lính địch đổ bộ. Con số chiến hạm Trung cộng tham chiến đã lên đến 40 chiếc. Trung Úy Liêm quyết định chờ đêm tối dùng xuồng cao su thoát ra khỏi Vĩnh Lạc. Thật không may mắn cho những người lính cô đơn này, chiếc xuồng cao su lại bị lủng một lỗ nơi miệng cao su lót đáy, không biết có phải là do bởi mảnh pháo địch, nước biển tràn vào, các Biệt Hải xé vải nhét lại. Tình thế thật bi đát. Các chiến sĩ phải ngồi rải chung quanh thành ca nô, tránh ngồi tập trung ở giữa tránh tình trạng quá nặng. Trong khi quân ta âm thầm chèo ra ngoài khơi thì bỗng có quang hiệu của tàu Trung cộng gọi trở lại, nhưng Trung Úy Liêm ra lệnh cho các chiến sĩ tiếp tục hướng mũi ra biển. Thà chết vinh giữa biển cả, còn hơn là sống nhục trong lao tù cộng sản.

Chiếc xuống tiếp tục di chuyển về hướng Tây Nam. Sáu mái chèo thay nhau quạt nước. Một cái mền được dùng làm buồm căng trên một cái cột buồm bằng một cành tre tìm thấy trên đảo. Sức gió đã đẩy chiếc xuồng ọp ẹp đó xa dần đảo Vĩnh Lạc. Thêm một mảnh đất của Việt Nam đã lọt vào tay giặc. Tình hình ngày càng tồi tệ, khi lương thực đem theo đã dần cạn, quân ta phải hạn chế ăn uống, bi đát đến nỗi mỗi người chỉ có 6 muỗng nước mỗi ngày. Đến ngày thứ ba, số nước dự trữ chỉ còn có 30 lít, nhưng vì bị sóng nhồi nên đã bị đổ mất 10 lít, nên đành phải chịu giới hạn đến tối đa. Đến ngày thứ năm cuộc hành trình, chỉ uống nước mà không còn thức ăn, chiếc xuồng cao su nhấp nhô trên vùng biển động cấp 5, 6 chỗ bị lủng vẫn luôn luôn là mối đe dọa chết chóc của 15 người lính đã rất yếu sức. Ngày nắng như nung, lượng nước trong cơ thể bốc hơi nhanh chóng tạo ra hiện tượng mất nước (dehydration)., đêm thì lạnh buốt đến tận xương tủy. Chỉ có sức chịu đựng phi thường của những người lính cứng như thép Biệt Hải mới có thể sống sót qua thử thách này.

Ở giữa trùng khơi mênh mông không thấy đâu là bến bờ, dưới những cơn thịnh nộ của thủy thần đại dương, con người bé nhỏ chỉ có thể nguyện cầu xin được che chở. Thật mầu nhiệm, lời cầu nguyện đó của 15 Biệt Hải dường nhưng đã được nghe nhận từ cõi thiêng liêng. Theo lời kể của Trung Sĩ Nguyễn Trọng Tuấn, nhân viên điện tử, lúc đặt chân xuống thuyền, nhiều Biệt Hài đã khấn nguyện xin cho được an lành trở về với đất liền, với đồng bào và với quân đội để tiếp tục chiến đấu. Phép huyền diệu đó đã bắt đầu hiện ra từ ngày thứ sáu, mà tất cả chiến sĩ trên ca nô đều nhận biết như nhau.

Theo Trung Sĩ Tuấn, khi đến vùng biển động, sóng lượn theo chiều ngang rất nguy hiểm. Kinh nghiệm hải hành cho thấy rằng tàu nào gặp những con sóng ngang kiểu này cũng đều lắc lư rất dễ sợ. Nhưng có một điều kỳ dị rất khó giải thích là chiếc xung lại lướt rất nhẹ nhàng một cách rất bình thản trên đầu ngọn sóng chết người đó. Hơn thế, nó còn chạy vo vo một mạch với tốc độ 40 cây số / giờ. Lợi dụng hiện tượng quái lạ này, anh em Biệt Hải gác mái chèo nghỉ xả hơi. Đặc biệt khi gặp sóng cao thì một lực nào đó giúp hóa giải sức giật ngaỵ Trung Sĩ Tuấn và nhiều Biệt Hải đã thấy một cái gì đó không phải thuyền chài, mà nó gần giống như cái kỳ cá nhú lên khỏi mặt biển, mà họ tin là cá voi, hay cá ông, những vị thần cứu mạng trong huyền thoại trên biển Nam Hải của giới thuyền bè qua lại trên vùng biển này. Có những con cá voi bị bão tấp vào bờ chết, đã được dân chài vùng biển chôn và lập đền thờ để nhớ ơn chúng đã cứu giúp ghe thuyền lúc hoạn nạn. Nhiều lúc các chiến sĩ nghe thấy nhiều tiếng lục cục dưới đáy chiếc xuồng ca nô, mái chèo thấy nhẹ hổng. Có lẽ một chú cá voi lạc loài nào đó tránh sóng bão đã tựa lưng vào cùng tồn tại với con người, mà nhờ sức mạnh thần kỳ của nó đã đưa chiếc xuồng vượt qua những con sóng chết. Hay đó có phải là phép nhiệm mầu của tạo hóa xót thương những người lính chân chính của một dân tộc tang thương vì nạn xâm lược của loài ác quỷ cộng sản. Không ai có thể giải thích được sự kiện nàỵ Nhưng sáu mái chèo kiệt lực không thể nào đưa chiếc xung đi phom phom 40 cây số giờ như vậy được.

Giữa cơn bão giật, nhóm chiến sĩ Biệt Hải dường như trông thấy hình dáng một chiếc thuyền, quân ta vui mừng khấn nguyện cho nó tiến đến gần hơn, thì thình lình nó quày đầu chạy ngược trở lại. Vài chiến sĩ quá nóng lòng bèn bắn vài phát súng báo động. Nhưng càng nghe tiếng súng thì chiếc thuyền đó càng phóng dữ. Chẳng mấy chốc nó đã biến mất giữa những con sóng. Nhìn lại đã thấy một dải đất mờ, đối chiếu với hải đồ, thì có lẽ chiếc xung đã dạt về đến vùng biển Mũi Cù Lao Ré ngoài hải phận Quảng Nam. Nhưng lưỡi hái của thủy thần vẫn còn treo đung đưa trên đầu, thấy đất liền đó mà sóng vẫn kéo chiếc xuồng ra xa dần ngoài khơi, không chèo vào được. Chiến sĩ trên xuồng chắc lưỡi tiếc hùi hụi, nếu đừng bắn súng cho cá ông sợ chạy mất, thì biết đâu ngài đã đưa anh em vào gần bờ hơn. Như vậy, Toán Biệt Hải đã được cá ông đưa vào hướng Đà Nẵng trọn một đêm dài, nhưng định mệnh vẫn còn thử thách chí quật cường của những người lính Hải Quân. Cuộc hành trình về với tổ quốc tiếp diễn.

Chiếc xuống càng lúc càng đến gần hải phận Việt Nam Cộng Hòa hơn. Qua đến ngày thứ bảy, các chiến sĩ Biệt Hải trông thấy nhiều ghe thuyền xuôi ngược liền bắn súng xin tiếp cứu, nhưng những chiếc tàu này hoặc là không nghe được tiếng nổ, hoặc là do một lý do nào khác đã chạy lảng ra xa. Tình trạng sức khỏe của những Biệt Hải trên ca nô đã trở nên rất tồi tệ, các anh như những cái xác còn cử động là nhờ ở ý chí tìm sống, nước uống trên xuồng đã hết sạch từ lâu. Qua đến ngày thứ chín cuộc hải hành chiến sĩ Biệt Hải đã phải uống nước tiểu của mình. Có lúc xuồng chỉ còn cách bờ biển Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi chừng 100 hải lý, nhưng không thể nào chèo vào được, ca nô vẫn bị cuốn trở ra ngoài khơi. Chiếc buồm được điều chỉnh về hướng Đông Bắc để gió có thể thổi tạt các anh về hướng Tây Nam, hy vọng tấp vào được gần bờ hơn. Mỗi đêm các chiến sĩ Biệt Hải có trông thấy nhiều máy bay lượn vòng thật cao, có lẽ đang hoạt động không ảnh, vì ánh sáng cứ lóe lên từng hồi chiếu xuống mặt biển. Mặc dù không biết những phi cơ này thuộc quốc tịch nào, nhưng quân ta vẫn bám víu vào một hy vọng mỏng manh, nên đã bắn lên nhiều hỏa hiệu để đánh dấu mục tiêu cùng điểm đứng của chiếc ca nô. Nhưng tất cả đều vô hiệu, có lẽ vì phi cơ bay với vận tốc nhanh và quá cao nên không thể thấy rõ những trái sáng.

Sự cố gắng đó cuối cùng rồi cũng được đền bù, ngày thứ mười, chiếc xuống đã giạt vào hải phận tỉnh Bình Định, cách đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Phước Ninh, quận Nhơn Bình chừng 30 hải lý. Với khoảng cách này cái sống đã hiện ra rõ nét, nhưng chiếc xuồng vẫn còn nằm ngoài hải phận quốc tế. Trung Úy Lâm Trí Liêm, Trưởng Toán Biệt Hải, là người còn có thể đứng vững trong tình thế tuyệt vọng nhất, anh thật xứng đáng là một cấp chỉ huy tài ba, mà đã cứu được mạng sống của tất cả đoàn viên. Anh đã trông thấy có ba chiếc ghe đánh cá đang hoạt động gần đó, mừng quá anh bắn mấy phát súng cầu cứu. Hai chiếc ghe đầu tiên hoảng sợ bỏ chạy mất, nhưng chiếc ghe thứ ba, trời ơi, nó đã lừng lững tiến đến. Các chiến sĩ Biệt Hải đã có thể trông thấy những khuôn mặt Việt Nam đen rám vì nắng gió biển khơi, những ánh mắt xúc cảm và những nụ cười quá thánh thiện. Toán ngư phủ trên ghe vội vã ném dây cột chiếc xuồng cao su kéo về Qui Nhơn. Lúc đó là khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 31.1.1974. Những người lính Biệt Hải sẽ nhớ mãi cái ngày hồi sinh này.

Trong lúc kéo xuồng cao su trở vào hải cảng Qui Nhơn, thì các ngư phủ đã giúp chừng phân nửa số chiến sĩ leo lên thuyền của họ, số còn lại quá mệt mỏi đành phải nằm nghỉ dưới xuồng. Hạ Sĩ Nhứt Nguyễn Văn Duyên, nhân viên Quản Kho hoàn toàn kiệt sức vì hiện tượng mất nước và thiếu ăn, anh đã từ từ chìm vào cơn kích sốc, khi được đưa lên thuyền đánh cá, thì anh đã nhắm mắt ra đi.

Điều dưỡng tại Quân Y Viện Qui Nhơn

Hải Quân Trung Tá Nguyễn Ngọc Tĩnh, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn khi hay tin một chiếc ghe đánh cá đã vào gần đến hải cảng Qui Nhơn với 15 chiến sĩ Biệt Hải, đã lập tức cho tàu ra đón tại ngọn hải đăng đưa vào Căn Cứ và chờ phương tiện chở các anh về Quân Y Viện Qui Nhơn. Toán Biệt Hải đã được chở vào và được nằm điều dưỡng trong Trại Nội Thương 9. Bây giờ, các Biệt Hải đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình sau hơn mười một ngày đêm tham dự cuộc hải chiến Hoàng Sa lịch sử. Nhiều chiến sĩ mê man nằm thiêm thiếp, mặc dù đã được các nhân viên Quân Y truyền cho loại huyết tương màu vàng để bổ sung nguồn protein, khoáng và nước bị mất. Các anh đã được bón cho những loại thức ăn nhẹ. Nửa căn phòng của Trại Nội Thương 9 đã được dành riêng cho nhóm 14 chiến sĩ Biệt Hải, dưới sự chăm sóc tận tụy của Quân Y và đồng đội thuộc Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn.

Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Xuân Cẩm, Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Qui Nhơn đích thân ra lệnh cho nhân viên Quân Y dành cho các Biệt Hải sự chăm sóc đặc biệt, vì các anh xứng đáng được đối xử như vậy. Mỗi ngày, mỗi chiến sĩ được truyền một chai huyết tương, uống sữa trứng gà ngày hai lần, cam vắt hai lần, uống nước súp xương thịt. Cuộc điều trị sang đến ngày 1.2.1974 thì các Biệt Hải được ăn cháo nấu với tim và cật, tình trạng sức khỏe của các anh đã rất khả quan. Những con người thép mà đã từng vượt qua chương trình huấn luyện “địa ngục” của Người Nhái, chẳng mấy chốc đã có thể ngồi dậy nói chuyện thoải mái và vui vẻ với tất cả những phái đoàn quân và dân tấp nập kéo nhau vào thăm hỏi, tặng quà khích lệ. Đặc biệt, các chiến sĩ Biệt Hải luôn nhớ ơn Bác Sĩ Cẩm Chỉ Huy Trưởng đã túc trực ngày đêm săn sóc các anh.

Phái đoàn đầu tiên đến thăm các chiến sĩ Vĩnh Lạc, Hoàng Sa, do Hải Quân Đại Tá Trịnh Quan Xuân, Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải, đã dùng trực thăng đến an ủi và ủy lạo các anh với nhiều tặng vật trong ngày 31.1.1974. Đến 4 giờ chiều cùng ngày, Đại Tá Hoàng Đình Thọ, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Định hướng dẫn một phái đoàn khác vào thăm. Sang ngày 1.2.1974, đến lượt Hải Quân Đại Tá Nguyễn Đức Vân, Trưởng Phòng Kế Hoạch Bộ Tư Lệnh Hải Quân, đại diện Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân, đã đến thăm hỏi chiến sĩ trong buổi chiều và trao tặng mỗi anh số tiền 5,000 đồng. Món tiền tuy nhỏ nhưng nói lên cái tình giữa chiến hữu huynh đệ với nhau, và nó còn bày tỏ lòng tri ân của người hậu phương dành cho những chiến sĩ ở mãi tận ngoài đại dương.

Huy chương trao tặng cho những ân nhân

Một trong những cuộc viếng thăm có ý nghĩa nhất do Phó Đề Đốc Tư Lệnh Phó Hải Quân, hướng dẫn buổi sáng ngày 1.2.1974. Tư Lệnh Phó đã đại diện Tư Lệnh Hải Quân đến thăm hỏi, khích lệ và ủy lạo 14 chiến sĩ Biệt Hải. Tất cả các Biệt Hải đều vinh dự được tuyên dương công trạng, hãnh diện nhận mỗi người một huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh. Phòng Tổng Quản Trị Hải Quân cũng trình Bộ Tư Lệnh Hải Quân đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu thăng cấp đặc cách cho tất cả 14 Biệt Hải. Không quên những người ngư phủ đã cứu sống chiến sĩ Hoàng Sa, phái đoàn của Tư Lệnh Phó dùng tàu nhỏ di chuyển sang Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn để thay mặt chính quyền và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bày tỏ lòng tri ân với năm công dân Việt Nam Cộng Hòa. Năm vị ân nhân này đã cảm xúc nhận năm chiếc huy chương cao quí của Hải Quân là Hải Vụ Bội Tinh. Buổi lễ tri ân được tổ chức đơn giản nhưng trang trọng. Có thể là năm người ngư dân bình thường và vô danh này nghĩ rằng việc cứu sống những người lính Việt Nam Cộng Hòa là một việc bình thường trên biển cả với nhau. Nhưng chính là ở nghĩa cử này đã nói lên được một ý nghĩa cao cả, thắm thiết từ tận đáy lòng của họ. Đó là Tình Quân Dân gắn bó mà người lính gian nan của chúng ta qua những năm tháng phơi xương trải thịt chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc đã chiếm được mối tình cảm của đồng bào ở hậu phương. Hải Vụ Bội Tinh vẫn chưa thấy đủ lòng tri ân, Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thì, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, đã làm tờ trình xin Bộ Tổng Tham Mưu ân thưởng cho ông Dư Thanh Long, chủ nhân chiếc thuyền đánh cá mang số 3874, huy chương Nhân Dũng Bội Tinh. Cuộc trao gắn chiếc Bội Tinh sẽ được tổ chức ngay sau khi nhận được Quyết Định của Bộ Tổng Tham Mưu. Ngoài ông Long là chủ nhân chiếc thuyền, còn lại là những thủy thủ Dư Thanh Dũng, Nguyễn Tâm, Nguyễn Ngọc, Lý Luông, tất cả đều cảm thấy sung sướng khi chính các anh đã cứu vớt kịp thời các chiến sĩ Biệt Hải. Câu chuyện tàu 3874 tìm thấy chiếc xuồng ca nô mà trên đó 14 chiến sĩ của chúng ta đã gần như kiệt lực đã do chính ông chủ tàu kể lại như sau.

Ông Dư Thanh Long đang lái chiếc thuyền đánh cá ngoài khơi Qui Nhơn, lúc đó khoảng 12 giờ 30 trưa. Ông Long chợt nhìn thấy một điểm đen ngoài xa, cách chiếc thuyền đánh cá của ông độ hai cây số. Lúc đầu ông Long tưởng là dân chài đánh cá gặp tai nạn nên dùng thúng chai chèo vào đảo Cù Lao Xanh, nhưng khi đến gần ông nhận thấy không phải, nên đã gọi những thủy thủ thức dậy để sẵn sàng cứu người, vì lúc đó anh em đang ngủ. Chiếc tàu đánh cá càng đến gần, thì nhóm ông Long đã có thể thấy rõ nhiều người ăn mặc rất lôi thôi, nếu không muốn nói là tơi tả, nhiều cánh tay đưa cao lên những khẩu súng. Là một người đánh cá từng trải và gan dạ, ông Long cẩn thận cho tàu của mình cặp sát vào chiếc xuồng cao su, ông đã nhận thấy trong số người lạ mặt này những bộ quân phục quen thuộc, nhưng tất cả kiệt sức nằm rũ riệt trong xuồng. Ông Long nghiêng mình hỏi vói xuống, rằng lại sao lại đến nông nỗi như thế. Trung Úy Liêm còn tỉnh nhất đã gào to lên:
 
- Tụi tôi đánh Hoàng Sa thoát về đây, xin cứu nhanh và đưa về Căn Cứ Hải Quân.

Ông Long phái mấy thủy thủ khỏe mạnh nhất nhảy xuống chiếc ca nô bồng lên từng người, những chiến sĩ nào còn có thể leo được thì tự leo lấy, nhưng phần lớn các anh đều phải nhờ sự giúp sức của các ngư dân. Khi đã leo lên được hết trên tàu, các Biệt Hải chỉ còn có thể nằm sải tay ra thở dốc và đòi nước như điên. Nhân có ấm nước đang sôi, anh em thuyền chài thi nhau thổi cho nguội bớt và trao cho các Biệt Hải nhấp từng ngụm cầm chừng. Đồng thời, các thủy thủ cũng dùng số thuốc cấp cứu mang theo trên tàu để cho các chiến sĩ dùng tạm. Nhận thấy tình trạng các Biệt Hải quá yếu, ông Long gọi bốn thủy thủ đem nồi cháo hồ đổ cho mỗi người nửa chén. Được một lúc, thấy những người lính có vẻ tươi tỉnh hơn, ông lại cho người đổ cháo tiếp, cứ mỗi nửa giờ đút cháo một lần. Tình hình sức khỏe các anh đã khả quan rất nhiều, trong lúc chiếc thuyền chỉ còn cách hải cảng Qui Nhơn chừng mười cây số. Ông Long đã rất lấy làm xót xa là đã không cứu được Biệt Hải Nguyễn Văn Duyên, vì khi anh được khiêng lên tàu, thì thân thể của anh đã bị tê liệt, anh đang thở những hơi cuối cùng. Chiếc ghe đánh cá đã xả hết tốc lực phóng vào bờ, với một hy vọng mỏng manh chạy đua với thời gian và thần chết, nhưng đã không còn kịp nữa rồi. Biệt Hải Nguyễn Văn Duyên đã anh dũng đền nợ nước. Chắc anh linh của anh cũng đã thanh thản bốc lên trên khoảng trời trong xanh và trên mặt sóng của quê hương. Anh đã về đến hải phận Việt Nam và đã ra đi trong những giọt nước mắt nghẹn ngào của anh em.

Một vài khoảnh khắc sau, một chiếc giang đỉnh của Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn đi tuần đã bắt gặp chiếc thuyền, được biết tự sự, đã khẩn cấp gọi về Bộ Chỉ Huy để chuẩn bị phương tiện cấp cứu. Nhiều chiến đỉnh xuôi ra khơi để hộ tống chiếc tàu đánh cá tiến vào Căn Cứ. Cuộc hành trình của 15 Biệt Hải vượt thoát từ mặt trận Hoàng Sa đã chấm dứt. Tuy rằng các anh và những chiến hạm HQ 4 Trần Khánh Dư, HQ 5 Trần Bình Trọng, HQ 10 Nhật Tảo và HQ 16 Lý Thường Kiệt đã phải đớn đau rút bỏ Hoàng Sa, nhưng ít nhất Hải Quân Trung cộng đã kinh hãi khi phải đối đầu với cơn phẫn nộ của hậu duệ Ngô Vương Quyền, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, dù chúng có tạm thời chiếm được Hoàng Sa nhưng cũng đã phải trả cái giá rất đắt. Hai chiến hạm bị chìm và hai chiến hạm bị hư hại.

Lịch sử bốn ngàn năm chống giặc ngoại xâm phương Bắc của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, chưa từng có đế quốc Hán tộc nào có thể hùng cứ lâu dài trên mảnh đất Hoa Lục mà không bị sụp đổ. Trung cộng không ra ngoài định lý ấy. Nền kinh tế của nó hiện nay đang phụ thuộc rất nặng nề vào tư bản Hoa Kỳ, đó là cái tiền đề để dẫn đến một cuộc sụp đổ không tốn một giọt máu kiểu Liên Sô năm 1989. Trung cộng đang giẫm vào vết xe đổ của Liên Sô qua những cuộc chạy đua võ trang và không gian với người Mỹ, ấy vậy mà bọn chúng đang rất kiêu hãnh đẩy mạnh tốc độ cuộc thi tài. Cũng tốt cho nhân loại. Càng chạy nhanh thì cái hố địa ngục càng đến gần hơn. Rồi cũng có một ngày quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ trở về với dân tộc Việt Nam. Đến lúc đó, thế hệ con cháu Việt Nam sẽ giở lại những trang sử hào hùng của cuộc hải chiến Hoàng Sa ngày 19.1.1974, và sẽ thêm một lần cúi đầu ngợi ca ông cha của mình đã đánh giặc phương Bắc kiệt liệt đến như thế nào.


Tuesday, January 7, 2020

OANH TẠC HÀ NỘI 1972 - NIXON CÓ ĐẠT MỤC TIÊU ?

BM
B-52 rải bom xuống miền Bắc Việt Nam
Trong 12 ngày đầu tháng 12 năm đó, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger và đại diện Bắc Việt, Lê Đức Thọ, tiến hành nhiều cuộc họp nhưng không đạt tiến bộ.
Ngày 13/12, ông Lê Đức Thọ nói cần quay về Hà Nội nhiều ngày để "tham vấn".
BM
Ngày hôm sau, Nixon ra lệnh tiến hành chiến dịch LineBacker II, bắt đầu từ 18/12, đánh bom trở lại miền Bắc, sau khi chiến dịch ban đầu Linebacker đã ngừng vào ngày 23/10.
Một ngày trước khi cuộc đánh bom mùa Giáng sinh bắt đầu, Nixon nói với Đô đốc Thomas Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ: "Tôi không còn muốn thứ nhảm nhí là không được đánh mục tiêu này, mục tiêu kia." 
"Đây là cơ hội cho anh dùng quân lực để thắng cuộc chiến này. Nếu làm không được, anh chịu trách nhiệm."
Khác biệt giữa Nixon và Kissinger
Ngày 3/2/1973, Tổng thống Richard Nixon kể lại với một thư ký về lý do ông ra lệnh đánh bom miền Bắc tháng 12/1972.

BM   
Có số liệu nói Mỹ đã đổ 36.000 tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam trong 12 ngày đêm
Cuộc nói chuyện chỉ được Thư viện Tổng thống Nixon công bố cuối năm 2010.
Trong đó, Nixon than thở rằng báo chí quy cho ông trách nhiệm, trong khi Henry Kissinger mới là người cổ vũ đánh bom.
BM
Nixon nói với thư ký rằng chính ông ép Kissinger phải tiếp tục hòa đàm trong khi cố vấn an ninh chỉ muốn xóa đàm phán và tái tục đánh bom.
Năm năm sau, Nixon cũng nhắc lại quan điểm này trong hồi ký, rằng chính ông mới muốn tiếp tục đàm phán cho đến khi thấy rõ không còn lựa chọn nào khác. Và rằng chỉ sau khi kết thúc cuộc họp khó khăn giữa Kissinger và Bắc Việt hôm 13/12 mà Nixon mới miễn cưỡng ra quyết định đánh bom Hà Nội để buộc Bắc Việt chấp nhận "giải pháp công bằng".
Năm 1979, khi Kissinger công bố hồi ký của riêng mình, ông lại cho ra câu chuyện khác. Ông thừa nhận mình thường cổ vũ dùng vũ lực để ép Hà Nội thôi chiến thuật câu giờ tại Paris, nhưng lại nói rằng Nixon thường đồng tình.
"Ông ấy [Nixon] muốn ra lệnh tấn công bằng B-52 với khu vực Hà Nội - Hải Phòng ngay cả trước lúc cuộc họp của tôi tái tục hôm 6/12," Kissinger viết.
BM
  
Dựa trên các băng ghi âm và điện tín giữa Nixon và các cố vấn được giải mật gần đây, Thư viện Nixon cho rằng chúng xác nhận câu chuyện của Tổng thống.
Theo đó, vào tháng 11 và 12/1972, Henry Kissinger liên tục đề xuất mở chiến dịch đánh bom Bắc Việt trong khi Nixon ngần ngừ.
Vào ngày 14/12, họp tại Phòng Bầu dục, Kissinger đề nghị đánh bom kéo dài sáu tháng. Mặc dù giờ đây đã bớt ngần ngừ, Nixon, lúc này vừa tái đắc cử, cho rằng phi thực tế khi nghĩ Quốc hội Mỹ khóa mới sẽ chi tiền cho chiến dịch sáu tháng.
Nixon cho rằng việc đánh bom sẽ phải tiến hành trước khi Quốc hội mới tái họp.
BM
  
Đến cuối cuộc họp, Nixon nói việc đánh bom Bắc Việt là lựa chọn tốt nhất để thoát khỏi bế tắc đàm phán.
Nói với Tổng thống rằng "Bắc Việt sợ chết khiếp khi ngài tái tục đánh bom", Kissinger bảo đảm rằng nếu Mỹ không thả bom Hà Nội, tổng thống sẽ "bất lực".
Nhận định của giới sử gia
Cuốn The Vietnam War: An Intimate History (in năm 2017) của Geoffrey Ward nhận định Nixon có hai mục tiêu: buộc Bắc Việt quay lại đàm phán, và chứng tỏ cho miền Nam của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rằng Mỹ sẵn sàng dùng không lực đánh miền Bắc nếu Hà Nội vi phạm hiệp định mà Nixon đang đòi ông Thiệu phải ký.

BM
Một phi cơ B-52 cất cánh từ căn cứ ở Thái Lan năm 1968 để ném bom Việt Nam
Cuộc đánh bom kéo dài đến ngày 29/12, và theo số liệu của Geoffrey Ward, Mỹ đã đổ 36.000 tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam - nhiều hơn toàn bộ số bom sử dụng từ 1969 đến 1971.
Số liệu chính thức của Việt Nam nói Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B-52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật thả bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi trên miền Bắc.
'Hạ gục' phòng không miền Bắc?
BM
  
Đánh giá về sự kiện, tướng ba sao Phillip Davidson, trong cuốn sử Vietnam at War (1988), nói sau 12 ngày, "không còn mục tiêu quân sự nào tại miền Bắc để đánh nữa".
"Các cuộc không kích của Mỹ đã hủy diệt khả năng của Bắc Việt tự vệ trước các vụ không kích sau này."

BM
Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger
Phillip Davidson đánh giá rằng khả năng phòng thủ của Hà Nội kiệt quệ tới mức trong ba ngày cuối, máy bay của Mỹ "gần như không còn bị bắn trả", và "kết quả quan trọng nhất là Hà Nội đã hiểu thông điệp của Nixon".
Tuy nhiên, một tác giả khác, Marshall Michel, trong một bài viết đã đăng trên trang 'Air & Space Magazine' tháng 1/2001, lại cho rằng lý do Hoa Kỳ giảm thiệt hại về B-52 ở giai đoạn sau của chiến dịch Linebacker 2 là vì thay đổi chiến thuật bay vào Hà Nội.
Theo ông, một tướng Mỹ đã phê phán cách bay đến mục tiêu và bay về theo một đường dọc nối đuổi nhau (single file) của các pháo đài bay B-52.
BM
  
Sau sự thay đổi, từ đêm 26/12/1972 hơn 100 chiếc B-52 từ hai hướng, Lào, và Vịnh Bắc Bộ bay vào ném bom Hà Nội và Hải Phòng, nhưng không bay theo đường thẳng mà tiếp cận mục tiệu "từ mọi hướng" (nguyên văn: mọi góc độ của la bàn - attacking from all directions on the compass).
BM
"Phòng không và radar của Bắc Việt tuyệt vọng không việc tìm các tuyến bay nhưng hệ thống điều khiển bằng tay của họ đã không thể bám theo kịp các mục tiêu.
"Nhiều chiếc B-52 sau khi thả bom đã không vòng về ngay như trước mà bay tiếp, hoặc một số bay về chậm hơn."
BM
  
Tác giả này mô tả "đa số hỏa tiển đất đối không của Bắc Việt vẫn bắn lên nhưng cuối cùng chỉ có một B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Một chiếc nữa đâm xuống đất khi hạ cánh ở U-Tapao (Thái Lan)".
Trở lại đàm phán
Ngày 8/1/1973, vòng đàm phán thứ ba và cuối cùng mở màn ở Paris và sau đó được bốn bên - Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa - ký vào cuối tháng Giêng. 
 BM
Nhà đàm phán Bắc Việt - ông Lê Đức Thọ
Trong quyển được xem là kinh điển về chiến lược dùng không lực, Bombing to Win: Air Power and Coercion in War (1996), Robert Pape cho rằng chiến dịch Linebacker II buộc Hà Nội trở lại đàm phán, nhưng "không tạo ra khác biệt đáng kể nào" đối với nội dung hiệp định.
Robert Pape chỉ ra rằng khi hội đàm tái tục tháng Giêng 1973, Hà Nội đồng ý để Mỹ "đưa vào những sửa đổi hời hợt để Mỹ có thể biện hộ trước cáo buộc ép đồng minh ký".
Tuy nhiên, Robert Pape cho rằng hai chiến dịch đánh bom Linebacker cũng tác động đến tính toán của Hà Nội không chỉ vào năm 1972. Một nguyên nhân khiến Hà Nội chưa "tổng tiến công" sau khi Mỹ rút năm 1973 là vì e ngại sức mạnh không quân của Mỹ.
Chỉ cho đến cuối năm 1974, sau khi Nixon phải từ chức vì vụ Watergate, và sau trận Phước Long tháng 12/1974 xác nhận Mỹ không can thiệp, Hà Nội mới tiến hành Chiến dịch Mùa Xuân 1975.
Ký kết hiệp định

BM
Hoa Kỳ đã ép Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký Hiệp định Paris
Cuốn sử gần đây hơn, Hanoi's War (2012) của Nguyễn Liên Hằng, cho biết thêm mặc dù Liên Xô và Trung Quốc ra tuyên bố lên án vụ đánh bom, nhưng hai đồng minh, trong khi họp kín, đã "gây sức ép" buộc Hà Nội đàm phán với Washington.
Tác giả Nguyễn Liên Hằng cũng ghi nhận cuộc đánh bom 12 ngày đêm "đem lại sự phẫn nộ toàn cầu; thay vì bẻ gãy ý chí của Hà Nội, những quả bom của Mỹ đã khiến quốc tế lên án chính quyền Mỹ".
Ngày 23/12, Đại sứ Liên Xô Scherbakov nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng Hà Nội nên sẵn sàng họp với Mỹ và chỉ nên đòi Mỹ ngừng đánh bom.
Đến ngày 26/12, Bắc Việt gửi thư đề nghị tổ chức cuộc gặp giữa Kissinger và Lê Đức Thọ vào ngày 8/01/1973.
BM
  
Cùng ngày trao đổi với Tổng thống Nixon qua phone, Kissinger đề xuất sẽ tiếp tục trao đổi thư từ với Bắc Việt để kéo dài đánh bom tới ngày 31/12. Đó cũng là khi Washington sẽ loan báo rằng sẽ tái tục đàm phán vào ngày 8/01/1973.
Đến hôm sau, cũng qua phone, Kissinger cho Nixon biết ông đã gửi thông điệp cho Hà Nội rằng nếu Bắc Việt xác nhận, Mỹ sẽ ngừng thả bom "trong vòng 36 tiếng".
Cuốn Hanoi's War của Nguyễn Thị Liên Hằng dẫn số liệu cho biết 27 máy bay Mỹ bị bắn rơi, gồm 15 máy bay B-52 (miền Bắc thì tuyên bố bắn rơi 81 chiếc, gồm 34 chiếc B-52).
Còn cuốn của Geoffrey Ward, cuốn sách chính thức đi kèm phim tài liệu vừa ra mắt năm 2017 của Ken Burns, nhận xét gần giống với Phillip Davidson khi nói: "B-52 hủy diệt toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt."
Thủ tướng Trung cộng Chu Ân Lai nói với một quan chức Bắc Việt:
"Điều quan trọng nhất là để người Mỹ ra đi. Tình hình sẽ thay đổi trong sáu tháng, một năm."

BM
Buồng lái của B-52. Nhiều năm sau cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn duy trì các đội bay B-52
Geoffrey Ward cho rằng nội dung hiệp định Paris rốt cuộc không khác mấy nội dung thương lượng hồi tháng 11, trước khi diễn ra chiến dịch đánh bom. Nói như John Negroponte, trợ lý của Kissinger, thì Mỹ "đánh bom buộc Bắc Việt chấp nhận những nhượng bộ của chúng tôi".
Rốt cuộc, chiến dịch đánh bom tháng 12/1972 đem lại điều mà Tổng thống Nixon muốn: một bản hiệp định mở đường cho Mỹ rời khỏi Việt Nam "trong danh dự".
BM
  
Trước lúc hiệp định Paris được ký, Nixon gửi ba lá thư cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong đó, Nixon dọa nếu ông Thiệu không ký, ông đối diện "việc ngừng toàn bộ trợ giúp".

Nhưng Nixon cũng cam kết "Mỹ sẽ phản ứng mạnh mẽ khi xảy ra vi phạm hiệp định".

BM
  
Ngày 22/01/1973, Lyndon Baines Johnson, Tổng thống đã đưa quân Mỹ đổ bộ vào Việt Nam, qua đời.
Ngày hôm sau, phát biểu trước quốc dân, Tổng thống Richard Nixon tuyên bố đã đạt thỏa thuận "chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình với danh dự tại Việt Nam và Đông Nam Á".

Tổng thống Hoa Kỳ như thế đã nhận rằng ông "chiến thắng".
Nhưng Bắc Việt "cũng đã thấy họ chiến thắng", như nhận xét của Marshall Michel.
BM
  
Đó là vì Hà Nội "nhấn mạnh rằng cuộc thả bom của Hoa Kỳ có mục tiêu buộc họ đầu hàng, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng Hòa đàm Paris cuối cùng thì đã đồng ý cho Bắc Việt để quân đội ở lại phía Nam, và vì thế họ có thể nói là chiến dịch Linebacker II đã thất bại", tác giả cuốn 'The Eleven Days of Christmas: America's Last Vietnam Battle' viết.


Nguồn : https://baomai.blogspot.com/