Saturday, February 25, 2017

ĐỒI DELTA



Mũđỏ Trương Văn Út (Útbạchlan)


Cuộc hành quân Toàn Thắng do Trung Tướng Đổ Cao Trí sắp bước vào giai đoạn kết thúc, Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù (LĐ1ND) đã kiểm soát toàn bộ tỉnh Kampong Cham, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù (LĐ3ND) chiếm tòan bộ phía Đông của Cambodia gồm các cứ điểm trọng yếu như: Snoul, Memot, Chup, Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐ2ND) làm lực lượng trừ bị trách nhiệm dọc theo biên giới Miên - Việt. Bộ Chỉ Huy Lữ  Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH-LĐ2ND) đang trú đóng tại trại Biên Phòng Thiện Ngôn vốn là căn cứ của Lực Luợng Đặc Biệt về phía Tây của tỉnh lỵ Tây Ninh cách biên giới khoảng 10 cây số (Km). Toàn bộ nhân sự lãnh đạo Cục R và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời cùng đám cán binh thoát chết của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phải tháo chạy thục mạng lẫn trốn về vùng biên giới Việt - Miên - Lào khiến Tướng Đổ Cao Trí không thực hiện được quyết tâm: “phen này ta nhất quyết phải bắt được thằng Mười Trí”!

Những ngày cuối năm Tân Hợi (1971), Đại Đội 2Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) được lệnh triệt xuất ra khỏi vùng biên giới sau một tháng dầm mình dưới những đầm lầy đầy dẫy đĩa vắt muỗi mòng … và được bốc về Căn Cứ Hành Quân BCH-LĐ2ND chuẩn bị đón Tết Nhâm Tý (1972) dưới hầm trú ẩn trong trại LLĐB Biên Phòng Thiện Ngôn. Những ngày cuối tháng Hai tuy không lạnh lắm, nhưng sương mù buổi sáng giăng khắp nơi như bao phủ cả trại lính chìm vào không gian của những ngày cuối Đông lành lạnh còn vướng víu chưa nỡ sang Xuân…! Chợt có tiếng hát từ radio của lính:

Đợi hai ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa,
mời Xuân đến với tôi, giờ còn nặng hai vai,
thân tha hương hồ hải, hỏi Xuân có gì vui?
hỏi Xuân có gì vui, Xuân làm dáng cho đời,
đẹp lòng giây phút thôi, ôi đất nước xa xôi,
Xuân đi làm sao tới, dặm dài xin chớ lui…!

(Tôi Chưa Có Mùa Xuân -  Châu Kỳ )


Tôi chạnh tình nhớ đến khung cảnh sinh hoạt của những người thân yêu trong gia đình: giờ này chắc Mẹ và Chị đang ngồi canh bên bếp lửa hồng với hai nồi bánh chưng và bánh tét, Cha và Em đang chùi mấy bộ lư đồng, quét dọn bàn thờ, treo vài ba câu đối đỏ, cắm một vài cành mai… và  thành tâm lâm râm khấn vái, cầu nguyện với niềm hy vọng mong manh: “thằng Út có thể sẽ về ăn tết năm nay”…? Trong cơn hồi tưởng miên mang tôi tự thưởng hương vị tất niên:


Xuân Viên

Sơn tuyền lưỡng xứ vãn,
Hoa liễu nhất viên xuân.
Hoàn trì thiên nhật tuý,
Cộng tác bách niên nhân.

(Vương Bột -
王勃)

Hay Thơ Xuân với Thiền sư Việt:
Tựu khai
Đào trung xuân mãn diện
Xuân trung đào tựu khai
Hà tất quân vị báo
Vô đào xuân bất lai.
(MĐTTA)

Và:
Rừng núi thương Xuân bèn trổ lá
Thị thành nhớ Tết cố chưng bông.

Trong căn hầm trú ẩn chỉ rộng khoảng năm sáu thước vuông, một cái bàn dã chiến cùng bốn thùng gỗ pháo binh làm ghế ngồi. Khi tôi và Bác Sĩ Hiệp đến thì đã có mặt Trung Tá Nguyễn Văn Tường TĐT/TĐ2PB ngồi sẵn đó rồi. Trên bàn là một chai Remy Martelle, một cái bánh chưng, một đĩa giò thủ cùng với dưa hành củ kiệu…Thường chúng tôi gặp nhau hằng ngày qua máy PRC25 hoặc trong những buổi họp hành quân kể cả những khi không có gì để nói đến trận mạc chiến chinh. Thiếu Tá Trần Đăng Khôi mở lời:

- Theo tôi được biết LĐoàn sẽ được lệnh về hậu cứ vài ngày tới, đnghĩ dưỡng quân không biết được bao lâu, sau đó sẽ tăng phái cho Quân Đoàn II, vì BTư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn22BBinh đang bị áp lực nặng nề ở Tân Cảnh - Dakto. Tôi chỉ biết có thế!  Còn vphần tôi có lẽ được thuyên chuyển về đơn vị khác.

Trung Tá Tường cười cười nâng cốc rượu và chợt nói:
- Chúc mừng!!!

À,…thì ra hai “ngài” được thăng quan tiến chức. Thiếu Tá Khôi về làm Tiểu Đoàn Trưởng - Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐT/TĐ7ND), Trung Tá Tường lên làm Chỉ Huy Phó BChỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn (CHP/BCHPBS Đ) cả hai sẽ được thăng cấp.

.Quốc Lộ 14 Kontum – Dakto:

Tôi leo lên chiếc trực thăng (Slick) thứ tư, một trong 15 chiếc trực thăng chở quân của Phi Đoàn 229 Lạc Long đang quạt cánh nằm chdài trên quốc lộ 14 phía trước căn cứ Võ Định - Bộ Chỉ Huy Hành Quân của LĐ2ND…. Lố nhố trong 3 Slick đầu là ba toán Viễn Thám, Slick thứ tư có tôi, 3 hiệu thính viên và 3 “thầy trò” Thiếu Úy Chu Văn Chấn tiền sát viên Pháo Binh của TĐ1PBND, Slick thứ năm là toàn bộ cố vấn Mỹ và phóng viên chiến trường Cao Sơn của Phòng Tâm Lý Chiến Quân Đoàn II, những Slick còn lại chcác binh sĩ Trung Đội Trinh Sát Dù… Trên không là chiếc C&C của Đại Úy Phạm Công Cẩn (Công Cẩn Giang Đông “tân biên” - K21VBĐL) cùng với Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐoàn Trưởng LĐoàn 2 Nhẩy Dù (LĐT/LĐIIND), Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành (K19VBĐL) Sĩ Quan phụ tá hành quân LĐoàn, Thiếu Tá Bùi Đức Lạc - Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhẩy Dù (TĐT/TĐ1PBND) và các hiệu thính viên.

Tiếng cánh quạt quay nhanh bắt đầu tăng tốc độ nâng cao thân tàu lên khỏi con đường tráng nhựa mang tên Quốc Lộ 14, con đường nối liến từ ngã ba biên giới Việt – Miên - Lào (Benhet) về Kontum đến Pleiku đã trãi đầy máu và nước mắt của biết bao nhiêu Quân - Dân - Cán - Chính vùng Tam Biên với sức cường tập háo sát của Sư Đoàn 320A chính quy Cộng Sản Bắc Việt (SĐ320A CSBV) từ vùng Hạ Lào xâm nhập vào nơi đây sau “Mặt Trận Đường 9 Nam Lào” (Hành Quân Lam Sơn 719 Việt Nam Cộng Hoà), được tăng cường thêm 2 Trung Đoàn Tank T54, 1 Trung Đoàn Phòng Không hạng nặng cùng với sự hổ trợ của Sư Đoàn 10 Cơ Động Địa Phương (SĐ10CĐĐP).

Trên tầng số liên lạc tôi gọi thiếu tá Thành:

- Thành Thái...Út Bạch Lan.
- Nghe…
- Thăng thiên…

Từ bãi bốc (PZ) đến bãi thả (LZ) mất hai phút bay. Trong hai phút ngắn ngủi này mà bao nhiêu người phải vận dụng tất cả trí lực để chú tâm vào nhiệm vụ của mình. Người quan trọng nhất phải nói là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc - Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1PBND người đang phối hợp điều động cả lực lượng Pháo Binh, phi yểm của Việt và Mỹ cho việc đổ quân, chỉ một sơ xuất nhỏ tính toán vài giây đồng hồ thì sẽ  gây ra không biết bao nhiêu hậu quả không lường trước được… Với Kỹ Thuật “GAP” (Ground and Air Preparation) là dọn bãi đáp an toàn cho chiến thuật Trực Thăng Vận, chắc có lẽ chỉ có Pháo Binh Nhẩy Dù là thông thạo và nhiều kinh nghiệm nhất vì đã phối hợp với Không Kỵ Hoa Kỳ (1st Cavalry Division) nhiều năm rồi.

- Hồng Vân, Huyền Vân, Thanh Vân...11…?
- Nghe đích thân.
- 10,9,8,7,6,5,4,3,2,1...Out...

Ám số 11 là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc TĐT/TĐ1PBND, Hồng Vân là Đại Úy Tựu (A1), Huyền Vân là Đại Úy Thái (B1), Thanh Vân là Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc (C1) ba sĩ quan Pháo Đội Trưởng của TĐ1PBND. Khi tôi báo “Thăng Thiên” và dự trù sẽ đến LZ hai phút thì Th/T Lạc cho lệnh 3 Pháo Đội cùng lúc khai hỏa TOT(Time  On Target) tập trung ngay vào mục tiêu, trong khi chúng tôi đang trên đường bay tới mục tiêu… Chúng ta hãy thử làm con tính nhẫm: 3 Pháo Đội có tổng cộng 18 khẩu pháo 105ly, mỗi khẩu tác xạ 20 quả đạn vào cùng một điểm, trong vòng một vài phút thì sức tàn phá  huỷ  diệt có khác gì phi cơ thả bom chiến lược B-52 ?

Tôi tuy đang ngồi trên chiếc Slick thứ tư, nhưng thân luôn chồm lên phòng lái để theo dõi phía trước, nghe trong máy của Th/U Chấn pháo binh đếm tiếng điểm của Th/T Lạc...2...1...Out, vừa nghe chữ “Out” và một trái khói cuối cùng bung nổ ngay trên đỉnh đồi 1049 (có tên là đồi Delta) nơi mà tôi phải dẫn quân đáp xuống như đại bàng điểm sơn, bốn chiếc Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long lao xuống phóng  hàng loạt Rocket ngay vào đám khói trắng đang bung tỏa rộng lên không và trong tít tắt giây đồng hồ thì chiếc Slick thứ nhất với toán Viễn Thám 1 cũng vội đáp xuống trên đỉnh đồi.   Nhưng mọi việc không xảy ra như dự tính để đưa đến những biến chuyển dở khóc dở cười và sau này ký giả Cao Sơn của Quân Đoàn II đã viết bài dệt gấm thêu hoa, thăng thiên gần như huyền thoại …! Slick thứ nhất vào tới mục tiêu trên cao độ 50ft thì đột ngột quay về phía phải 90 độ, hạ thấp độ cao và biến mất dưới thung lũng rừng núi chập chùng, Slick thứ hai, rồi Slick thứ ba… Tôi lao lên chỉ cho Pilot chính bên trái và  hét lớn: “ xuống… xuống… xuống ngay cho tôi…”! Chiếc trực thăng xà xuống ngay đỉnh đồi chừng 5ft, chúng tôi đồng loạt phóng nhanh xuống mặt đất, trực thăng bốc lên bay khỏi đỉnh đồi, tôi chụp máy gọi ngay cho Thành Thái:

- Tôi bị phục kích độn thổ, yêu cầu phải cho tất cả con cái của tôi đoàn tụ...hết.

Trong khi đó chân tôi đang đứng trên miệng hầm, dưới hầm là một nòng đại liên phòng không 12ly7 đang quơ qua quơ lại… Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Minh trưởng ban truyền tin của Đại Đội xô ngang vai tôi một cái thật mạnh, tôi bật ngã lăng lòm còm trên nấp hầm, Trung Úy Buhdar cố vấn Mỹ đang ở  bên cạnh rút vội khẩu Colt 45 không kịp kéo cơ bẩm cho đạn lên nòng mà cứ hô hoán “bố cu vi ci” luôn miệng... Tôi lấy lại bình tỉnh và la lớn: “lựu đạn”… Vì trong tình trạng quá bất ngờ lại ngạc nhiên, quýnh quáng nên Thiếu Úy Chấn tháo trái lựu đạn từ giây ba chạt, cắn rút chốt, quăng ngay xuống hầm chờ cho nó nổ, thì ngay tức khắc trái lựu đạn lại bị Việt Cộng từ  dưới hầm ném trả trở lên phát nổ tung… Thầy trò chúng tôi nằm rạp xuống, bò lết bò càng, sờ bụng, sờ đầu, lần mò xem tay chân có mất cái nào không…? May quá cả đám không hề chi như phép lạ, hú hồn …!!! Thôi,… không dùng lựu đạn nữa, chơi mìn Claymore theo kiểu a la mode “Nhẩy Dù” cho chắc ăn, tay cầm sẵn “con cóc”, ném một trái khói xuống hầm, rồi ném mìn Claymore xuống theo, xong bấm cóc… “Oành” tiếng nổ vang trời, nóc hầm bung v tung, có  tiếng khua động cuống quít ở những hang đào ăn luồng với căn hầm chính là  lố nhố năm ba chú nón cối đang cố chui vào các ngách đục sâu vào vách hầm chính, mặt  mày ngây ngô, thất kinh tưởng như bị thiên lôi vừa giáng một búa mà chưa chết…!  Và cứ tiếp tục như thế, các Trung Đội đến sau cứ  y theo thủ thuật “thảy lỗ bấm cóc “cho đến khi dứt điểm hơn hai chục (20) căn hầm trên đỉnh đồi bung nắp,  thằng nào còn sống nguyên vẹn thì lôi lên, đối xử tử tế với nó, không cần trói, chỉ cho ngồi yên tại chỗ, cho uống cà phê, hút thuốc lá  Pallmall, thằng nào chết thì đếm xác, bị thương nặng ngáp ngáp không thể  cứu chữa được thì cho nó một phát ân huệ cuối cùng để tránh khỏi đau đớn hành xác với lời cầu nguyện cho linh hồn được siêu thoát và đưa tay vuốt cho đôi mắt khép lại luôn cả oán hờn…! Kiểm lại bắt sống được 12 tên Bộ Đội chính qui Việt Cộng tại chỗ, chúng chỉ ở lứa tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” ốm đói vì thiếu ăn lâu ngày không tương xứng làm đối thủ với Trinh Sát 2 Nhẩy Dù! Chiếc Slick thứ năm và 10 chiếc Slick kế tiếp lần lượt đáp xuống yên ngựa dưới triền đồi, chờ đợt hai thì thả đủ toàn bộ ĐĐ2TSND của tôi. Tôi đang lượng định địa thế để bố trí quân thì qua máy liên lạc:

- Út Bạch Lan...qua tần số UHF nói chuyện với tôi.

Giọng nói của Pilot trực thăng Phi Đoàn 229 Lạc Long là đại úy Phạm Công Cẩn dân Thiếu Sinh Quân vào Khóa 21 Võ Bị Quốc Gia có nhiều kỷ niệm ân tình với tôi khi tôi còn ở Lực Lượng Đặc Biệt tại Nha Trang… “Công Cẩn Giang Đông” đang bay C&C cho đại tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND.

- Út Bạch Lan...bằng mọi giá tôi sẽ lo cho con cái UBL xum họp đầy đủ… 207 (ám số  truyền tin của Đ/T Trần Quốc Lịch) đã xin Quân Đoàn  phi yểm khẩn cấp với sự hổ trợ của cố vấn trưởng John Paul Vann, OV10 vừa báo cho biết UBL đang bị bao vây đó...Tôi đang xuống đây!

Công Cẩn vừa dứt lời thì tôi thấy chiếc C&C đã quần trên đầu hai vòng và lặn sâu xuống thung lũng… Năm phút sau:

- Út Bạch Lan... 207.
- Tôi nghe đích thân.

- Út Bạch Lan đang trong vòng vây của Trung Đoàn 64 Sư Đoàn 320 (TĐ64/SĐ320). Cố gắng giữ Delta trong đêm nay, ngày mai TĐ2ND sẽ xuống Charlie (phía Bắc), TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà (phía Nam). Tôi đã nói với đại tá Mike cố vấn Lữ  Đoàn yêu cầu Quân Đoàn dành ưu tiên tất cả phi yểm từ bây giờ cho đến ngày mai cho Delta. Đêm nay là đêm không ngủ của UBL và cả LĐoàn  nữa đó. Nhẩy Dù Cố Gắng!

Trên tầng số liên lạc Thành Thái (K19), Trọng Nhi (K20) cũng nhắn lời tôi sẽ thức với UBL đêm nay, và đặc biệt Công Cẩn (K21) sẽ bay suốt đêm nay để yểm trợ …!

Tôi xin tiếp tế ngay lựu đạn, mìn Claymore, mìn chiếu sáng, đạn đại liên M60 đồng thời yêu cầu bốc luôn 12 ông nhô con nón cối gầy còm trơ xương, da xanh xao như  tàu lá vì đói ăn và  thiếu ánh sáng mặt trời lâu ngày… đang lấm la lấm lét nét sợ hãi hiện lên vẻ mặt cùng với dáng ngồi xổm co ro trông rất tội  nghiệp  nếu họ không phải là  Việt Cộng …?! Trong số 12 tên bị bắt có một Sĩ  Quan cấp Thiếu Úy tên Đoàn Tạo tốt nghiệp trường Hoàng Phố. Tôi hỏi hắn:

- Tại sao các anh không có phản ứng khi chúng tôi đến?
- Chúng em chưa có lệnh khai hỏa!

“Giời cao, đất dày ơi”…! Thật hú vía bà đ, hồng phước tề thiên...! Thử  nghĩ  xem với giàn phòng không cả chục khẩu 57ly di động, tối tân của Nga - Tầu mới  “ra lò “ nó mà khai hỏa thì không biết có bao nhiêu trực thăng bị bắn gảy cánh như chim Bằng thọ tiễn mang theo cả thân xác, xương thịt của ĐĐ2TSND làm phân bón cho cây cỏ xanh lá và đám rợ hoang đua mọc bao phủ quanh đồi Delta…! Trang đầu cuốn sổ nhỏ nhật ký hành quân của hắn viết: “Polko dậy sóng, giải phóngTây Nguyên”“chặt Kontum rụng cả Tây Nguyên” rất là ảo tưởng và cường điệu tính lãng mạn trên chiến trường “võ mồm” bởi bị guồng máy Đảng và Nhà  Nước tuyên truyền, nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ giải phóng miền Nam và thẳng tiến trên đường xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định thắng lợi …?! Trong nhật ký  có một đoạn khá bi thương và cảm động: “Bu ơi! Sau sáu tháng, đêm đi ngày nghĩ, cuối cùng chúng con đã đặt chân lên phần đất Kontum, Gia Lai với rừng núi bạt ngàn. Con nhớ Bu lắm, không biết Bu còn khỏe để hằng ngày tưới mấy chục luống khoai hay không, mùa đông sắp tới còn củi rừng để đốt sưởi hay không, nỗi buồn nhớ bố, anh cả, bé Tư đã mất trên đường vào B có vơi đi hay không? Đơn vị của con xuất phát từ Lao Bảo, Khe Sanh với hơn 400 người, giờ chỉ còn gần 200 trong tâm trạng hoang mang lo âu không biết chết sống ngày giờ nào. Bệnh tật chết, bom đạn bất thần đổ ập xuống đầu...cũng chết...!”

Tôi móc bao thuốc Quân Tiếp Vụ và hỏi đám cán binh Việt Cộng bị bắt này với thái độ trấn an khoan hoà:
Có ai muốn hút thuốc không?  Các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa thật là các cậu còn sống … Nhưng những đồng chí của các cậu đang ẩn nấp rình rập trong rừng kia chưa biết tử thần rồi sẽ đưa đi lúc nào...”?! 

Quả thật như vậy! Nếu mấy tên cán binh nhô con VC này không bị chúng tôi bắt giữ mà phải tiếp tục chiến đấu, không may bị thương nặng thì ắt sẽ phải chết tức tưởi…! Vì để tránh không phải chịu trách nhiệm và là gánh nặng kinh tế phải săn sóc, nuôi nấng đám thương binh tàn phế vô dụng, báo cô trong cuộc chiến sẽ gây ảnh hưởng xấu, tiêu cực, bi quan làm giao động tinh thần, rối loạn hàng ngũ cán binh vào Nam chiến đấu và khiến cho xã hội suy yếu, xáo trộn hậu phương… Trong khi điều kiện chiến trường khắc nghiệt, thiếu thốn tất cả phương tiện, nhân sự y tế và tiếp liệu để cứu chữa cho thương binh… Nên Bắc Bộ Phủ đã ban hành tiêu lệnh triệt để cho các cấp chỉ huy  phải “ban phát ân huệ” là xử tử tất cả cán binh bị thương nặng ngay tại chiến trường và chúng đã “thanh toán” hơn 300 000 (ba trăm ngàn) thương binh được “ghi nhận là mất tích” …?! Nhưng chắc chắn con số thật phải nhiều lần hơn “báo cáo” vì gian dối như “Vẹm” là bản chất bất biến với thời gian… Lại nữa bí mật đã có loài côn trùng hoang vùng núi rừng trùng điệp xứ nhiệt đới gậm nhắm tất cả còn đâu hình hài để mà xăm soi, nào ai biết, nào ai hay, người chết không biết nói, chỉ có oan hồn vật vờ phiêu dạt trong cõi vô minh mịt mù…!

Trên tầng số liên lạc:
- Út Bạch Lan...chuẩn bị bãi đáp.

Tiếng Thành Thái (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành) vang vang trong máy. Bốn  chiếc Cobra xuất hiện bao vùng. Tôi ra lệnh vội vàng cột hai tay ngoặc sau lưng 12 tên nhô con VC này, bịt mắt bằng khăn chít đầu Viễn Thám, căng bốn Panel vàng cùng với kính phản chiếu đánh dấu cho LZ. Hai trực thăng tiếp tế được hộ tống bởi hai Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long dưới sự điều động của C&C Phạm Công Cẩn từ từ đáp xuống ngay dấu hiệu của kính phản chiếu và đạp vội xuống mấy thùng đạn dược, trong khi chúng tôi đẩy nhanh 12 tên tù binh nhô con VC lên trực thăng cùng với 6 thương binh nhẹ của TS2ND. Phi vụ cảm tử tiếp tế khẩn cấp đã hoàn tất với sự gan lì của các Kinh Kha thời đại Bảo Quốc Trấn Không - Phi Đoàn 229 Lạc Long “bay không ai tìm xác rơi”. Hạ sĩ Mang Đen vai đang vác hai thùng đạn đại liên M60 khi đi ngang tôi hát vang: “ba về thủ đô...má có đồ chơi...”!!! Thiếu Úy Chấn tiền sát viên hỏi tôi:

-  Nó hát cái gì vậy?

Tôi trả lời:
- Thì đồ chơi của “má” là hai thùng đạn đại liên M60 đó.

Đại uý  Buhdar cố vấn Mỹ lom khom chạy đến chỗ tôi ngồi báo tin:
- Hey Út,… Đại tá Mike cố vấn Lữ  Đoàn mới cho tao biết, đêm nay tụi nó (VC) nhất quyết trả thù trận thảm bại vừa rồi, chúng sẽ đánh cường tập dứt điểm bọn mình. Nên Quân Đoàn đã chấp thuận lời đề nghị của Mr. B-52 JohnPaul Vann là ưu tiên dồn hết tất cả mọi phi yểm cho mình. Chúng ta phải đối phó với cấp Trung Đoàn VC cùng với đại pháo 130 và hoả lực phòng không tân tiến của chúng nó. Ý kiến của Út mày ra sao cho tao biết?

- Budhar, mày yên tâm! To night mày cứ ở bên tao và Chấn, tất cả đều không ngủ… Hey, yeah make my day. You and us wait for the night to come… Ok?

Buhdar móc trong áo Shaun chai Black&White nhỏ bằng bao thuốc lá Pallmall mở nắp trao cho tôi rồi nói:
-  Ok...Ok...Ok...We bottle up...God blesse for us to night...!

Ánh thái dương khuất dần sau những hàng cây rừng phía Tây, bên kia là phía Đông nơi xa… xa …đó là thành phố Saigon bình yên, có lẽ giờ nầy phố phường bắt đầu lên đèn hoa rực rỡ, thị dân hiền hoà an hưởng nhịp đời như nên thơ

Màn đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng,
Kìa bao phố phường, bao mái lầu chìm trong bóng đêm,
Lá lá lá lá la la, lá lá lá lá la
Đời đẹp quá á a à á a a bài thơ
Đường đi lối về cơn gió lùa ngả nghiêng bao tà áo
Và bao mái đầu không vướng sầu kề vai bước mau…

(Đêm Đô Thị - Y Vân)

Chúng tôi nằm phục ở nơi đây ghìm tay súng, chong đôi mắt đỏ chờ  giặc trong  bóng đêm ma quái rờn rợn khí thê thê lạnh của tử thần lảng vãng, lẫn khuất ngay ngáy mùi máu tanh còn thấm ướt qua từng thớ đất trận địa ban ngày vừa qua…! Những khi “thầy trò Đường Tăng” ĐĐ2TSND chúng tôi phải lâm vào “Thế Bối Thuỷ” và giặc thù vây kín trùng trùng… không có đường trở lui mà phải Sinh Tử Chiến, mãnh hổ huyết chiến địch quần hồ mới hòng có đường sống sót trở về với vợ con ở trại gia binh… Hơn 200 sinh mạng “Kinh Kha” Trinh Sát Dù đã qua bờ Dịch thuỷ đang trông chờ ta với trọng trách nặng nề đè nặng trên vai… Tôi phải thật bình tĩnh nhận thức sự việc từ nội tâm tới ngoại giới như chiếu soi và trong không gian tỉnh lặng, tôi nghe rõ tiếng xào xạt lá cây rừng với vài cơn gió Hè thổi qua của vùng Tây Nguyên đất đỏ, mắt đảo quanh như soi hút cảnh vật chung quanh và chú tâm nghe ngóng những động tỉnh nhỏ nhặt mơ hồ như có, như không xen lẫn trong mớ âm thanh hỗn độn tiếng côn trùng gọi nhau trong đêm … Tôi biết tất cả hơn 200 đôi mắt của ĐĐ2TSND cũng đang chong đỏ trong bóng đêm dày dặc và tay ghìm chặc súng đạn đã lên nòng từ những hầm hố, lấy độ dày của đất làm chỗ che thân và chờ đợi từng giây phút sẽ có ánh lửa loé chớp nhoáng bùng lên với hằng loạt tiếng nổ xé rách màn đêm khi địch quân nổ súng tấn công cường tập… Trên không có tiếng vọng rù …rì … của chiếc không thám OV10 bay trên cao độ vài ngàn bộ như  thần “thiên lý nhãn” hộ mạng luôn túc trực quan sát, theo dõi tình hình “dưới thế” để chỉ điểm, hướng dẫn, báo cáo hành quân, yểm trợ quân bạn từng chi tiết bất kể giờ giấc hay đêm ngày … Thời khắc tử thần quơ lưỡi hái đã điểm lúc 10:45 trời gần khuya: hằng loại trái sáng phát nổ phựt ánh sáng bung loé sáng rực trong đêm cùng lúc tiếng nổ mìn định hướng Claymore vang dội, thân xác, xương thịt vung vãi, bầy thiêu thân ngông cuồng lao tới bức tường thành lửa đạn khạc ra hằng loạt, lựu đạn tung lên nổ vang nháng lửa, hằng loạt M79 bắn trực xạ vào thân người tan nát, những tràng đại liên M60 nổ dòn liên thanh không cần giải nhiệt bắn vào thây người ngã xuống, bấm thêm  mìn Claymore nổ dạt tung toé xương thịt kinh hoàng, lớp ngạ quỉ “sinh Bắc tử Nam” tan tành như xác pháo, lớp khác nhào tới như những cương thi vô cảm giác rồi ngã bật xuống trước họng súng thiện xạ của hơn 200 tay súng ĐĐ2TSND là đơn vị Tổng Trừ Bị ưu tú trong QLVNCH dày dạn kinh qua bao chiến trường trên 4 Vùng Chiến Thuật… Khoảng 5 phút sau, 4 chiếc Cobra trực thăng võ trang đã xuất hiện từ cao độ 500 bộ, theo tín hiệu của PRC11 phát ra từ Budhar và tôi hướng dẫn chỉ điểm mục tiêu để cho “Thiên Thần Mãng Xà Vương “ Cobra clean up bầy quỉ Đỏ lúc nhúc “dưới thế” với giàn phóng hoả tiễn (Rocket), M79 Auto bắn rãi cận phòng chung quanh đỉnh đồi … Tiếng nổ vang rền đinh tai, nhức óc, mảnh đạn cày sới tung đất đá, lửa cháy đỏ rực đỉnh đồi Delta trong đêm khuya …!!! Cobra hết đạn rời vùng.  Ngay tức khắc Pháo Binh của Thanh Vân (Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc PĐT/PĐC1ND) nhuần nhuyễn khế  hợp theo những tiêu điểm tác xạ định sẵn mà bắn hằng tràng đạn đại bác như trãi thảm cả ngọn đồi … Hằng hàng hàng lớp lớp Bắc Quân từ cánh rừng phía Tây vùng 3 biên giới Việt - Miên - Lào đã ém quân nm phục sẵn từ trước, túa tràn ra bao vây quanh chân đồi, chúng hung hãn nhào lên như bầy dã thú để rồi thân xác bị nổ tan tành dưới sức công phá của bom đạn kinh hồn!!!

Tiếng Thiếu Tá Bùi Đức Lạc trong máy của Thiếu Úy Chấn:

- Thanh Vân...Check fire.

Pháo 105 của Thanh Vân vừa dứt, hai chiếc Skyraider (Khu Trục A-1, AD-6) của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng (PĐ514 PH-KQVNCH), Phi Đoàn 530 Thái Dương bổ nhào xuống phía Đông của đỉnh đồi Delta đánh bốn pass Bomb Napal lửa cháy rực sáng cả cánh đồi, rồi phóng vút lên không … Ôi,… thật đẹp làm sao một phi vụ bay đêm như ánh sao trời xé  màn đêm u tối, ngàn thuở đẹp còn lưu tình chiến hữu cho mãi tới bây giờ …! Triền đồi phía Bắc và phía Tây dốc cao gần như 45 độ, hiện trạng Bắc Quân tấn công cường tập tương đối nhẹ hơn phía Đông và phía Nam có thế triền đồi thoai thoải dễ di chuyển…  rồi lại đợt tiếp theo phi tuần Skyraider thứ nhì lao xuống đánh bồi thêm mấy pass Bomb Napal nữa, một biển lửa cháy bùng lên dưới ánh hỏa châu lơ lửng trên không …!!! Tôi không còn nghe tiếng lựu đạn hay đại liên M60 bắn ngoài vòng đai của đỉnh đồi nữa, có nghĩa là địch quân đã không còn tấn công tiếp…? Tôi ra lệnh Trung Đội 2 Trinh Sát (TĐ2TS) khoảng 40 hạ sĩ  quan và binh sĩ của thiếu úy Sang theo chân toán Viễn Thám 2 (VT2) 7 binh sĩ di dời lách về phía Nam, dạ hành ra xa… xa… khoảng 500 mét, rồi bọc hậu về phía Đông, dùng hồng ngoại tuyến để quan sát tình hình và ém quân nằm phục chờ trời sáng. Những làn sương mù tan dần trên những ngọn cây trơ trụi lá, lộ hé cảnh tượng tàn phá kinh khiếp của bom đạn suốt đêm qua!

(Để trình bày rõ hơn bối cảnh của Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972, trong đó ĐĐ2TSND đã sát cánh với các đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tử chiến với đại quân Chính Qui Việt Cộng trên Đồi Delta  … tôi xin trích đoạn một số những bài viết liên hệ của nhiều tác giả như:  Trận Ðánh Trên Ðồi Delta 1- Mũ Đỏ Bùi Đức Lạc):

Quí vị cũng như chúng tôi ai ai cũng nghe ít nhất một vài lần bản nhạc Người Ở Lại Charlie, đó là trận đánh để đời, nguyên Sư Ðoàn 320 của Cộng Sản Bắc Việt sau khi đã bị thảm bại bốn trận liên tiếp:

  •  Một là phía Tây của ngọn đồi Alpha,
  • Một là phía Tây của ngọn đồi Alpha,
  • Hai là tại giửa đồi Charlie và Delta, trên trận tuyến này chúng tôi gọi là đồi Delta 1,
  • Ba là ngay tại đồi Delta nguyên một đại đội của chúng bị tiêu diệt hoàn toàn đó là trận Delta II,
Bốn là tại ngọn đồi Delta, chúng bi tiêu diệt ít nhất là 1 Tiểu Đoàn Đặc Công v à  2 Tiểu Đoàn tác chiến đó là trận Delta III, cho nên Sư Ðoàn 320 quyết trả thù đoàn quân Mũ Ðỏ, vì vậy mới có trận Charlie. Phải công nhận chiến tranh Tâm Lý của Cộng Quân cao ở mức thượng thừa, cho nên khi chúng bị tiêu diệt 3 Tiểu Đoàn mà không có ai biết, các đài của chúng cũng như các cơ quan truyền thông của ta đều im lặng, vì không đài ngoại quốc nào loan tin. Hơn nữa không ai giám vào vùng đầy máu lửa này, có phải vậy hay không?!

Ngày 15 tháng 3 năm 1972, Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù được trực thăng vận vào vùng hoạt động.

Vừa vào vùng Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù đụng độ ngay với quân chính quy Bắc Việt, có mang tử thi của địch về nhưng Quân Ðoàn không khai thác được gì hơn, ngoài việc xác nhận đây là Bộ Đội Chính Quy miền Bắc. Trên tử thi không có một tài liệu nào ngoài quân phục xác nhận là quân chính quy Bắc Việt.

Ngày 16 tháng 3 năm 1972, Ðại Tá Lữ  Ðoàn Trưởng, Cố Vấn Hoa Kỳ và tôi sau khi bay quan sát toàn vùng hoạt động. Nhận thấy giữa đồi Alpha và Charlie, có một điểm quân sự vô cùng quan trọng. Lúc đó TÐ2ND vừa không vận xong và chưa vào vùng hành quân, toàn bộ TÐ11ND vẫn chưa được không vận hoàn tất đến Pleiku. Khi chúng tôi bay quan sát, vùng trách nhiệm hành quân của TÐ1ND, Ðại Tá LÐT nhận thấy TÐ1ND đóng quân tại cực Nam của dãy đồi không tên, nên quan sát được một vùng bình nguyên rộng, từ đó cho đến Kontum… Nhưng nếu phía Đông- Bắc của TÐ1ND, bị địch quân chiếm, thì TÐ1ND sẽ bị yếu thế, nên ông muốn đưa ngay ÐÐ2TSND vào vùng, đây là khúc xương sườn (khó nuốt của dẫy đồi này). Ông quay sang tôi cho lệnh:

- Anh chọn một Tiền Sát Viên cứng đi theo ÐÐ2TS, ngày mai vào vùng. Tôi im lặng suy tính. Ông đặt tên cho đỉnh quân sự này là Delta.

Ngày 17-3-1972 các đứa con của ÐÐ2TSND được trực thăng vận xuống đồi Delta, vừa bung ra phía bắc của Delta nhẹ nhàng như mèo bắt chuột và nguyên toán tiền đồn của Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn thứ 3 thuộc SÐ320 bị toán Viễn Thám chộp gọn, mặc dù chúng đã biết trước có ta xuất hiện, do trực thăng vận đến. (ÐÐ2TSND do Ðại Úy Trương Văn Út chỉ huy hoạt động từng toán nhỏ chung quanh căn cứ Võ Ðịnh, chu vi từ 2 cho đến 5 cây số liên tiếp tiêu diệt, hoặc bắt sống các toán tiền thám cũng như Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Ðoàn 320, tù binh cho biết Sư Ðoàn 320 có nhiệm vụ tấn công căn cứ Võ Ðịnh (gồm có BCH/LÐ2ND, BCH/TÐ1PB/ND, ÐÐ2CB/ND, ÐÐ2TS/ND) sau đó hướng về Kon Tum, hàng ngày chúng tôi vẫn bị pháo nặng nề, nhất là trong ngày chúng đánh Charlie và Tân Cảnh, nhưng chúng pháo không được trúng đích cho lắm đó chính là công đầu của ÐÐ2TSND). Ba chiến sĩ ưu tú của ÐÐ2TSND đã khôn khéo len lỏi từ phía sau như mèo chộp chuột, 3 tên Bộ Đi cáo Hồ bị tóm trọn và nhờ vậy Đại Đội 2 Trinh Sát nhận được 90,000$(chín mươi ngàn) đầu tiên của BTL/SÐ22 khi đem hai tử thi và một tù binh về trao cho BTL/SÐ22BB, trên xác của một tử thi (anh ta viết nhật ký tâm sự với người yêu đang sống ở Hà Nam hứa hẹn ngày về huy hoàng của đôi trẻ, anh cho người yêu biết ngày 16-3-1972 chiếc máy bay lên thẳng (trực thăng) chở ba người Mỹ. (Nhưng địch quân đã lầm, nếu chúng nắm vững tình hình thì thậm chí nguy, đó không phải là 3 người Mỹ mà chỉ có 1 cố vấn Mỹ, Ðại Tá Lịch và tôi). Anh ta viết:  máy bay, bay rất thấp trên đầu anh, anh bắn hạ dễ dàng, nhưng cấp trên của anh không cho bắn.

Ngay sau đó ban chỉ huy của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù  và toán tiền sát viên Pháo Binh, Thiếu Úy Chu Văn Chấn phải đánh cận chiến với địch. Ngày thứ hai vào vùng, Ðại Ðội 2 Trinh Sát Nhảy Dù đã phân tán thành các Trung Ðội Trinh Sát mỗi Trung Đội 40 Mũ Ðỏ và các toán Viễn Thám mỗi toán 12 Mũ Ðỏ, các chiến sĩ Trinh Sát ba người một Tổ, khi ẩn khi hiện làm địch quân điên đầu…! Ðại Ðội Trưởng ÐÐ2TS trong điện đàm với Ðại Úy Nguyễn Trọng Nhi, Trưởng Ban 3 Lữ  Ðoàn (lúc đó Ðại Úy Nhi chưa lên Thiếu Tá) sau khi báo cáo tình hình địch đang điều quân vây chung quanh điểm đóng quân ngày hôm qua, chúng có biết đâu ÐÐ2TS đã di chuyển ra xa và phân tán thành những toán nhỏ, các Pháo Đội liền hoạt động ngay. Thiếu Úy Chu Văn Chấn Tiền Sát Viên đi theo ÐÐ2TS làm việc rất nhanh và chính xác, (Trung Úy Chấn hiện đang ở Dallas) Anh hướng dn chính xác từng loạt đạn của 4 Pháo Đội tác xạ vào đầu từng đơn vị địch. Ðạn nổ làm rung chuyển cả núi rừng, Út Bạch Lan (ám danh của ÐÐT/ÐÐ2TS) gọi về BCH/LÐ hỏi thăm quỹ tiền thưởng có còn nữa hay không? Đúng lúc đó ÐT/TL/SÐ22BB đang có mặt tại trung tâm hành quân, ông cầm ngay lấy ống liên hợp và trả lời ngắn gọn: ”Còn nhiều lắm em”. Ngay sau đó ÐÐ2TSND bắt đầu đụng địch, địch biết rõ quân số của ta thả xuống vùng nên chúng điều động ngay một Tiểu Đoàn thiện chiến nhất của SÐ320 vây ÐÐ2TSND, với ý định tiêu diệt gọn. Nhưng chúng nằm mơ gặp ác mộng! Chúng đã bị ÐÐT/ÐÐ2TS cho vào xiếc tại điểm đóng quân mà chúng đã nhận diện được, vì thật ra ĐĐT/Út Bạch Lan chỉ để  lại vị trí một toán trinh sát phân tán và lưu động khai hỏa nghi binh, con cháu bác Hồ đã lầm và yên chí là đã vây trọn ÐÐ2TS, lúc đó ngay cả cấp chỉ huy của SÐ320 cũng không biết quân ta đang ở đâu? Chính vì vậy mà nguyên BCH Tiểu Đoàn VC nằm ở phía ngoài đã bị thanh toán trọn gói, Ðại Úy Trương Hà - Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1/3/320 bị Trung Đội 2 Trinh Sát của ÐÐ2TSND bắt sống. Nhưng vì cần phải di chuyển theo chiến thuật đã định trước, hơn nữa trực thăng đã cố gắng đáp xuống để nhận tù binh đem về BTL/SÐ22BB, nhưng đều thất bại vì rừng rậm, phòng không dày dặc và tránh làm lộ vị trí quân ta, nên Trung Ðội 2 của Ðại Ðội 2 Trinh Sát, đành phải “tiễn” anh ta lên đường một mình không chiều theo ý của SÐ22BB được! Địch quân như rắn mất đầu, vừa phần đưa lưng cho quân ta bắn mà không biết, do vậy  Tiểu Ðoàn 1 thuộc Trung Ðoàn 3/SÐ320 đã bị tan tác bởi 1 Ðại Ðội Trinh Sát của ta. Nguyên Trung Đoàn 3 của SÐ320, muốn được thành thép lại hoá ra  bùn! Ngay khi đó đại đội trưởng ÐÐ2TSND nhận thấy địch quân rất đông, nên đề nghị với LÐ2ND cho một đơn vị vào chiếm Delta để có đường về. Ngay lập tức một Đại Đội tinh nhuệ nhất của TÐ1ND được TrựcThăng vận vào Delta. Ðại Đội này tuy chiến thắng. Nhưng chỉ không đầy 20 phút sau khi cận chiến ta có 8 Sĩ Quan bị thương, 5 Hạ Sĩ Quan bị thương, 15 Binh Sĩ  bị  thương phải tản thương. (Ðại Ðội Trưởng đang ở Nam CaLifornia).

Ngày 20 tháng 3 năm 1972, Ðại Ðội 15 thuộc TÐ1ND xuống bãi Delta và đụng độ với một Đại Đội địch có hầm hố… (trận đánh cận chiến này chúng tôi sẽ viết đầy đủ ở trận Delta II).

Ngày 23-3-1972 toàn bộ Trung Ðoàn 3/320 VC tham chiến thề quyết trả thù cho Tiểu Ðoàn 1, lúc đó các chiến sĩ Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã bị lộ, mặc dù cố gắng áp dụng kỹ thuật phân tán nhưng cũng không sao vùng vẫy như lúc chạm trán với 1 Tiểu Đoàn địch trước đây, hơn nữa đạn dược lương thực cũng đã bắt đầu thiếu hụt…! Các Phi Công trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng gan lì nhưng cũng không tiếp tế cho Trinh Sát được! Sau đó nhờ lòng gan dạ và kinh nghiệm dầy dặn chiến trường của một Phi Công Phi Đoàn 213 Song Chùy mới tiếp tế cho các chiến sĩ Trinh Sát 2 Dù của ta một chuyến lương thực và đạn dược bằng cách khi đã nhận được điểm chính xác quân bạn, dừng Trực Thăng (helicopter hovering) trên ngọn cây, rồi đạp các thùng đạn và thùng lương thực xuống, đây là chuyến tiếp tế thành công duy nhất, trong mấy ngày quần thảo với VC. Ðại Ðội 2 Trinh Sát lúc đó đạn dược bị hạn chế lại phải đương đầu với một Trung Đoàn Trừ của địch quân, những yếu tố đó cũng làm cho quân ta lúng túng không ít, nhưng nhờ kỹ thuật tác chiến cao, phân tán mỏng nên chúng cũng không gây cho quân ta một tỗn thất nào đáng kể.

Ngày 25-3-1972 toàn bộ TÐ2ND được trực thăng vận xuống ngay đồi Delta lúc đó chiến trận đang khốc liệt chỉ cách đó không đầy 1/2 cây số về hướng Bắc, tại những góc cây gần đồi Delta địch quân cho ghim truyền đơn viết tay: “thề sẽ tiêu diệt ÐÐ2TSND”. Nhưng không còn may nắm đến với chúng nữa! Vì trong ngày TÐ2ND đã bắt tay được với Trinh Sát, và Ðại Ðội 15 Nhảy Dù. Ðịch bị TÐ2ND chọc ngang hông áp dụng chiến thuật đánh nhanh đánh mạnh, địch quân dù với hổn danh là Sư Ðoàn Thép nhưng cũng không sao chịu thấu, tuy rằng một Trung Đoàn Trừ đang vây ÐÐ2TSND nhưng bị chọc ngang hông cho nên TÐ2ND làm cỏ từng Trung Đội, Đại Đội địch quá dễ dàng! Sau 3 ngày quẩn thảo với các Thiên Thần sát cộng, địch quân đành tháo chạy với tỗn thất nặng nề!

Ngày 27-03-1972 toàn bộ ÐÐ2TSND được trực thăng vận ra khỏi vùng hành quân trở về căn cứ  Võ Ðịnh nơi đặt BCH/LD2ND để dưỡng quân,  ngay lúc đó Trung Tướng Ngô Du TLQÐ II và Ðại Tá TLSÐ22BB cùng các cố vấn Mỹ  và các vị Sĩ Quan trong Bộ Tham Mưu của Quân Ðoàn II và SÐ22BB cũng đã đến để quan sát chiến lợi phẩm và lấy thêm tin tức tình báo… Lần này ÐÐT/ÐÐ2TS  Trương Văn Út (Út Bạch Lan) được vinh thăng Ðại Úy. (ngưng trích).

Và tiếp theo…Tôi xin trích dẫn một đoạn trong bài viết “Vùng Trời Biên Trấn - Trần Ngọc Nguyên Vũ  của giới Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã luôn sát cánh yểm trợ Lực Lượng Tổng Trừ Bị Nhẩy Dù trên Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972 và trong suốt 21 năm 1954 – 1975  cuộc chiến Quốc - Cộng:

“Những người chinh chiến bấy lâu
         Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây.”

(Chinh Phụ Ngâm -
Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm)

Tây-Nguyên! Vùng núi rừng trùng điệp… Nơi có những dòng sông huyền-hoặc nằm đợi khách qua bờ, mà mỗi “Một lần sang sông là một lần vĩnh biệt - Một lần sang sông là mãi mãi chẳng quay về”. Chính nơi đây đã có biết bao nhiêu tráng sĩ lạnh lùng phóng tay ghi đậm tên mình trên trang sử máu của dân tộc... Lịch sử sẽ thêm một lần sang trang khi chiếc “Thần Phong 01” của KQVNCH chế tạo, do Tr/Tá NNK và Th/Sĩ  NVN bất thần bay lên đáp PleiKu vào một buổi sáng mây mù và gió lạnh, rồi Th/Tá Định cùng Tr/Tá Bá đi tìm “Tráng sĩ vượt dòng sông định mệnh” để lập một “Phi Đội Cảm Tử” bí mật đưa về Tân Sơn Nhất, đặt dưới sự điều động của ThầnPhong NNK vào năm 1971… Nhưng vận nước chưa xoay chuyển theo lòng người nên đại sự không thành, chỉ lưu lại trên trang huyền sử của KQ những vần thơ đầy hào-khí:

Tôi người lính trận từ xa tới
Gặp em nơi phố núi sương mù
Quán nhỏ ngây buồn nghe tâm-sự
Một buổi chiều mưa rơi… PleiKu

Rồi sáng hôm sau các anh lại lạnh lùng quay lưng cất bước lên đường khi:

Gió Lào dậy tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng gìa bạt núi non
Mùa chinh chiến theo chân thù nghịch
Ta về theo cho dậm chiến trường

Chiến trường Tây Nguyên quanh năm mịt mù khói lửa, với những địa danh ngang dọc bước quân hành in dấu chân của tráng sĩ cùng với những:

Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
lớp lớp tràn lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Cô đơn chót núi đứng bồng con
Khu chiến trập trùng cơn bão lửa
Đá vọng phu mọc khắp biên cương.

Lồng vào cái khung cảnh đất trời quay cuồng trong cơn bão loạn đó, “Không Đoàn 72 Chiến Thuật” đã trưởn thành, và vươn lên cùng với khí thế ngút ngàn của những anh hùng, hảo hán chốn sa trường… Chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động, mà tên tuổi đã danh trấn giang hồ. Pleiku thuở đó cũng đã thu hút được nhiều phóng-viên nổi tiếng của các hãng thong tấn quốc-tế… Tờ báo quân đội “Diều Hâu” của nhà văn Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh hồi đó đã nhận xét về KĐ 72CT qua bài viết “Tìm hiểu hiện-tượng nhổ giò của KQVN”, như sau: Chỉ vào một hố bom khá sâu, Đại Tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh nói với tôi:
-  Anh biết quả bom này bỏ cách chiếc thiết giáp của mình bao nhiêu không?
- ...?
- Ba thước.

Thao thao bất tuyệt, vị Tư lệnh trẻ nhất Việt Nam kể cho tôi nghe trận đánh khó khăn nhưng vô cùng hào hứng, vừa xẫy ra tại ngọn đồi mà chúng tôi đang đứng: “Một Tiểu đội Cộng quân, trang bị bằng một khẩu đại bác, một khẩu đại liên phòng không, đã chiếm giữ ngọn núi đá trên đường 14, cách Pleiku khoảng 20 cây số về hướng Bắc. Cây đại bác được nhét thật sâu vào hang núi. Sư đoàn 23 đã phái một đơn vị có chiến xa yểm trợ tiến lên núi, để diệt khẩu pháo đang gây khá nhiều trở ngại cho xe cộ di chuyển từ Pleiku đi Kontum. Một trong những chiếc thiết giáp yểm trợ bị bắn cháy. Xạ thủ B-40 VC chỉ khai hỏa cách chiếc xe ba thước. Phi Đoàn Khu Trục được gọi đến can thiệp, và nhiệm vụ của người Phi Công là phải bỏ lọt trái bom vào một miệng hang nhỏ, mà không làm tổn thương đến những người có thể còn sống trong thiết giáp”. Lắc đầu tỏ vẻ thán phục, Đại Tá Bá tiếp: “  Chiếc AD-6 bay với tốc độ mấy trăm cây số một giờ, mà anh chàng Phi Công này thả bom như để. Trái bom rơi hẳn vào hang hầm rồi mới nổ, không gây một hư hại nào bên ngoài cả…”!!!

Bốn trăm Phi Công, một ngàn chuyên viên làm việc quần quật. Máy bay được bảo trì, tu bổ cả đêm để mờ sáng hôm sau lại cất cánh, đáp ứng những nhu cầu yểm trợ cho quân bạn.(ngưng trích).

Và cũng tại chiến trường Tây Nguyên - Kontum này vào ngày 26-5-1972. Tôi đã mất một đi một người Anh “Đường Sơn Đại Huynh - Thặng Fulro” là Phi Công tài ba Thiếu Tá  Phạm Văn Thặng của Phi Đoàn Khu Trục 530 Thái Dương! Tôi xin trích đoạn trong bài viết: Mặt Trận Kontum 530 Thái Dương Phạm Văn Thặng Fulro  của Tác giả Hùng Chùa trong Lý Tưởng bộ mới số 7 -1998 đã ghi lại trường hợp hy sinh của Thiếu Tá “Thặng Fulro” như sau:

- Bắc Đẩu đây Thái Dương gọi?
- Thái Dương cho biêt ví trí của bạn hiện nay?
   Thái Dương vừa cất cánh khỏi Pleiku được 5 phút, hai phi tuần A-1 trang bị bom nổ và crocket, cho biết tình hình quân bạn và trục đánh.
- Thái Dương Thặng đó phải không?
- Đúng năm trên năm. “Thặng Fulro” đây.
- Hay quá! Quân bạn nằm nhiều cụm từ Bắc xuống Nam, trục đánh từ Đông sang Tây, địch chỉ cách bạn trên 100 thước, tình nghi địch có tăng yểm trợ, khi nào sẵn sàng tôi bắn khói chỉ điểm.

Trục đánh Đông sang Tây, có nghĩa là khi vào trục, anh sẽ bay trên thành phố Kontum, anh dỏi tìm cụm khói chỉ điểm, ngay từ bắt đầu vào trục, từ lúc khi còn ở trên cao khi vừa chúi xuống, anh nhìn thấy nhiều trái cầu khói đen lúp búp nổ ngay trước mặt, vẫn chúi xuống lao tới, anh nhấn nút release bốn trái ngay khi mục tiêu vào đúng hỏa điểm, rồi kéo stick đưa mũi phi cơ lên thẳng trên trời, đẩy cần ga tới maximum, rồi nhích stick về phía trái, anh kéo phi cơ lại về hướng Đông, hướng thành phố, đúng lúc này con tàu bị trúng đạn rung chuyển dữ dội, lữa phát cháy bên ngoài cockpit và cả trên cánh phi cơ.

- Thái Dương đây Bắc Đẩu! Tàu mày bị cháy rồi, nhảy dù ra ngay lập tức!
- Mày nghe tao không Thặng?, nhảy dù ngay lập tức. Tiếng Hiệp “Vixi “ hoảng hốt trên tần số.
- Tao còn bốn trái bom trên  cánh, nhảy dù ra để giết dân vô tội à?
   Th/t Thặng cố gắng đưa phi cơ ra khỏi khu vực Kontum và đáp bằng bụng trên một cánh đồng nhưng phi cơ đã phát nổ.

   Kính phục thay lòng thương người và lo cho bá tánh của anh.

Người anh hùng của phi đoàn 530 Thái Dương nói riêng và của KQVNCH nói chung.

Vĩnh biệt anh Thặng (Fulro)!

Và trong một bài viết Cánh Chim Thần Tượng - tác giả  DD-2ndG “nói” về những Phi Công “Bảo Quốc Trấn Không” để “minh hoạ” Không Quân Việt Nam Cộng Hoà “Trên Vòm Trời Lửa Đạn” chiến trường  Tây Nguyên mùa Hè 1972:

Là một Phi Công trực thăng thời chiến, Trung Tá Khưu Văn Phát chứng kiến nhiều đồng đội của mình đã ra đi như chiếc “lá vàng rơi”. Ngày 11 tháng 4 năm 1972, Phi Đoàn có nhiệm vụ tiếp tế khẩu phần ăn nhà binh, nước uống và tải thương sau cùng cho tiểu đoàn 11 Nhảy Dù ở ngọn đồi “máu” Charlie. Một trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng do Trung Úy Nguyễn Tường Vân lái bị bắn bốc khói cháy sau khi vừa hoàn thành nhiệm vụ tiếp tế. Phi cơ đang cố gắng rời khỏi vùng giao tranh một cách nhanh chóng. Thiếu Tá Phát (danh hiệu Charlie) đang bay chiếc trực thăng chỉ huy trên cao độ 6,000ft ở một góc trời quan sát và hướng dẫn Trung Úy Nguyễn Tường Vân (hoa tiêu tàu tiếp tế), hốt hoảng la lên trên tần số:

- Tàu bạn đang bốc cháy… đáp ngay… đáp lài xuống ở triền đồi phía dưới.
Charlie ( Thiếu Tá Phát) trấn an tức khắc:
- Đã có Hổ một (danh hiệu Gunship trực thăng) cover, nghe rõ trả lời?

Nhưng con tàu trực thăng ngộ nạn sợ nguy hiểm, vì đang trong tầm tác xạ của phòng không địch đã không còn nghe được lệnh nữa. Lửa đã phụt lớn mạnh và tàu bốc cháy dữ dội như ngọn pháo bông. Trực thăng rơi nhanh xuống triền đồi và nổ bùng lên như quả bom lửa. Lửa và khói quện lại đen mù mịt cả một góc trời. Tất cả bốn nhân viên phi hành đoàn đều tử nạn dưới con mắt của Thiếu Tá Phát và các bạn hoa tiêu trực thăng võ trang đang có mặt trong vùng. Trung Úy Nguyễn Tường Vân, Thiếu Úy Trần Văn Long và hai Mê Vô xạ thủ trực thăng đã lặng lẽ ra đi không tìm được xác rơi. Trung Úy Vân mới 23 tuổi đã để lại người vợ trẻ và đứa con thơ đầu lòng vừa chào đời trong tiếc nuối…!  Chào vĩnh biệt các anh hùng vô danh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa một lần cuối!

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
 Đã vui chơi trong cuộc đời nầy…
Đã bay cao trong vòm trời đầy…
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời…
Ru anh ngủ vùi,
Mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi! (ngưng trích)

Một trích đoạn khác nữa trong bài viết Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie của tác giả Vương Hồng Anh:

Trận Chiến Giữa Trinh Sát 2 Nhảy Dù và 1 Tiểu Đoàn Cộng Quân ở Đồi Delta:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng Quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, Đại Tá Trần Quốc Lịch-Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh Đại Đội 2 Trinh Sát do Trung Úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.

Sau khi Pháo binh và Không Quân VNCH hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ Đại Đội Trinh Sát vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn Đại Đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 3 Sư Đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng Quân đã điều động 1 Tiểu Đoàn để bao vây Đại Đội Trinh Sát. Dù bị áp đảo về quân số, nhưng Trung Úy Út Bạch Lan (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán Đại Đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng Quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm Claymore giết địch. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào BChỉ Huy Tiểu Đoàn Cộng Quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/ Trung Đoàn 3 CSBV tên Trương Hà.

Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, Trung Đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ Đại Đội Trinh Sát 2 để trả thù cho Tiểu Đoàn 1 của Trung Đoàn này. Vào lúc này Đại Đội Trinh Sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch lại bị một Trung Đoàn C ng Quân bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên Đại Đội Trinh Sát 2 ở trong tình trạng nguy kịch! Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các Phi Công của Phi Đoàn Trực Thăng 215 Thần Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho Đại Đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một Phi Công kinh nghiệm và gan lì của Phi Đoàn 213 Song Chùy đã điều khiển Trực Thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho Đại Đội này được một chuyến duy nhất.(ngưng trích)

Tôi cũng xin được trích dẫn bài viết “Trận Đánh Đồi Delta”  trong tác phẩm “20 Năm Chiến Sự” - Binh Chủng Nhảy Dù. Tác giả: Đại Úy Võ Trung Tín Tiểu Đoàn Truyn Tin SĐND.Đại Úy Nguyễn Hữu Viên Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm v hướng Nam căn cứ Charlie, trên đỉnh đồi một bên là rừng già dầy dặc.  Sáng ngày 17/3/1972, sau những trận địa pháo và phi pháo vừa chấm dứt, địch quân chưa kịp hoàn hồn, thì một đoàn trực thăng chuyển quân sà thấp sát đất thả các Thiên Thần Trinh Sát 2 của “Út Bạch Lan” phóng xuống trận địa như những con diu hâu vồ mồi quanh vị trí Delta để săn lùng và tiêu diệt các chốt của TÐ1/ Trung Ðoàn 3/SÐ320. Cả Đại Đội vừa bắn vừa hô xung phong vang rn khắp núi rừng khiến địch quân hoảng hốt đưa tay lên đầu hàng, kẻ nào ngoan cố chống cự đã bị các chiến sĩ Nhảy Dù diệt gọn. Chỉ trong chớp nhoáng, Các chiến sĩ Trinh Sát 2 của Trương Văn Út (danh hiệu truyn tin Út Bạch Lan) đã làm chủ tình hình. Nguyên toán tin đồn của TĐ1/TrĐ2/SĐ320 đã bị tóm gọn không sót một móng. ĐĐ2TSND đã bắt sống được 12 tù binh và lãnh tin thưởng đầu tiên của Tướng Ngô Du.

Ngày 18/3/1972 Tiểu Ðoàn 1/3/SÐ320 phản công bao vây để dứt điểm ÐÐ2TS. Út Bạch Lan, Ðại Ðội Trưởng/TS2ND không nao núng, điều quân phân tán mỏng chỉ để lại một toán nhỏ lừa địch, rồi đưa toàn bộ Đại Đội vòng ra bọc hậu đánh thẳng vào BCH/Tiểu Đoàn địch và tiêu diệt gọn TÐ1/3/320 bắt và giết chết  TÐT là Ðại Úy Trương Hà... Ngay sau đó, để phục thù Trung Ðoàn 3/320 tập trung quân còn lại bao vây TS2 và th bắt sống Út Bạch Lan cho bằng được. (Út Bạch Lan nỗi danh từ dạo ấy) Ngày 20/3/1972 TÐ2ND được trực thăng vận đổ quân xuống thiết lập và trấn đóng tại Charlie, và từ Charlie đánh bọc ngang hông TrÐ3/320 để cứu quân bạn và  giải vây cho ÐÐ2Trinh Sát ND.

Đến ngày 23/3/1972 ĐĐ2TSND sau 3 ngày hổn chiến với địch và được TÐ2ND giải vây, 2 đơn vị Nhảy Dù đã dùng ngoại công nội kích với những chiến thuật thần kỳ tam mãnh “mãnh đã, mãnh xung và mãnh truy” đã phá nát Trung Ðoàn 3/SĐ320 của CSBV, Sư Đoàn được hổn danh là “Thép” giờ đây đã bị chảy ra thành nước. Tin chiến thắng bất ngờ đã làm cho Quân Dân Quân Đoàn 2 phấn khởi, Trung Tướng Ngô Du đã bay ngay đến Delta để trao gắng cấp bậc Đại Úy tại mặt trận cùng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho Trương Văn Út và trao ngay 1 triệu 200 ngàn tin thưởng vì đã bắt sống được 12 cán binh VC và thăng thưởng, ủy lạo cho tất cả các chiến sĩ Nhảy Dù đã tham chiến. Ðại Ðội 2 Trinh Sát sau đó được bốc v Võ Ðịnh để nghỉ ngơi và tái trang bị. Trong khi đó Cộng quân khởi sự trận địa pháo liên tục bằng các loại 107, 122, và 130 ly vào các vị trí đóng quân của các đơn vị VNCH kể cả Tân Cảnh và Võ Ðịnh. (ngưng trích)

Và đây là trích đoạn trong tài liệu: Chiến Đấu Ở Tây Nguyên. Hoàng Minh Thảo. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội. 2009Bộ Đội Chủ Lực Mặt Trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 - 1966-2005. Nguyễn Văn Biều. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân. Hà Nội. 2005:

Phối hợp với chiến trường chính, tại Tây Nguyên, Thiếu tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lực của 2 sư đoàn 320 (gồm 3 trung đoàn 52, 64 và 48) và 2 (gồm 2 trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập (66, 95, 28 và 24), trung đoàn đặc công 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng vũ trang tại địa phương. Tổng binh lực tham gia khoảng 20.000 người.
  
Từ ngày 15 đến ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn 320A Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm giả hai con đường cơ giới phía Tây Bắc thị xã Kon Tum. Tướng Ngô Du liền điều lữ đoàn dù 2 ra phá đường. Sư 320A dùng trung đoàn 52 chặn đánh nhưng không truy kích. Ngày 23 tháng 3, Liên đoàn 22 Biệt động quân tiếp tục tiến ra phá đường, cũng bị trung đoàn 52 chặn đánh.[6]. Ngày 24 tháng 3, trung đoàn 28 (độc lập) cắt đứt đường 14 ở Diên Bình, bao vây Võ Định. Ngày 26 tháng 3, trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (bảo vệ 559) và đại đội 1 (địa phương) cắt đường 14 ở Chư Thoi, Tân Phú (nam Kon Tum).

Ngày 30 tháng 3, 2 trung đoàn 52 và 64 cùng một tiểu đoàn của trung đoàn 48, sư 320 (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam), đồng loạt tấn công 5 tiền đồn phía Tây sông Poko do 3 tiểu đoàn Biệt động quân QLVNCH đóng giữ. Tướng Ngô Du điều 2 tiểu đoàn của lữ đoàn dù 2 từ Tân Cảnh về các cứ điểm phía Tây sông Poko để tăng cường phòng thủ, điều trung đoàn 47 đánh ra tăng phái cho 2 đại đội quân địa phương chốt giữ Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bờ Biêng, lập 2 căn cứ hỏa lực đặt tên là “Delta” và “Charlie. Do bị lộ trận địa, công tác chỉ huy, phối hợp hiệp đồng pháo binh - bộ binh - phòng không chưa chặt chẽ, thông tin liên lạc kém, bị không quân Mỹ và pháo binh QLVNCH oanh tạc mạnh mẽ, trung đoàn 52 bị thương vong nhiều. Ngày 15 tháng 4, trung đoàn 64 Sư 320A đánh chiếm cứ điểm “Rocket Ridge” (1015), đánh tan tiểu đoàn dù 11 (lữ dù 3), bắn rơi 9 máy bay trực thăng. Cùng ngày, trung đoàn 48 (sư 320A) chiếm cứ điểm “Delta” (1338) và phục kích toán quân còn lại của tiểu đoàn dù 11 chạy về đây …” (ngưng trích).

Tôi có tính khí chỉ huy như mãnh hổ vồ mồi là trong khi phi pháo yểm trợ thì chúng tôi nằm yên mai phục và quan sát lượng định tình thế bén nhạy với tất cả giác quan và trực giác như viên đá cuội quẳng vào mặt hồ nước tĩnh lặng  làm lan toả những gợn sóng âm ba va vào bờ, trãi rộng diện tích thăm dò, đo đạt trạng huống chung quanh, tôi có cảm tưởng trong nội tâm và ngoại vật như lồng vào nhau thành một thực thể trực ngộ kỳ diệu, tôi có thể cảm nhận được những di động của nhiều đôi dép râu “Bình Trị Thiên” và đôi chân trần của nhiều thân thể dẫm đạp lên mặt đất tiến về phía chúng tôi với cường độ sát khí hung hãn… Tôi thu dụng ngay tình trạng Tâm thức như nhất trong giây phút vừa qua và phối hợp với tri thức thực tại cùng bao nhiêu sở học ở quân trường và kinh nghiệm chiến trường, rồi quyết định hành sự chớp nhoáng sau khi phi pháo rời vùng ra xa để tránh tình trạng quân ta bắn nhầm lên đầu quân bạn.

Tôi gọi âm thoại qua máy liên lạc:
- 7273...6263...1001...

Tôi ra lệnh bằng mật mã cho hai Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cùng hai toán Viễn Thám 2 và Viễn Thám 3 đồng loạt “Tapi” từ phía dưới tấn lên, phía trên tràn xuống, trang bị nhẹ: vai không ba lô chỉ giây ba chạc, súng cá nhân và lựu đạn…Trinh Sát Dù  dẫm lên xác Bắc Quân theo thế hàng ngang đột xuất tấn công nhanh như chớp đồng loạt nhã đạn vào hàng ngũ địch cho tới khi hai cánh từ trên và dưới gặp nhau (Link up)… Quang cảnh chiến địa: năm ba khẩu phòng không 57 ly chỏng gọng, hằng trăm vũ khí của Bắc Quân ngỗn ngang bên cạnh hằng trăm xác chết vẫn còn hơi ấm nồng mùi máu tươi…!

Chiến tranh nào mà không có tàn phá hủy diệt, không phải trả bằng máu đổ thịt rơi, xương phơi dưới chiều nắng quái …?  Nhưng cuộc chiến Bắc - Nam cốt nhục tương tàn này khiến tôi có nhiều xúc động, thương cảm, bồi hồi, nội tâm buồn mênh mang khi nhìn những cặp mắt mở trừng trên gương mặt trai  trẻ tuổi đang độ xuân thì mà có lẽ cũng chưa được hưởng bao nhiêu tháng năm an bình niên thiếu với gia đình và cha mẹ, người yêu bên nồi khoai sắn vừa nấu chín tay cầm tay mà e ấp chuyện chung tình… thì đã bị bọn đồ tể chễm chệ trên chóp bu quyền bính “Đảng và Nhà Nước” Cộng Sản Bắc Việt xử dụng bạo lực thu gom, tuyên truyền nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ tạo ra “chất” ảo tưởng anh hùng giải phóng, ngọn giáo tiền phong của phong trào tiến lên thực hiện nghĩa vụ Quốc Tế Cộng Sản… và đẩy vào chiến trường miền Nam làm mồi cho bom đạn vốn được chế biến, sản xuất từ những quốc gia Âu - Mỹ phương xa …! Bọn chóp bu Cộng Sản Bắc Việt có bao giờ liếc mắt nhìn vào bản thống kê tổn thất sinh mạng Bộ Đội Bắc Việt, để xét lại tham vọng ngông cuồng của chúng? Cán binh Bắc Việt bị chết trận được tô vẽ thành “liệt sĩ” chỉ là con số thôi, “chúng” đã chết tức không phải là người?!  Bọn chúng vẫn tiếp tục tận dụng vơ vét tài nguyên nhân lực cho đến khi cạn kiệt và sẵn sàng “đốt  cháy cả dãy Trường Sơn để chiến đấu trường kỳ “nhất định thắng lợi” và đánh cho tới người Việt cuối cùng…” để cho nước Tàu được bình yên với hơn 1 tỷ dân trong nước luôn đói thiếu miếng ăn từ nhiều thiên niên kỷ đã trở thành nỗi ám ảnh và quán tính, nên do vậy câu chào hỏi đầu tiên khi gặp nhau:  ” (nǐ chī fàn le ma?) - mày ăn cơm chưa?  Và để cho Mao sếng sáng thân thể béo tốt ngủ ngày với giấc mơ Đông Phương Hồng và quyển sách nhỏMao Tuyển” bỏ trong túi quần làm sách gối đầu giường lại là “Extract Testoterone” kích thích Hồng Quân, đám tr  trâu Vệ Binh Đỏ chưa ráo máu đầu làm cuộc “Cách Mạng Tazan Hoá” để Mao “tá đao sát nhân” thanh toán hầu hết những đồng chí có công trong cuộc trường chinh là để tránh hậu hoạ “công thần chủ nghĩa” về sau và “đào tận gốc, trốc tận rễ” cả nền văn hoá Phật - Khổng - Lão - Trang – Bách Gia Chư Tử … đốt sạch, giết sạch như bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng tân thời…! Nhưng Mao đã nhận chân ra nhân dân “thoòng dzành” của “thiên tử” không thể làm công cụ bành trướng cho Nga Sô hưởng lợi và Nga hoá (Russianization, and Russian-led Sovietization) toàn thể lục địa Trung Hoa nên “rặn” ra Maoism để bảo vệ  thành quả cách mạng triều đại “Mao Hoàng”! Nhưng  bọn gia nô “Jiệtcộng dzành” Annam Bắc Bộ Phủ cấp sách đồng ấu học Mao, học “Mac xít  - Lê nin nít” chưa vỡ chữ nghĩa đang lùa thanh thiếu niên miền Bắc Việt Nam vào lò sát sinh do Mỹ đã an bày với tất cả Bomb đạn và pháo đài bay B52 chiến lượt trãi thãm… kể cả tên Lê Duẩn (1907–1986) là Bí thư Thứ nhất Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam Cộng Sản cũng đã cúc cung tận tín làm con chó nhỏ đã căng giây cót tuyên bố:” Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…”… Ôi nhân tai!

Tôi biết nó thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao…!
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài người qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm nó từ xa…
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu!
Lúc rúc vào Tàu, lúc rụi vào Nga
Nó gọi Tàu – Nga là cha anh nó
Và nguyện làm con chó nhỏ!!!
Xông xáo giữ nhà, gác ngõ cha anh
Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh…
Học thói hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên
Đang diễn ra triền miên ghê gớm đó…
(Thơ Vô Đề - Khuyết Danh. 1968)

Trên tầng số liên lạc:
- Út Bạch Lan...207...
- Tôi nghe Đích Thân.
- Phú Quý (thiếu tá Lê Văn Mạnh TĐT/TĐ2ND) sẽ vào Charlie phía Bắc và sẽ Link up với UBL. TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà phía Nam của UBL. Chúc mừng UBL. Có tin vui cho UBL...sẽ gặp nay mai.
- Nhận 5/5 Đích Thân.

Đứng trên đỉnh đồi Delta bên cạnh thiếu úy Chấn với ca cà phê còn bốc khói, tôi chợt nghĩ lại lời nói hôm qua với tên Thiếu Úy Đoàn Tạo (VC): “các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa là các cậu còn sống...” rồi cười một mình…!!!

Thiếu Úy Chấn nói:

- Anh Út à...! Tôi ở Nhẩy Dù 15 năm từ Hạ Sĩ Quan rồi đi học trở thành Sĩ Quan, xông pha bao nhiêu trận mạc vào sinh ra tử… Nhưng chưa bao giờ tôi có cảm tưởng hồi họp ly kỳ, đôi lúc tếu lâm như lần này ở bên cạnh anh, tôi nhận thấy thái độ của anh tỉnh bơ, tinh thần vững chãi, bản lãnh chỉ huy điều động anh em tác chiến và nhất là không nao núng, lo âu ngay khi cả bọn mình trong vòng vây trùng điệp tưởng chừng như sẽ bị địch tràn ngập… mà anh còn nói chuyện tếu trong âm thoại liên lạc với mấy Sĩ Quan Trung Đội Trưởng hay các Trưởng Toán Viễn Thám chẳng hạn khi trung úy Sang gọi báo cho anh rằng:

“…Trung Đội 2 chúng tôi bị tràn ngập…”. Anh trả lời tỉnh queo cho Sang:” … Anh còn gọi báo cáo cho tôi được, thì trên răng dưới lựu đạn, hay răng đen mã tấu của anh vẫn còn? Sao không chơi xã láng sáng mặc quần xà lỏn về sớm với tôi... để chúng ta cùng chạy over run…”!!!  Tôi thật sự ái mộ và khâm phục ĐĐ2TSND của anh vô cùng…!!!

- Anh Chấn nè...! Chiến công này không phải của riêng tôi và đơn vị đâu. Thứ nhất là kế hoạch hành quân tuyệt vời của BCH/LĐIIND với Quân Đoàn II, những bộ phận then chốt trong đó là TĐ1PBND của Thiếu Tá Bùi Đức Lạc, các Pháo Đội...và của Anh Chấn nữa, Phi Đoàn Khu Trục 514 Phượng Hoàng, Phi Đoàn 530 Thái Dương tăng cường, Phi Đoàn 213 Song Chuỳ, Phi Đoàn 215 Thần Tượng, Phi Đoàn Trực Thăng 229 Lạc Long của Phi Đoàn Trưng Thiếu Tá Lê Văn Bút với tay Pilot gan lỳ xuất thân từ trường tôi luyện thép Thiếu Sinh Quân là Đại Úy Phạm Công Cẩn túc trực ứng chiến bay ngày đêm trên vòm trời lưới đạn phòng không để “cứu thằng em Út Bạch Lan và con cái của nó đang bị VC tapi en masse”, Đại Tá Mike cố vấn LĐIIND thảo hoạch và phối hợp điều động chặc chẻ ứng chiến từng phút, từng giờ và hằng ngày với Cố Vấn Quân Đoàn Mr B.52 John Paul Vann phối hợp nhịp nhàng với Phi - Pháo yểm trợ…  Anh nên biết rằng các quan “Mặt Trời” bày binh bố trận “Trường Bản” rồi bốc toàn thể yên hùng Triệu Tử Long ĐĐ2TSND thả chúng ta xuống cái “hột Lạc” này đây là kế sách của cấp Quân Đoàn:  “thảy một cục đường cho bầy kiến bu lại” rồi xịt thuốc pháo TOT (Time on Target: to determine the time to fire. An executive order to fire is given to all guns in the fire unit at the correct moment to fire), và mở Hội Thiên Lôi từ trên giời cao cho quan lái tàu bay mặc phi bào áo liền quần thảy lỗ Bomb Napal đốt muỗi, diệt ruồi …!!! Anh Chấn “vác ngộ” chưa? Tôi choàng tay ôm vai người bạn già Thiếu Úy Tiền Sát Viên TĐ1PBND đã đồng cam cộng sinh tử vừa qua và cùng nâng ca cà phê:

- Hay không bằng hên...! Chết sống như một định số an bày? Anh nhìn xem có bao nhiêu người đã bất động nằm đó, còn tôi với anh vẫn còn đứng đây, chung quanh là những binh sĩ như huynh đệ thủ túc của mình đã cùng nhau kinh qua bao chiến trường gian khổ, hiểm nguy từng phút từng giờ trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật này, họ đang lom khom đốt la để hâm nóng hộp thịt ba lát chuẩn bị bữa ăn dã chiến và ngoài kia có hơn 600 xác chết Bắc Quân đếm được vì còn phần thân mình, những thây bị banh xác chỉ còn vài phần xương thịt vung vãi trên khắp ngọn đồi Delta và có bao nhiêu thân xác Bắc Quân bị Bomb Napal đốt cháy thành than không đếm được nữa… Tất cả sẽ ở cùng với đất đá tại thung lũng dốc thoai thoãi lẫn khuất này và rồi sẽ làm thêm mầu mỡ cho môi sinh khi mùa mưa tới vài tháng nữa đây…!  Tôi đố Anh Chấn biết trong thâm tâm của những người Lính ĐĐ2TSND đang ghĩ gì …?

Với ý chí truy tìm và tuệ giác chiếu soi  thì thế giới quan chẳng có gì là bí mật? Do dục vọng móng khởi trong Tâm làm sáng tạo tư tưởng và rồi tư tưởng lại làm cho dục vọng tăng trưởng thành nền tảng cho loài người tiến hoá, văn minh… và nhận thức sự lý tốt xấu, đau khổ, hạnh phúc, giải thoát khỏi vạn pháp … lại cũng tuỳ ở quan niệm giới hạn bởi tri thức, địa lý chính trị và tầng giác ngộ thô hay thậm thâm vi tế vượt qua khỏi trạng huống vật chất với phàm nhân còn vô minh thì như bất khả tư nghì …? Với tiềm năng của con người cộng với trí thức và có phương pháp, tinh tấn với nổ lực sẽ đạt được thành quả. Nhưng khi “cái” thành quả đó có được cũng là quá khứ với ít nhiều thiếu sót, khiếm khuyết … và lại có thêm những khám phá, phát minh mới … rồi tối hậu để làm gì? Có phải chăng loài Người trên thế gian này đối đãi và cư xử với nhau hướng thượng với phương châm cực Lý là Tình? Nếu là Tình thì những kẻ chủ xướng cổ máy xay xương thịt người Việt Nam là hợp Lý chăng? Dân Việt sẽ  được gì sau cuộc chiến? Đất nước nầy rỗi sẽ ra sao? Trong phạm vi cuộc chiến Việt Nam mà 3 nước đại cường và cũng là 3 thế lực lớn: Mỹ - Nga - Tàu chủ trương, chi phối và điều động toàn thể giới lãnh đạo của hai miền Nam - Bắc Việt Nam: Mỹ có đại nhân, đại trí, đại lược, đại dũng và cũng là “nhân tố” thiên tài ở mặt sáng có ánh quang mặt trời làm lý tưởng che chắn và rao hàng, dòng thời sự Mỹ tuy có phản ảnh sự phân hoá ở mặt tầng xã hội, tin tức phản chiến rộ trên mặt trận truyền thông, báo chí là biểu hiện ý thức sinh hoạt Tự Do - Dân Chủ của dân chúng Mỹ “thấm thương” bởi  Việt Nam War và cũng chỉ là Science có chỉ đạo và dự tính cho dù đã xảy ra hiện thực đang thời?  Nhưng Quốc Sách - Chiến Lược do những Kỳ Nhân - Thượng Hội Đồng Tối Cao Quyền Lực ngự trong “Nội Phủ” làm quốc chủ “Cung Đình” vẫn được các “hình nhân” răm rắp thi hành xuyên suốt… Nếu có trở ngại trên đường thẳng tiến ư? Oh,… Flow Chart … đã có dự trù thế bò trườn của con sâu róm (sâu lông) nó rất cẩn trọng luôn ngẩng đầu lút lắc nghe ngóng, thăm dò để điều chỉnh hướng tiến tới và Policy vẫn trực chỉ thi hành cho hoàn tất những chặng đường đã hoạch định, thiết kế cho nước Mỹ và Thế Giới như an bày “In God We Trust – Annuit Coeptis – Novus Ordo Seclorum” (tuân hành những điều đã qui định) … Ở mảng tối lại là thiên tai và gây nên đại hoạ cho dân Việt khi thiết kế sách lược xử dụng chiến tranh Việt Nam để phân hoá Nga - Tàu làm hư hoại khối Cộng Sản trên đà bành trướng! Những người Bolshevik Nga tinh tuý, biến cải và ảo tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa và Thế Giới Đại Đồng! Nhưng thực chất vẫn là cuồng vọng bành trướng Đại Nga, Đế Quốc Nga sau khi họ đã triệt hạ triều đại Nga Hoàng, với quyền lực đại cường họ đã xuất cảng dòng thác “cách mạng” là dòng sông máu Marxism-Leninism để nhuộm đỏ thế giới… Nhưng chính bọn đồ tể Bắc Bộ Phủ mới là tác nhân làm cho dòng sông máu Cộng Sản thêm phần dơ bẩn, hôi thối là rác rưỡi của nhân loại cần phải thiêu huỷ và vứt đi. Tàu với bản chất xâm lăng, chiếm đoạt, và phá hoại tài nguyên của nhân loại và với sách lược chính trị lộ tuyến… Tàu đang là công địch của thế giới thì trên lộ trình hướng tới tương lai phải đương đầu với đại hoạ phân thây là điều tất yếu, huống chi “Người Ta” vỗ béo con vật để giết thịt? Kết cuộc:  Nga bị lừa, Trung Cộng bị lừa, cả thế giới bị lừa, Giới lãnh đạo Nam - Bắc Việt Nam bị lừa, Dân Tộc Việt Nam bị lùa vào lò sát sinh…  “Oh hô Washington Bodhisattva… xá mớ bái”…! Trời hết mưa rồi lại nắng, sau chiến tranh thì tới hoà bình, để những tập đoàn tài chánh là sân sau của “Cung Đình” sẽ di dời vùng kéo tới đầu tư, mua bán, tái thiết, xây dựng và khui bốc mẽ tài nguyên dưới mặt đất thời kỳ Vôi của đất nước Việt? Nhưng dân Việt ta có lẽ chỉ hưởng được một tí chéo áo là an vui, hạnh phúc rồi và lấy làm thịnh vượng…?! C'est sera sera, Anh - Em chúng ta biết ra sau ngày sau?

Sau hai ngày chờ đợi TĐ1ND và TĐ2ND vào vùng an định, ĐĐ2TSND được trực thăng vận triệt xuất về Căn CVõ Định - BChỉ Huy  LĐoàn II Nhẩy Dù với báo cáo kết quả của TĐ2ND đã thu nhặt chiến lợi phẩm và  đếm hơn 600 xác Bắc Quân nằm chung quanh và khắp ngọn Đồi Delta.


.Mũđỏ Trương Văn Út (Útbạchlan)
Houston - Tháng Giêng,  Năm Đinh Dậu  2017.

ĐỊA PHƯƠNG QUÂN VÀ NGHĨA QUÂN CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA


Long Ðiền
Mục đích:
Bài này viết để vinh danh những “Anh Hùng Vô Danh” Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân trong cuộc chiến 1954-1975, họ là những người chịu nhiều đau thương nhất, tổn thất cao nhất so với các binh chủng khác trong QLVNCH, đồng thời họ chịu nhiều sỉ nhục từ phía Cộng sản.
Vì chính CSVN xem họ là kẻ thù nguy hiểm nhất qua 2 câu vè tuyên truyền của VC thời đó:
“Ngàn hai bắt được thì tha.
Chín trăm bắt được đem ra chặt đầu”

(1200 đồng là lương hàng tháng của quân dịch Chủ Lực Quân, 900 là lương của Dân Vệ/Nghĩa Quân) thực tế CSVN chỉ tuyên truyền vậy thôi, thời kỳ chiến tranh 1945-1975 chúng bắt được ai thì hầu hết đều bị thủ tiêu chớ làm gì có tha ai đâu.
Giới thiệu sơ lược:
Ðịa Phương Quân, thời kỳ đầu được gọi là Bảo An Ðoàn, là lực lượng vũ trang địa phương của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.
Bảo An Ðoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng Bảo Chính Ðoàn, Nghĩa Dũng Ðoàn, Việt Binh Ðoàn do Pháp bàn giao lại, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa Giáo Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ năm 1955 đến 1964, lực lượng Bảo An Ðoàn trực thuộc Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa, làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự trị an ở từng địa phương.

Tuesday, January 17, 2017

HOÀNG SA

 Tường thuật của Biệt Hải Nguyễn Châu (HQ-4)


Trở lại việc Biệt Hải tham chiến Hoàng Sa, trong thời gian tôi đang nghỉ phép vào một buổi sáng đẹp trời thì nhận được lệnh từ Bộ Chỉ Huy Biệt Hải nhắn, cho biết phải cấp tốc trở về trình diện đơn vị gấp để chuẩn bị đi công tác.




Phòng vệ duyên hải

Sau khi chương trình Việt Nam hóa chiến tranh được thành hình thì Trung Ðội Dân Sự Chiến Ðấu đóng ở trên đồi Hoa Sim được giải tán. Trung Ðội này trước đây chuyên lo phụ trách về vấn đề phòng thủ an ninh những nơi như Bộ Chỉ Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVDH/NKT/BTTM), Căn Cứ Trần Hưng Ðạo của Lực Lượng Hải Tuần và Trại 9 của Lực Lượng Biệt Hải (còn gọi là Blackrock). Ðồi Hoa Sim sau đó được chuyển giao cho các toán Biệt Hải, còn Trại 9 của Biệt Hải ở Sơn Trà thì được Bộ Chỉ Huy Biệt Hải bàn giao lại cho các Chiến Ðoàn Công Tác, thuộc Nha Kỹ Thuật/BTTM trú đóng.
https://i1.wp.com/www.mcb53.com/pagevietnam/vietnamwarphotos/camptienshaentrance.jpg
Từ trong ngã ba Tiên Sa (Ðà Nẵng) đi ra, vừa qua khỏi trạm gác Ðài Kiểm Báo Không quân (còn gọi là Cầu Trắng) là trông thấy căn cứ Ðồi Hoa Sim, được đặt trên một mỏm núi khá thấp, nằm về bên phải và cách Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải của Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại một con đường. Trước đây, Phó Ðề Ðốc Thoại đã từng là Chỉ Huy Trưởng của Sở Phòng Vệ Duyên Hải khi còn ở cấp bậc đại tá. Trái ngược với một số tin tức bên ngoài đơn vị cho rằng Lực Lượng Biệt Hải (LLBH) đã được giải thể khi Hoa Kỳ rút quân về nước năm 1972, thực tế đã cho chúng ta thấy rằng sau khi được dời về trú đóng trên Ðồi Hoa Sim, các công tác hoạt động của Lực Lượng Biệt Hải vẫn còn tiếp tục và trực thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải/Nha Kỹ Thuật cho đến ngày cuối cùng. Bằng chứng là sau ngày đi công tác Hoàng Sa về ngày 10-4-1974, tôi nhận được văn thư của Sở mang số 0259/TTM/NKT/SPVDH/CTCT, tuyển chọn tôi (Nguyễn Châu) trong số 132 chiến sĩ xuất sắc nhất của QLVNCH trên toàn quốc để về thủ đô Sài Gòn tham dự ngày Quân Lực 19-6-1974.

Wednesday, December 28, 2016

HỒI KÝ THỜI LÍNH TRÁNG


Nguyễn Ngọc Chính


Ngôn ngữ Sài Gòn trước 1975 mang đậm chất “lính”. Cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ “leo thang chiến tranh” với lệnh “tổng động viên” trên toàn lãnh thổ. Thanh niên đến tuổi 18 đều bị “động viên” vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được “hoãn dịch” vì lý do sức khỏe, gia cảnh hoặc học vấn.
Đi lính” là một thuật ngữ xuất hiện thường xuyên trên đầu môi cũng như trong tâm thức của mọi người. Bậc cha mẹ lo lắng khi con cái đến tuổi “quân dịch” còn thanh niên thì đứng trước một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời: “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Mối lo của họ được thể hiện qua ám ảnh “Thi rớt tú tài…” và còn bi đát hơn với hai câu thơ:

Rớt tú tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ cho xong…

Nhạc phẩm Thà như giọt mưa cũng nói về chuyện “thi hỏng tú tài” và kết quả là phải “đợi ngày đi lính”. Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên viết bài thơ này cho một người con gái tên Duyên, sinh viên trường Luật, và người yêu… “lạc đệ tú tài”. Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc để biến thành một bản nhạc buồn man mác: 

Người từ trăm năm về qua trường Luật 
người từ trăm năm về qua trường Luật 
ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu 
thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi 
đau lòng ta muốn khóc 
đau lòng ta muốn khóc

Thời nào cũng vậy, những thành phần COCC (chữ tắt của cụm từ Con Ông Cháu Cha), bao giờ cũng có cách luồn lách để khỏi đi lính. Người Sài Gòn thường dùng chữ “trốn lính” hay “trốn quân dịch”. Một trong những cách “trốn lính” là tìm đường cho các “quý tử” đi du học, hay cùng lắm, khi bị “bắt lính” các bậc cha mẹ lo “chạy” để con được phục vụ trong các đơn vị không tác chiến, làm “lính văn phòng” hay còn một thuật ngữ rất phổ biến là “lính kiểng”. Người ta thường chưng hoa kiểng, cây kiểng để làm đẹp căn nhà nhưng “lính kiểng” lại chính là một hình thức “tự làm đẹp đời mình” trước những viễn cảnh u ám của chiến tranh, bom đạn, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày. 

Đôi khi loại “lính kiểng” còn được gọi qua cái tên nghe khá ngộ nghĩnh nhưng cũng rất thâm thúy: “lính cậu”. Chả là thứ lính này xuất thân từ những “cậu ấm” trong các gia đình quyền thế hoặc giàu có. Đây là loại “lính nhưng không phải là lính” nếu đem so sánh với những chiến binh ngày đêm phải đương đầu với súng đạn tại những tiền đồn heo hút hay rừng sâu núi thẳm, cách biệt hẳn với chốn phồn hoa đô hội. Xem ra câu “huynh đệ chi binh” không phải lúc nào cũng đúng như ý nghĩa vốn có của nó. 

Hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt rời ghế học trò để khoác trên mình bộ quần áo lính. Đó có thể là sắc áo “rằn ri” của các binh chủng dữ dằn như Nhảy dù(được “thần tượng hóa” thành “thiên thần mũ đỏ”). Lực lượng đặc biệtBiệt cách dù (Airborne Ranger, Liên đoàn 81 Biệt cách dù trong trận chiến An Lộc đã nổi tiếng với 2 câu thơ: "An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù vị quốc vong thân) hay Thủy quân lục chiến đội trên đầu chiếc mũ “mũ be-rê xanh” còn Biệt động quân thì lại chọn màu mũ nâu. 
Tuy nhiên, mũ be-rê chỉ dùng khi về phép và các dịp đặc biệt, khi ra trận mọi quân binh chủng đều đội chiếc “mũ sắt” phía bên trong có lót lớp “nũ nhựa” để bảo vệ phần đầu. Trên nguyên tắc là vậy chứ nhiều khi đạn có thể xuyên thủng “mũ sắt” nếu bắn từ khoảng cách gần. 
Lính bộ binh thì “hiền” hơn với bộ kaki, sau này được thay thế bằng bộ quân phục “bốn túi”, áo bỏ ngoài quần, giống như lính Mỹ. Đặc điểm của bộ binh là phải “gom ống quần” trong khi Không quân và Hải quân được thả ống quần, “lè phè”, thoải mái. Cũng vì thế lính không quân và hải quân sợ nhất là bị “gom ống quần lội bộ”, thuật ngữ ám chỉ bị thuyên chuyển sang bộ binh để đi tác chiến. 

Giày trận” được gọi là “bốt đờ sô” (botte de saut), có loại hoàn toàn bằng da nhưng sau này có loại giày kết hợp giữa da và vải, rất nhẹ trong những chuyến lội rừng, băng suối. Lính “địa phương quân” hay “nghĩa quân” thì hẩm hiu hơn với những đôi giày bằng vải bố, được gọi tắt là “giày bố”, kiểu như giày “ba-ta” nhưng cổ cao hơn giày thường. 

Ngay khi bắt đầu trình diện tại các Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ, thanh niên dù “đăng lính” hay bị “bắt lính” cũng đều phải qua một trong những thủ tục là làm “thẻ bài”. Tấm “thẻ bài” là vật bất ly thân, được đeo trên cổ trong suốt thời gian tại ngũ của quân nhân. “Thẻ bài” tựa như tấm lắc đeo ở cổ con chó nên người Mỹ gọi nó bằng cái tên… “dog tag”! 
Mỗi quân nhân bắt buộc có 2 tấm “thẻ bài” bằng kim loại không rỉ, được đeo bằng sợi dây cũng bằng kim loại. Trên mỗi tấm có ghi họ tên, “số quân” và loại máu để khi bị thương, cần tiếp máu, quân y biết ngay loại máu gì. Khi người chiến sĩ tử trận, một tấm thẻ bài được bỏ trong miệng tử sĩ và tấm kia đơn vị sẽ giữ lại để làm tài liệu báo cáo. 

Hình trên là tấm thẻ bài của tướng Nguyễn Văn Điềm, “số quân” 50/200.102, ông thuộc loại máu A. (Người anh em ở bên kia chiến tuyến dùng từ “số lính” thay cho “số quân”). Hai số đầu của “số quân” là năm sinh sau khi trừ 20. Như vậy, tướng Điềm sinh năm 1930 (50 – 20 = 30). Tôi sinh năm 1946 nên có hai số đầu là 66: 66/168.566. “Số quân” của người lính tựa như “số an sinh xã hội” (social security number của Mỹ gồm 9 số), số “căn cước” (thời VNCH) hay chứng minh nhân dân (thời CHXHCNVN).
Bài hát “Tấm Thẻ Bài” (http://www.youtube.com/watch?v=UDuscC0xDec) qua tiếng hát “liêu trai” của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong lòng người nghe và mãi đến bây giờ, mỗi lần được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhạc sĩ Huyền Anh đã viết những câu thật xúc động:

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.

….
Anh đã đi, đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh


Trong số các món quân trang, quân dụng được cấp phát, ngoài chiếc balô người lính còn có poncho là một tấm vải mưa trùm đầu theo kiểu vải khoác của người Nam Mỹ. Poncho lại còn có một công dụng mà bất cứ người lính nào cũng chẳng muốn sử dụng: poncho sẽ được dùng để khâm liệm xác của tử sĩ bỏ mình trên chiến trường. 
Bài hát Kỷ vật cho em có một đoạn rất bi thương: 

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!


Bài hát này do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ Để trả lời một câu hỏi của Linh Phương. Ca khúc ra đời vào năm 1970, trong thời kỳ cuộc chiến tranh Việt Nam đang leo thang và trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất tại miền Nam. Đã có một thời, bản nhạc bị chính quyền cấm đoán vì làm “nản lòng chiến sĩ” đồng thời “băng hoại hàng ngũ quân đội” dù Phạm Duy đã cố gắng sửa câu “Không về bằng chiến thắng Pleime” của Linh Phương thành “Có thể bằng chiến thắng Pleime”. 

Lời bài hát rất thật nhưng cũng không kém phần bi lụy với những ngôn từ như “anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa, anh trở về bằng chiếc băng ca, trên trực thăng sơn màu tang trắng”… “anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân. Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân bên người yêu tật nguyền chai đá” và… “anh trở về nhìn nhau xa lạ, anh trở về dang dở đời em, ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen, cố quên đi một lần trăn trối”. 
Không phải bài hát nào về lính cũng nhuộm màu bi quan như Kỷ vật cho em. Chúng ta còn vô số bài với nhịp điệu vui tươi và ngôn từ nhí nhảnh như bài Tình thư của lính do Trần Thiện Thanh sáng tác. 

Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay.
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.

Và kết thúc lá thư với một câu thật dễ thương:

Thư của lính, thư không được dài như mong ước đâu em.
Thư của lính chấm dứt ở đây, sau khi đề thêm hai chữ "Hôn em..."

Sau năm 1975, Thư của lính vẫn còn xuất hiện. Lang thang trên mạng tôi bắt gặp bài hát được hòa âm và làm clip với lời dẫn: "Tặng các chiến sĩ quân đội Việt Nam" (ý muốn nói Quân đội Nhân dân Việt Nam). Bản nhạc của Trần Thiện Thanh đã được sửa ngay từ câu đầu "Từ khi anh thôi học và từ khi anh khoác áo treilli" thành "Từ khi anh thôi học và từ khi anh khoác áo lính ra đi" và cứ như thế, lời và âm điệu của bài hát được “biên tập” theo dạng karaoke…

Tổng Thống Mỹ, John F. Kennedy, trong diễn văn nhậm chức năm 1961 đã từng tuyên bố: "Đừng hỏi tổ quốc có thể làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn có thể làm gì cho tổ quốc" (Ask not what your country can do for you — ask what you can do for your country). Đối với người lính bình thường, họ không bao giờ có những ý nghĩ cao xa, lý tưởng như ông Kennedy mà chỉ đơn thuần làm theo những yêu cầu của tình hình chính trị tại miền Nam khi đó. 

"Trốn lính" là chấp nhận sống bên lề xã hội, "trốn chui trốn nhủi" khi thấy bóng dáng cảnh sát, quân cảnh. Cuộc sống của người trốn quân dịch là những chuỗi ngày bấp bênh, không tương lai ngay giữa Sài Gòn đô hội. Cũng vì thế, có người tự chặt "ngón tay bóp cò" (ngón trỏ) để khỏi đi lính, có người "tự hành xác""ốm tong ốm teo" để được các trung tâm nhập ngũ trả về vì "không đủ sức khỏe"
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã một thời "trốn lính" để không một ngày nào phải khoác áo treilli. Với thân hình khẳng khiu, ốm yếu, anh đã ung dung ngồi tại nhà để viết nhạc, trong đó có cả những bài "phản chiến". Có người bảo TCS đã “đâm sau lưng chiến sĩ”. Người ta đồn TCS còn nhận được sự che chở của Chuẩn tướng Lưu Kim Cương, Tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân (Lưu Kim Cương đã tử trận vì trúng đạn B-40 của VC, trong khi đang đi trên xe Jeep điều quân giải vây vành đai phi trường Tân Sơn Nhất ngay sau Tết Mậu Thân 1968). Cái chết của Lưu Kim Cương là nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ TCS sáng tác nhạc phẩm Cho một người nằm xuống:

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai từng ngày
Không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi mùa mưa tới
Trong nghĩa trang này có loài chim thôi.


Nhà văn Thế Phong trong Hồi ký ngoài văn chương phát hành tại Westmington ghi lại chuyện giữa TCS và Lưu Kim Cương: "Buổi đưa tiễn [Lưu Kim Cương] đến nơi an nghỉ cuối cùng có rất đông nghệ sĩ từng giao du yêu mến chàng. Bài nhạc 'Anh nằm xuống" [bài hát chính thức có tựa đề "Cho một người nằm xuống" chứ không phải là “Anh nằm xuống” - chú thích của NNC] của Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Nhưng bữa nay không thấy mặt Sơn, buổi sinh thời Sơn giao du với Cương, được Cương yêu mến, nên Cương đề nghị với Tướng Tư Lệnh đưa Sơn vào lính không quân để cho qua cơn binh đao nội chiến. Tư lệnh trả lời Cương, hình như điệu nhạc phản chiến của Sơn không hợp với binh chủng này, nếu nhận làm nhạc công như nhiều nhạc sĩ khác như Duy Quang, Nguyễn Trung Cang, Trí khùng... chưa chắc Sơn đã làm công việc này hoàn hảo, nên tướng chối từ"

Đã có rất nhiều văn nghệ sĩ khoác áo kaki. Làng tân nhạc ngày xưa có 4 nam ca sĩ hàng đầu mà người ta thường gọi là “tứ trụ”: Duy Khánh (1938-2003), Hùng Cường (1935-1998), Nhật Trường (1942-2005) và Chế Linh. Duy Khánh thường hát với Thanh Thúy, Chế Linh đi đôi với Thanh Tuyền, Nhật Trường rất ăn ý với Thanh Lan và Hùng Cường hát chung với Mai Lệ Huyền. Họ thường lên sân khấu với bộ đồ treilli để hát những ca khúc về lính trong khi các nữ ca sĩ đóng vai… “em gái hậu phương”. Tùy theo định kiến của người xem nên có nhiều người “thương” nhưng cũng không ít kẻ “ghét” những hoạt cảnh về lính trên sân khấu.

Ca sĩ Nhật Trường, chính là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục tâm lý chiến thuộc Bộ tổng tham mưu từ năm 1965 cho đến ngày Sài Gòn đổi chủ. Nhật Trường đã từng làm việc tại Đài phát thanh Sài Gòn và sau đó là Truyền hình Quân Đội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và đến năm 1968 anh còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường. Năm 1993, Nhật Trường sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình (ODP) và qua đời vào ngày 13/5/2005 tại thành phố Westminster, Quận Cam, do bệnh ung thư phổi.
Trong số khoảng 200 bài hát Nhật Trường Trần Thiện Thanh sáng tác thì có đến hơn nửa về lính. Điển hình là: Anh không chết đâu anh (vinh danh Đại úy “Mũ đỏ” Nguyễn Văn Đương), Người ở lại Charlie (vinh danh Đại tá Nguyễn Đình Bảo), Rừng lá thấp (viết tặng Đại Úy Vũ Mạnh Hùng, tử trận trên cầu Thị Nghè), Tuyết trắng (viết về Không quân), Hoa biển (viết về Hải quân), Biển mặn(kể lại cuộc đời quân ngũ của chính tác giả), Người yêu của lính, Màu mũ anh, màu áo em… 

Hùng Cường (1935-1998) là một ca sĩ, nghệ sĩ cải lương, diễn viên điện ảnh và diễn viên kịch nổi tiếng từ thập niên 1950 tại Sài Gòn. Thập niên 1960, Hùng Cường cùng Mai Lệ Huyền chuyển sang thể loại “nhạc kích động” theo các điệu nhanh như Twist, Bebop… gây nên một không khí mới mẻ trong nền âm nhạc thời đó. Hùng Cường tình nguyện vào binh chủng Biệt động quân với cấp bậc Hạ sĩ đóng tại trại Đào Bá Phước. Chàng ca sĩ thuộc loại "lính văn phòng" đóng tại Sài Gòn để còn thì giờ đi hát tại các vũ trường, đại nhạc hội và đóng phim.
Hùng Cường sở hữu giọng hát “ténor” và thành công với các bản nhạc như Dù Hoa Lạc LốiĐám Cưới Nhà BinhMột Trăm Phần TrămLính mà emLàm quen với lính… Từ những khán giả hâm mộ giọng ca Hùng Cường những phim anh đóng cũng được người xem chú ý như: Chân Trời TímMãnh Lực Đồng TiềnCòn Gì Cho Nhau… Trong lãnh vực cải lương, Hùng Cường hát chung với Bạch Tuyết tạo thành một “cặp bài trùng” trên sân khấu với các vở tuồng nổi tiếng một thời như Má hồng phận bạcTình chú Thoòng… 

Như đã nói, một nghệ sĩ được gọi là thành công khi có người hâm mộ nhưng cũng không thể nào tránh khỏi sự "dị ứng" của những người thuộc nhóm… “không ưa”, trong đó có cả những người lính. 
Ca sĩ Duy Khánh (1936-2003), người gốc Quảng Trị, nổi danh từ thập niên 1960 với dòng nhạc dân ca, nhạc quê hương và nhạc lính. Ông còn được biết đến như một nhạc sĩ tài năng với hơn 30 ca khúc, nổi tiếng phải kể đến Thương về miền Trung, Lối về đất mẹ, Ai ra xứ HuếXin anh giữ trọn tình quê... 
Duy Khánh là một người lính ngành Chiến tranh Chính trị nhưng đồng thời cũng là một ca sĩ "đào hoa", ăn mặc rất đúng mốt và lịch lãm. Nhờ thân hình cao lớn và cân đối, nên thứ gì khoác vào người (nhất là những bộ đồ lính) giúp chàng ca sĩ “hớp hồn” các fan hâm mộ, nhất là phái yếu. Áo may ở La Ligne, quần ở Văn Quân, giày đóng ở Trinh đó là những địa chỉ “thời thượng” ở Sài Gòn ngày xưa. 
Sau 1975, Duy Khánh ở lại Sài Gòn và đến năm 1988 được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, tại đây ông tiếp tục ca hát và sáng tác. Duy Khánh mất vào ngày 12/2/2003 tại bệnh viện Fountain Valley, California, thọ 68 tuổi. Giọng hát Duy Khánh có người rất thích nhưng cũng có người lại chê là “nhạc sến”. Tại Hoa Kỳ, "giọng ca một thời" Duy Khánh hát Người lính già xa quê hương của Nhật Ngân. Như đã nói, "hay" hay "dở" còn tùy người nghe.

Tứ trụ” của sân khấu ca nhạc Sài Gòn ngày xưa hiện nay chỉ còn lại Chế Linh. Anh cũng là ca sĩ gây nhiều tranh cãi nhất trong vấn đề “yêu” hay “ghét”, “sến” hay “không sến”. Chế Linh là người gốc Chàm ở Phan Rang, tương tự như trường hợp của nhạc sĩ Từ Công Phụng. Có thể nói, hai văn nghệ sĩ này tượng trưng cho hai “trường phái”, hai “thái cực”: “hâm mộ” người này thì sẽ “dị ứng” với người kia.
Chế Linh có thiên hướng hát về nhạc chiến tranh ca tụng người lính VNCH dù anh không phải nhập ngũ vì thuộc thành phần "dân tộc thiểu số". Những bài hát nổi tiếng nhất phải kể đến: Đêm nguyện cầuThành phố buồnThói đờiThương hậnTrong tầm mắt đờiĐêm buồn tỉnh lẻÁo em chưa mặc một lần... 
Chế Linh ở lại Sài Gòn sau năm 1975. Năm 1976-1978, anh bị bắt vì “vượt biên trái phép” và tội “phản động”, biệt giam 28 tháng. Năm 1980, anh vượt biên thành công sang Mã Lai, sau đó định cư tại Toronto, Canada. Ngoài việc là một trong những giọng ca nam hát “nhạc vàng” được yêu thích nhất, Chế Linh còn nổi tiếng là người có nhiều vợ con, tính cho đến tháng 1/2007, anh đã có 4 vợ và 14 đứa con! 
Có một thời, ở Sài Gòn, người ta bàn tán cái tên Chế Linh theo kiểu "nói lái" sẽ trở thành… "Lính chê"! Theo lời giải thích của Chế Linh, đó cũng là điều dễ hiểu vì anh được “miễn dịch” với lý do “dân tộc thiểu số” nên quân đội “chê”. Một số người lại hiểu theo nghĩa khác, họ nói những bài hát về lính của anh lại bị… “lính chê”. Rõ ràng đây là quan điểm của những người lính không thích những bài anh hát về họ. 

Trong lãnh vực văn chương, Sài Gòn xưa không thiếu những ấn phẩm viết về lính. Một trong những tác phẩm nổi bật là Đời Phi Công của nhà văn Toàn Phong, bút hiệu của Đại tá Không quân Nguyễn Xuân Vinh. Đời Phi Công xuất bản lần đầu năm 1960 và được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cùng năm. Trong một phỏng vấn ở hải ngoại sau này, tác giả Toàn Phong cho biết ông bắt đầu viết Đời Phi Công vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ vào ngày thứ Hai trên nhật báo Tự Do.
Đời Phi Công là một cuốn truyện dưới dạng những bức thư của một phi công viết cho người yêu là sinh viên tên Phượng để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày “lướt gió tung mây”, đêm thì dõi theo “ánh tinh cầu”. Những bức thư ghi lại kỷ niệm vui buồn trong những phi vụ, kể lại một cuộc sống vừa lãng mạn vừa sôi nổi của một phi công thời chiến.

Đời Phi Công ra đời làm nức lòng các thanh niên thiếu nữ. Thanh niên thì nuôi giấc mộng hải hồ, thiếu nữ thì mơ có người yêu là một chàng phi công hào hoa “đi mây về gió”. Tác phẩm này đã là đề tài của nhiều buổi thuyết trình và có những đoạn được trích dẫn trong chương trình “kim văn” trung học đệ nhất cấp. 
Trong một bức thư gửi cho Phượng khi bước chân sang Pháp học lái máy bay, Toàn Phong viết: “Em cũng như tất cả những người thân-tình, cũng như tất cả những người dân Việt, chắc hẳn phải đồng ý rằng nước nhà cần có đủ mọi ngành quân-lực. Đường đời muôn vạn nẻo anh đã chọn lấy một hướng, dù gian-nan muôn trùng anh cũng sẽ mỉm cười dấn bước”. 
Ngôn ngữ trong Đời phi công là một thứ ngôn ngữ gợi hình. Tác giả gọi những bức thư là “giòng lá thắm”, ánh mắt của cô Phượng “trông như ánh pha-lê”, hành trình của người con trai thời chiến như “một chiếc lá vàng đã trót được thả trên giòng đời” còn phi công được thi vị hóa như những “tráng-sĩ” hay “hiệp-sĩ không-trung”… 
Nếu để ý, ta sẽ thấy những từ Hán-Việt đều được Toàn Phong viết có gạch nối. Đó là phong cách viết cầu kỳ của người Sài Gòn xưa. 

Nhà văn quân đội thứ hai mà tôi muốn đề cập đến là Thế Uyên. Tôi biết Thế Uyên khi còn học tại Ban Mê Thuột. Khi đó ông lưu lạc đến cao nguyên đất đỏ trong vai trò một giáo sư dạy môn Công dân Giáo dục và Triết trước khi bị động viên vào khoá 14 Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, cùng một lượt với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. 
Thầy trò chỉ hơn nhau có 11 tuổi nhưng, đối với tôi, thầy Dũng mang dáng dấp của một người từng trải với điếu thuốc lúc nào cũng gắn trên môi. Thế Uyên, bút hiệu của thầy Nguyễn Kim Dũng, sinh năm 1935 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn học. Mẹ ông là em ruột nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, bà cũng là chị nhà văn Thạch Lam. 
Sau 1975, cũng như hàng trăm ngàn sĩ quan của miền Nam, ông bị đi tù cải tạo một thời gian, trước khi đến định cư tại Mỹ. Cách đây vài năm ông bị “stroke” tê bại một nửa người, phải ngồi trên xe lăn để di chuyển trong nhà. Tuy nhiên, bằng một nghị lực phi thường, ông đã tập viết lại bằng tay trái, và đã viết bài cho các tạp chí văn học hải ngoại.
Thế Uyên là tác giả của các tác phẩm nổi tiếng xoay quanh người lính trong chiến tranh Việt Nam như Mười ngày phép của một người línhTiền đồn, Đoạn đường chiến binh... Trong một cuộc phỏng vấn Thế Uyên cho biết:

Nếu nghề dạy học đã làm tôi hút thuốc lá từ lúc trẻ cho tới khi bị stroke, thì nghề làm lính làm tôi thích bia rượu và thay đổi hẳn quan niệm và cách viết văn. Tôi từ bỏ (hay bị từ bỏ, vì hoàn cảnh sống có tác động mạnh đến bút pháp) lối viết và đề tài cũ, giã từ những mối tình trai gái lãng mạn trong thành phố an bình, chuyển sang chiến tranh và các hệ luỵ của nó. Với tôi, quân đội và chiến tranh, như một vết cắt, thành trước và sau, before and after, trước sex vẫn hiện diện, nhẹ nhàng thôi, bây giờ sex nặng nề, tràn đầy… Như trong Tiền Đồn, Mười Ngày Phép Của Một Người Lính, Nỗi Chết Không Rời... 
Trong tác phẩm Tiền đồn, Chị Ba, người nông dân tượng trưng cho người dân Việt Nam - ở cả miền Nam lẫn miền Bắc - đã phảiđược và bị làm tình với cả ba phe lâm chiến hồi đó: lính miền Bắc, lính miền Nam và lính Mỹ. Đó là một đề tài sex rất mới lạ trong mảng chiến tranh mà Thế Uyên đã đưa vào tiểu thuyết. Có người bảo giữa tình dục và chiến tranh hoàn toàn không có gì liên quan đến nhau nhưng Thế Uyên lại nghĩ khác: 

“…Nhà văn Võ Phiến (một người không đi lính và không ở tiền tuyến với súng đạn chông mìn) không đồng ý với phân tích đó, cho rằng chiến tranh vẫn có đó, cho nhiều người, nhưng không liên quan gì đến tăng hay giảm sex trong văn chương... Tôi tôn trọng ý kiến nhưng không đồng ý với bậc đại trưởng lão này. Để tránh tranh cãi, tôi xin nói lại thế này: Riêng đối với cá nhân tôi, đang khi và sau khi rời mặt trận, tôi cảm thấy phải sử dụng tới sex, tới làm tình, nghĩa là sự sống, tạo sự sống, mới diễn tả được chiến tranh, sự chết, huỷ diệt. Tôi cảm thấy thế thì phải viết như thế, thật tự nhiên, không gò ép…

Ở Tiền đồn còn có những chi tiết nhỏ nhoi mà những tác giả chưa từng sống trong tâm trạng của người lính trực tiếp cầm súng không thể nào có được: 
Mới chỉ thiếu đi một khoảnh khắc ánh trăng ... mình mệt rồi, chàng thì thào, phải kiếm đôi giày khác, đưa đôi này đi làm fermeture. Một thằng bạn nào đã nói: Phải đi giày có fermeture mới đỡ căng thẳng thần kinh... Hắn có lý đấy, chàng sợ nhất ban đêm bị đánh bất ngờ, xỏ giày không kịp, cứ chân không tác chiến và chạy băng bờ bụi…” 

Trong giai đoạn “chiến tranh du kích”, người Sài Gòn dùng cụm từ “đắp mô” để chỉ những hoạt động của du kích MTGPMN tối tối thường ra các trục lộ giao thông phá hoại đường xá. Trong Tiền Đồn, chuyện “đắp mô” của “những người anh em phía bên kia” lại được Thế Uyên diễn tả bằng “ngôn ngữ của lính”: 
Hai tiếng nổ lớn kế tiếp vang dội. Những viên đất nhỏ rơi lả tả trên đầu, quần áo. Vũ quay đầu lại la lớn về phía toán đang dùng TNT phá ụ: "Còn mấy cái mả Hồ Chí Minh nữa mới xong?". Một tiếng la trả lời: "Ba mả nữa!". 
Dĩ nhiên trong lãnh vực báo chí Sài Gòn xưa tràn ngập những tin tức liên quan đến lính, từ các mục Tin Chiến SựTin Chiến Trường đến các mục Hậu phương & Tiền TuyếnỦy lạo binh sĩ, v.v… Riêng quân đội cũng có cơ quan báo chí trực thuộc Phòng 5 Bộ tổng tham mưu với tờ Phụng Sự, ấn phẩm ra hàng tháng trong suốt thời gian từ 1953 đến 1960. Phụng Sự là tạp chí nghị luận, biên khảo và văn nghệ với sự góp mặt của Toàn Phong (tác giả Đời Phi Công đã đề cập đến ở phần trên), Hoàng Ngọc Liên, Hà Liên Tử, Nguyễn Mạnh Côn, Uyên Thao, Phan Lạc Tuyên…

Báo Chiến Sĩ Cộng Hòa (1959-1974) là cơ quan hợp nhất hai tờ Phụng Sự và Quân Đội và tạp chí Chỉ Đạo xuất hiện từ tháng 10/1956 thuộc Ủy ban Chỉ đạo chiến dịch Tố Cộng. Ngoài những nhà văn vừa kể, những tờ báo lính còn xuất hiện bài vở của các cây bút tiếng tăm trong và ngoài quân đội như Nguyễn Đăng ThụcNguyễn Thiệu LâuToan ÁnhDoãn Quốc SỹThanh Tâm Tuyền,Bình Nguyên LộcTrần Phong GiaoDương KiềnDuyên AnhHà Huyền Chi
Nguyệt san Quân Đội của Nha Chiến tranh Tâm lý xuất hiện từ đầu năm 1957 đến 1960, do Trung-úy Tô Kiều Ngân làm chủ bút (hẳn bạn đọc còn nhớ tiếng sáo của Tô Kiều Ngân trong chương trình Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn). Tiếp đến là những tờ Tiền PhongLý TưởngMũ ĐỏLướt SóngTinh ThầnKhởi Hành, và các nhật báo Tiếng DânDân ViệtTiền Tuyến

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã xác định trong một bài diễn văn tại trường Sĩ quan Võ bị Đà Lạt năm 1960: Cuộc chiến tranh ta phải đương đầu không phải là một thứ chiến tranh quân cụ, một thứ chiến tranh bấm nút, hay một thứ chiến tranh chỉ liên hệ đến một số quân nhân mà thôi đâu. Thứ chiến tranh mà ta phải đối địch là thứ chiến tranh cách mạng, một thứ chiến tranh lý tưởng liên hệ trực tiếp đến toàn dân, và trong đó yếu tố tinh thần, yếu tố tin tưởng vào chế độ của mình là yếu tố quyết định”. 

Ngày Quân lực VNCH được chính thức chọn vào ngày 19/6/1965 trong thời Đệ nhị Cộng hòa (dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, và Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ) sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Từ năm 1965 cho đến 1974 đều có các cuộc diễn binh trọng thể để kỷ niệm Ngày Quân Lực tại Sài Gòn. (Một sự tình cờ ngẫu nhiên 19/6 lại trùng với ngày sinh của tác giả bài viết này (19/6/1946)!
Khẩu hiệu chính của quân đội VNCH là Danh dự – Trách nhiệm – Tổ quốc, mỗi binh chủng lại còn có khẩu hiệu riêng, chẳng hạn như Không quân là “Tổ quốc, Không gian”, “Bảo quốc, Trấn không” hoặc Cảnh sát thì có “Cảnh sát Quốc gia, Phục vụ Đồng bào”… Các đơn vị quân đội VNCH ngoài tên gọi còn có những “biệt danh” nghe rất kêu nhưng cũng rất ngổ ngáo. Thủy quân lục chiến có Quái Điểu (tiểu đoàn 1), Trâu Điên (tiểu đoàn 2), Sói Biển (tiểu đoàn 3), Kình Ngư (tiểu đoàn 4), Hắc Long (tiểu đoàn 5), Thần Ưng (tiểu đoàn 6), Hùm Xám (tiểu đoàn 7), Ó Biển (tiểu đoàn 8), Mãnh Hổ (tiểu đoàn 9). Biệt động quân có biệt hiệu “Cọp ba đầu rằn”, Không quân có các phi đoàn Thần PhongThần TượngSong ChùyPhi HổHổ CápThiên LôiHỏa Long, Phượng Hoàng

Quân lực VNCH có một số cơ sở đào tạo và huấn luyện. Đứng đầu là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đào tạo những thanh niên tình nguyện trở thành sĩ quan hiện dịch ra trường với cấp bậc Thiếu úy. Khi mới thành lập năm 1948, thời gian huấn luyện tại trường chỉ kéo dài 9 tháng. Năm 1957 tăng lên thành 12 tháng rồi đến năm 1961 là 2 năm. 
Đến giữa thập niên 1960, khóa học của Trường Võ bị Đà Lạt là chương trình 3 năm, từ năm 1966 trở đi lại tăng lên 4 năm. Học trình lúc đầu tương đương với trường cao đẳng. Sinh viên mãn khóa được miễn thi nhập học vào trường đại học vì coi như hoàn tất bằng tú tài toàn phần (gồn Phần I, lớp Đệ nhị và Phần II, lớp Đệ nhất). Đến năm 1966, sinh viên tốt nghiệp Trường Võ Bị có văn bằng tương đương với bằng cử nhân khoa học. Hai năm đầu sinh viên mang cấp bậc trung sĩ, hai năm sau là chuẩn úy. Sinh viên học xong 4 năm thì tốt nghiệp với cấp thiếu úy. 
Khóa học bao gồm những môn vũ khí, truyền tin, tác chiến, kết hợp lý thuyết với thực hành. Theo truyền thống, để được gắn Alpha, sinh viên sĩ quan sau những tuần huấn nhục phải leo lên ngọn Lang Biang để nhận phù hiệu trên đỉnh ngọn núi cao nhất Đà Lạt. 
Trường Võ bị Quốc gia lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm mẫu mực. Hai năm đầu chương trình học cho các sinh viên đều giống nhau. Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi thì tách ra ba quân chủng riêng biệt, trong đó 1/8 thuộc Không quân, 1/8 thuộc Hải quân và 3/4 thuộc Lục quân.
Năm 1965, quân lực VNCH tiếp nhận khái niệm và cơ cấu Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) khi đó được áp dụng trong Quân đội Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Tổng cục CTCT được tổ chức thành 5 cục bao gồm Cục chính huấnCục tâm lý chiếnCục xã hộiCục an ninh quân độiCục quân tiếp vụ và một trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị cũng đặt tại Đà Lạt. Tại đây, sinh viên phải qua một chương trình huấn luyện 2 năm để trở thành Thiếu úy hiện dịch. 
Chương trình học nhấn mạnh về khoa học xã hội và chính trị. Sinh viên phải học quân sự hàng năm tại Trường Võ bị Quốc gia để có thể chỉ huy một trung đội bộ binh với đầy đủ kiến thức về chiến thuật, chiến lược. Bên cạnh đó là việc học những kiến thức chuyên môn tại trường để trở thành sĩ quan chiến tranh chính trị

Trường Bộ binh Thủ Đức là nơi tập họp các thanh niên có bằng Tú tài Phần I trở lên (lớp Đệ nhị) bị động viên vào quân ngũ để được đào tạo trở thành sĩ quan trừ bị và ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Trong suốt thời gian hoạt động 1953-1975, trường Thủ Đức đã đào tạo hơn 80.000 sĩ quan trong đó khoảng 4.000 sĩ quan đặc biệt là những hạ sĩ quan được đặc cách đi học lớp sĩ quan. “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” và “Cư An Tư Nguy” (Muốn sống hòa bình phải nghĩ đến chiến tranh) là những châm ngôn của Trường.

Trường Bộ binh Thủ Đức là nơi tôi đã từng trải qua với vô vàn kỷ niệm, vui cũng như buồn rất khó quên. Bò hỏa lựcđoạn đường chiến binhleo dây tử thầnhít đấtthụt dầuphạt dã chiến là những món “ăn chơi” không thể thiếu trong thời gian “huấn nhục” của người chiến binh. Vui nhất phải kể đến những lần về phép cuối tuần tại Sài Gòn nếu không có lệnh “cấm trại 100%”. 
Người ta thường gọi sinh viên sĩ quan Thủ Đức chúng tôi là “lính con cá” vì trên cầu vai không có lon mà chỉ có chữ Alpha tựa như hình con cá! Phải đợi đến khi tốt nghiệp ra trường mới được đeo lon Chuẩn úy (Omega). Trường Bộ binh Thủ Đức có “khu bưu chính” (KBC) mang số hiệu 4100, con số 4100 (bốn ngàn một trăm) được sinh viên chúng tôi đọc trại thành “bốn người một mâm”… chả là vì mỗi khi lên “nhà bàn” ăn cơm thì cứ bốn người ngồi chung một carrée! 


Tại Sài Gòn còn có Trung tâm Huấn luyện Quang Trung chuyên đào tạo binh sĩ cho các đơn vị tác chiến khắp “bốn vùng chiến thuật”. Tôi cũng đã từng nếm mùi quân trường Quang Trung trước khi được chuyển sang Thủ Đức ở giai đoạn 2. 

Quang Trung có món “chà láng”: những lúc rảnh rỗi tất cả phải ra giao thông hào, dùng càmen bằng inox để chà đất cho thật láng! Một việc làm “vô bổ” nhưng lại có tác dụng khiến cho những thanh niên mới khoác áo lính phải bận rộn, không còn thì giờ rảnh rỗi để nhớ nhà, nhớ cuộc đời dân sự. 
Trường Huấn luyện Không quân, Trường Sĩ quan Hải quân và Trường Hạ sĩ quan (tốt nghiệp với cấp bậc Trung sĩ, thường được gọi là Trường Đồng Đế) tất cả đều ở Nha Trang, “miền quê hương cát trắng”. Trường Thiếu sinh quân đặt tại Vũng Tàu, ưu tiên cho các con em tử sĩ. Còn một số trung tâm huấn luyện chuyên môn cho các quân binh chủng như Pháo binh, Công binh, Quân cụ, Quân khuyển, Quân y, Truyền tin… đặt tại các địa phương trên cả nước. 

Sẽ là điều bất công nếu không nói về Đoàn Nữ Quân Nhân, “những bông hồng trong bộ đồ lính” hay nói một cách thi vị hơn: “Hoa lạc giữa rừng gươm”. Trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân đầu tiên là Đại tá Trần Cẩm Hương, ái nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo – Tổng trưởng Công chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa. 
Nữ quân nhân hiện diện tại các đơn vị quân đội với quân phục tác chiến ở tiền phương hoặc với đồng phục màu xanh tại các đơn vị tham mưu. Họ có mặt trong mọi binh chủng và ngành chuyên môn trong quân lực và vào thời điểm “leo thang chiến tranh”, quân số của Đoàn Nữ Quân Nhân lên tới xấp xỉ 10.000 người. 
Trường Nữ Quân Nhân nằm trên đường Nguyễn Văn Thoại (ngày nay là Lý Thường Kiệt), giữa Trường đua Phú Thọ và Chợ Tân Bình. Trường được thành lập từ giữa thập niên 1960 và đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hồ Thị Vẽ, từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng, 30/4/1975. 
Một nữ quân nhân xuất thân từ Trường Nữ Quân Nhân chưa có đủ chuyên môn để phục vụ các đơn vị, nên thường phải trải qua một thời gian huấn luyện nữa, như ngành quân y, học tiếp ở Trường Quân Y để trở thành một y tá lành nghề. Tùy theo trình độ văn hóa, người nữ quân nhân có thể phục vụ trong quân đội như “lính trơn”, hạ sĩ quan hay sĩ quan. 

Ngoài ra còn có Trường Xã Hội Quân Đội thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, tọa lạc trong Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt bản doanh Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô nằm trên đường Lê Văn Duyệt (ngày nay là Cách mạng tháng 8). Trường Xã Hội Quân Đội còn đào tạo và huấn luyện những cô giáo nhà trẻ mẫu giáo để phục vụ tại các trung tâm, trường học ở khu gia binh thuộc quyền điều hành của quân đội. Trường Sinh ngữ Quân đội nơi tôi giảng dậy cũng có một nhà trẻ dành cho con em của các giảng viên và do nữ quân nhân phụ trách.
Người có cấp bậc cao nhất trong Đoàn nữ quân nhân là Đại tá Trần Cẩm Hương, xuất thân từ ngành Nữ trợ tá xã hội. Khi Đại tá Cẩm Hương giải ngũ về hưu, Trung tá Lưu Thị Huỳnh Mai lên nắm quyền Chỉ huy trưởng. Ngoài ra còn có những nữ Trung Tá thâm niên quân vụ và cấp bậc như Nguyễn Thị Hằng, Hồ Thị Vẽ, Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Cấp bậc nữ Thiếu tá có khoảng trên dưới mười người trong quân lực VNCH.

Lực lượng quân đội VNCH có đến 11 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn nhảy dù, 1 sư đoàn thủy quân lục chiếnLiên đoàn 81 Biệt cách dù, 21 liên đoàn biệt động quân, 4 lữ đoàn Kỵ binh thiết giápLực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập và lực lượng Địa phương quân gồm 400 tiểu đoàn, nghĩa quân hơn 50.000 quân.

Lực lượng Không quân có quân số khoảng 60.000 người. Chỉ huy trực tiếp là Bộ tư lệnh Không quân với đầy đủ các cơ quan yểm trợ. Binh chủng bao gồm 5 Sư đoàn không quân tác chiến trong đó có 20 Phi đoàn khu trục cơ (khoảng 550 phi cơ A-1H, A-37 và F-5); 23 Phi đoàn trực thăng (khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47); 8 Phi đoàn quan sát (khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17); 1 Sư đoàn vận tải (khoảng 150 phi cơ C7, C-47, C-119 và C-130); 1 Không đoàn tân trang chế tạo và 4 Phi đoàn Hỏa long (trang bị phi cơ AC-119, AC-130 Spectre Gunship). Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314. Các phi công đều được đào tạo chuyên môn tại Hoa Kỳ sau thời gian học quân sự và ngoại ngữ ở trong nước.

Lực lượng Hải quân có quân số hơn 40.000 người, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, huấn luyện và tiếp vận còn bao gồm các lực lượng tác chiến: Hành quân lưu động sông và Hành quân lưu động biển. Lực lượng Hải quân bao gồm tuần dương hạm (WHEC - White High Endurance Cuttert), hộ tống hạm (PCE - Patrol Craft Escort), khu trục hạm (DER - Destroyer Escort and Ricket), tuần duyên hạm (PGM - Patrol Gunboat Motor), giang pháo hạm (LSIL - Landing Ship Infantry Light), trợ chiến hạm (LSSL - Landing Ship Support Large), dương vận hạm (LST - Landing Ship Tank),hải vận hạm (LSM - Landing Ship Medium) và giang vận hạm (LCU - Landing Craft Utility). 

Hải quân còn có các Lực lượng đặc nhiệm 211 thủy bộ và Liên đoàn Người nhái. Tổng cộng được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển. Nổi tiếng nhất trong số đó là Liên đoàn Người nhái với hai tướng Dã Tượng và Yết Kiêu được tôn vinh là Thánh tổ của đơn vị. “Người nhái” là những thanh niên gan dạ, có đầy đủ sức khỏe để thực hiện những “hải vụ” bí mật trên sông và trên biển. 
. . . 
Trích "Hồi Ức Một Đời Người"
Nguyễn Ngọc Chính

Saturday, December 10, 2016

HỒN TỬ SĨ - NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA


  
Bài giới thiệu của Vietnam Film Club về phim
“HỒN TỬ SĨ – NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA”
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được khởi sự xây dựng bên cạnh xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa vào năm 1965. Kể từ đó các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tử trận trên các chiến trường được đưa về an táng tại nghĩa trang này.
Nghĩa Trang là một dự án quy mô với sự hợp tác của nhiều cơ quan trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Dự trù cho khoảng 30.000 ngôi mộ, Nghĩa Trang được xây dựng theo mô hình “Con Ong” với ý nghĩa:
Con ong không thờ hai chúa
Người lính chỉ chiến đấu và chết cho ngọn cờ dân tộc.

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được dự trù khánh thành đợt Một vào Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19/6/1975. Thế nhưng, ngày ấy đã không bao giờ đến khi miền Nam bị cưỡng chiếm vào cuối Tháng Tư Đen 1975. Từ đó, Nghĩa Trang trở thành một vùng đất hoang phế và bị ngăn cấm, ngay cả thân nhân các tử sĩ cũng không được phép viếng thăm.
Khi nhà báo Chu Lynh – Editor và đồng sáng lập Vietnam Film Club – trở về Việt Nam thăm gia đình năm 2003, ông đã đến thăm Nghĩa Trang. Dù bị cấm đoán, ông đã may mắn thu được một số hình ảnh của Nghĩa Trang cùng một đoạn phim ngắn ghi lại tình trạng hoang phế với những dấu hiệu tàn phá có chủ đích. Chuyến đi được ông thuật lại trong bài viết “Hồn Ai Trong Gió”. Nhưng hơn 10 năm sau Vietnam Film Club mới có dịp thực hiện cuốn phim tài liệu này.
“Hồn Tử Sĩ – Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” trình bày: 
● Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 
● Lịch sử Nghĩa Trang trước 1975 
● Hiện trạng hoang phế của Nghĩa Trang sau 1975 
● Bài học từ những nghĩa trang quân đội trên thế giới, nơi tử sĩ của các bên được tôn trọng như nhau.
Ngoài các thân hữu và nhân chứng người Việt, phim có sự đóng góp của:
– Alan Lowenthal, dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ
– Dan Southerland, giám đốc điều hành Đài Á Châu Tự Do
– George J. Veith, tác giả sách “Black April”
– Richard Botkin, tác giả sách “Ride The Thunder”
– Fred Koster, đạo diễn phim “Ride The Thunder”

Qua cuốn phim này, Vietnam Film Club muốn gửi đi một thông điệp: Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cần phải được bảo tồn xứng đáng, vì chẳng những là một di tích lịch sử mà Nghĩa Trang còn là biểu tượng cho truyền thống nhân bản của người Việt từ ngàn đời: Chăm lo người sống và tôn trọng người chết, thể hiện qua câu tục ngữ “Sống một mái nhà – Chết một nấm mồ”.
http://www.tvvn.org/nghia-trang-quan-doi-bien-hoa-chuong-goi-hon-ai-son-tung/

Saturday, December 3, 2016