Wednesday, June 26, 2024

NHỮNG QUY TẮC GIAO CHIẾN CỦA KHÔNG LỰC HOA KỲ TẠI VIỆT NAM

 Mark Berent


Mark Berent
Phi công Mark Berent cho rằng Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa có thể đã chiến thắng tại chiến trường Việt Nam vào những năm 67, 68. Nhưng qua những vụ ngưng ném thả bom trên đường mòn Hồ Chí Minh và miền Bắc Việt Nam, đã giúp cho Cộng Sản Bắc Việt mang quân và vũ khí vào miền Nam để đi đến chiến thắng cuối cùng vào tháng Tư 1975. Những phi công như ông đã bi trói tay và bịt mắt trước những cuộc di chuyển ồ ạt của cộng quân. Hãy nghe Mark Berent tâm sự… Nguyên tác là bài viết với tựa đề Rules Of Engagement, được in trong tác phẩm “To Bear Any Burden của Al Santoli".
Lần đầu tiên tôi tham chiến tại Việt Nam là vào năm 1965. Ðơn vị của tôi đóng tại căn cứ Không Quân Biên Hòa. Tôi bay phản lực cơ F-100s, tổng cộng hơn 200 phi vụ. Lần thứ hai tôi tham chiến ở Việt Nam là vào năm 1968, lúc đó tôi bay phản lực cơ F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. 
F-4-streaking-in
Tôi thuộc phi đoàn Cú Ðêm (Night Owls), có nhiệm vụ bay trên đường mòn Hồ Chí Minh trong vòng 7 tháng. Cuối cùng, 5 tháng chót tôi được chỉ định chỉ huy Woff FAC (Lực Lượng Không Kiểm Tiền Phương (Forward Air Control)). Lực lượng này bao vùng đường mòn Hồ Chí Minh từ Lào đến suốt Bắc Việt Nam. Ðó là thời điểm mà Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng ném thả bom. Do đó, có lúc các phi vụ được chấp thuận ném thả bom, có lúc phi vụ không được chấp thuận.. Chẳng cần dấu diếm, nhiều lần một số anh em phi công chúng tôi tự thi hành nhiệm vụ thả bom đường mòn, mà không cho ai biết.
Tại Việt Nam, có vài điều rất đỗi ngạc nhiên. Thứ nhất là tôi được tưởng thưởng nhiều huy chương. Nhưng có một trường hợp tôi từ chối nhận một huy chương cao quý của Hoa Kỳ là Purple Heart, Lý do là vì một người bạn Lực Lượng Ðặc Biệt của tôi vừa mới trốn được Việt Cộng bằng cách đi bộ 26 cây số trong đêm tối, với viên đạn 51 ly còn nằm trong một cánh tay và tay kia dìu một người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bị thương. Do đó, đối với tôi, cái huy chương cao quý Purple Heart không có một giá trị gì cả, tôi không xứng đáng để nhận!
US Air Force Lt. Col. Mark Berent

Tôi hết nhiệm kỳ tại Việt Nam và được chỉ định về phục vụ tại một căn cứ không quân tại California. Không Quân Mỹ muốn xử dụng tôi hết mình và để tôi thăng tiến hơn, họ gửi tôi đi học để lấy bằng kỹ sư tại một đại học dân sự. Sau khi tốt nghiệp, tôi được bổ nhiệm một chức vụ khả quan về tiền bạc và tương đối nhàn hạ tại Phi Ðoàn 69 Chiến Thuật, sống cuộc đời thoải mái. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần tôi cầm tờ báo thì lại được tin một người bạn thân của tôi bị bắn hạ và tử trận tại chiến trường. Không chịu nổi nữa, tôi xin với thượng cấp để được bay F-4s, một phản lực cơ tân tiến hơn so với F-100s và tôi đã được chấp thuận để trở lại chiến trường Việt Nam.
Trong 7 tháng đầu khi bay F-4s cất cánh từ căn cứ Ubon, Thái Lan. 

F-4-flight
Tôi vẫn thuộc Phi Ðoàn Cú Ðêm (Night Owls). Lệnh ngưng thả bom của Johnson bắt đầu có hiệu lực một tháng trước khi tôi trở lại chiến trường. Do đó, phi công chúng tôi không có cơ hội thả bom miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi chỉ còn biết bay ầm ì, rồi nhào lên lộn xuống trên đường mòn Hồ Chí Minh bên ranh giới nước Lào. Ðó là dọc theo vùng rừng núi cao Karst Mountains (Lào). Và nếu chúng tôi lợi dụng ngưng thả bom để bay xuống phía Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam để phá hủy những đoàn xe tiếp liệu của Cộng Sản Bắc Việt dọc theo đường mòn, thì thực sự với F-4s không đủ khả năng này, vì chúng tôi phải bay trong bầu trời dầy đặc sương mù và mây thấp che kín tầm mắt quan sát. Nhiều lần chúng tôi cho một phản lực thả trái sáng và sau đó phản lực khác theo sau thả bom.
Nhưng khi trái hỏa châu vừa thả ra là mấy tên lái xe Việt Công đều chửi thề: “Mấy thằng phi công Mỹ ngu xuẩn đang sắp thả bom. Hãy ngừng xe lại và táp vào lề đường. Trước sau gì chúng cũng đâm vào dãy núi Karst…” Và đúng như thế, nhiều phi công của chúng tôi đã đâm máy bay vào dãy núi này mà chẳng thả trúng một xe tiếp liệu nào, chỉ vì tầm nhìn quá hạn chế do thời tiết.
Mãi đến khi Mỹ mang máy bay Spectre–AC130 có trang bị vũ khí và có trang bị cả dụng cụ quan sát ban đêm như màn hình TV và những dụng cụ điện tử có thể cảm giác được khói bay ra từ ống khói của xe vận tải, đồng thời máy bay này có khả năng nhìn qua đêm tối và mây mù.
Chúng tôi liên lạc chặt chẽ với Spectre-AC130 để thực hiện 2 nhiệm vụ: Một là áp lực những ổ súng phòng không của địch ngõ hầu chúng tôi có thể bắn hoặc thả bom trúng mục tiêu. Thứ hai là hướng dẫn chúng tôi tới mục tiêu cần tiêu diệt. Và kể từ đó, chúng tôi đã phá hủy rất nhiều xe vận tải tiếp liệu của địch. Tôi nhớ rõ, một lần, trong một đêm tôi bắn trúng 14 xe tiếp liệu của địch.
Mỗi khi máy bay Spectre-AC130 nhìn thấy đoàn xe, những phi công này sẽ đánh dấu cho chúng tôi bằng nhiều cách. Họ tác xạ vào mục tiêu bằng súng liên thanh 20 ly và cho chúng tôi biết đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Hoặc giả họ ném hỏa châu để soi sáng cả đoàn xe phía dưới và chúng tôi cứ theo đó mà thả bom. Ngoài ra, họ còn có thể thả một khối hỏa châu nặng, có thể cháy sáng tới 20 phút. Họ ném một khối hỏa châu này trước đoàn xe và một khối khác phía cuối đoàn xe, và cho chúng tôi biết cứ thế mà thả bom trong đoạn đường giữa hai khối ánh sáng. Vì vậy, chúng tôi đã phá hủy được nhiều đoàn xe tiếp liệu của cộng sản. Ðường mòn Hồ Chí Minh đã bị cầy nát làm trở ngại cho việc cộng sản chở tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Thiển ý của phi công chúng tôi, chiến tranh đã có thể chấm dứt bằng quân sự!
Nhưng thật đau lòng, trong khi lệnh ngưng thả bom bắt đầu vào tháng 11 năm 1968, tất cả chúng tôi đau điếng! Anh em phi công chúng tôi đã trải qua bao nhiêu lần được lệnh ngưng thả bom và mỗi lần như thế chúng tôi cảm thấy như bị một quả đấm vào mặt, vì người ta đã phá tan đi những gì chúng tôi đang thắng thế.
F-105


Thi dụ, trong giai đoạn 1966-67, bạn bè chúng tôi, những phi công can trường, đang bay các phản lực cơ F-105s và F-4s trên lãnh thổ Bắc Việt, một nơi đầy nguy hiểm vì hỏa tiễn địa-không tối tân nhất SAM và màng lưới ra-đa của Nga đầy rẫy dưới đất. Nhưng vì Những Quy Tắc Giao Chiến (Rules Of Engagement), chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến mà tay chúng tôi đã bị trói chặt, mắt chúng đã bị chọc thủng mù lòa và một nửa đạn dược trang bi đã bị cắt giảm.
Nhưng những viên chức chính phủ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thì lại tuyên bố với công chúng rằng các phi cơ Mỹ không có bi cắt giảm bom đạn và bom đạn Mỹ không bao giờ thiếu?. Nhưng thực tế, chúng tôi đang chứng kiến bom đạn Mỹ ở Việt Nam đã bị cắt giảm nhiều, nhất là của không Lực Mỹ! Chúng tôi đã chứng kiến bạn chúng tôi bay ra Bắc với trang bị kém hơn thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chỉ vỏn vẹn với 2 trái bom: 250 và 500 ký và 2 thùng bom lửa (Napalm) trong một phi vụ phá hủy đường rầy xe lửa. Ðiều hiển nhiên là chúng ta không thể cắt đường rầy xe lứa bằng bom lửa, mà thực ra bom này chỉ làm cháy cỏ và cây cối chung quanh đường rầy!. Chúng tôi cho rằng quyết đinh ngưng thả bom và cắt giảm đạn dược là MỘT TỘI PHẠM của những người có thẩm quyền. Nhiều khi chúng tôi đã đối đầu với một số hoa tiêu từ chối lệnh bay thả bom, dù họ có phải ra toà án quân sự!
Các quan chức này lại nói loanh quanh rằng không có thiếu bom tại Việt Nam. Nhưng tại Sài Gòn, những tầu thương mại chuyên chở bom đạn bị tắc nghẽn tại các hải cảng, vì hải cảng không đủ rộng để có thể đem xuống những bom và vũ khí lớn quá tầm trưc tiếp vào bờ. Trong khi đó, vũ khí nhỏ và dụng cụ y khoa thì được Việt Cộng hối lộ và chở về mật khu.
Vào thời điểm đó, tôi vẫn còn nghĩ rằng với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chính phủ Sài Gòn biết phải làm gì để chiến thắng. Nhưng một thời gian sau đó, tôi nhận thức được rằng: “Hình như người ta (Mỹ) không muốn và không cho phép để thắng cuộc chiến tranh này!” chỉ vì Hoa Thịnh Ðốn đã áp đặt cái “Nguyên Tắc Giao Chiến “ oái oăm này!?
Chúng tôi đành phải bay lên phía bắc Lào để yểm trợ cho Vang Pao, người lãnh đạo của lực lượng H’mong, một bộ lạc sống trên đồi núi, đang chiến đấu với quân cộng sản Bắc Việt và cộng sản Lào (Pathet Lào). Nhưng tại đây, lại có lệnh không được thả bom gần các chùa chiền. Trong khi ai cũng biết cộng sản Lào đang đóng quân đầy trong các chùa chiền ở Lào với đầy đủ vũ khí. Nhiều lần chúng tôi đã bị bắn từ chính trong các chùa. Có lần chúng tôi không chịu được, đã bay qua chùa và thả một trái bom vào chỗ có súng bắn lên, và ầm ầm kho đạn của địch nổ vang và cháy suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có một câu chuyện ai cũng biết là ở Trung Tâm Văn Hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) tại Plaine des Jarres (Lào) như sau: Chúng tôi không được lệnh thả bom trong vòng 3 cây số chung quanh trung tâm này. Vào một đêm, một phi công tức khí lén thả một trái bom vào trung tâm này và kho đạn ở đây đã nổ trong suốt một tuần lễ!
Sau khi lệnh ngưng thả bom trên lãnh thổ Bắc Việt vào tháng 11 năm 1968, chúng tôi chỉ được phép thả bom khi xe tiếp tế của Việt Cộng ở đường mòn Hồ Chí Minh trên phần lãnh thổ nước Lào mà thôi, và chỉ được thả bom vào ban đêm. Như vậy là chúng tôi gần như tự tử rồi! Ban đêm không thấy đường, súng phòng không bắn như sao, chúng tôi chỉ còn cách đâm máy bay vào dãy núi Karst là xong! Có một ngày quang đãng, tôi đếm được 100 xe tiếp tế nối đuôi nhau tại Ðèo Mụ Giạ thuộc Bắc Việt Nam. Những chiếc xe này đậu sẵn để đợi đêm tối di chuyển vào đường mòn. Và dĩ nhiên chúng tôi được lệnh cấm chỉ thả bom đoàn xe. Ðó là quy tắc giao chiến đấy!!
Chúng tôi cũng không thể thả bom đường xe lửa tiếp tế từ Trung Cộng vào Bắc Việt. Mỹ cũng không thể phong tỏa hải cảng Hải Phòng… Tất cả những gì Nixon làm năm 1972 là để Bắc Việt có cơ hội mang tiếp tế vào miền Nam. Ðáng lẽ chúng ta phải chặn đứng việc cộng sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí cho chiến trường miềân Nam mới phải?
Vai trò ưu tiên của Không Lực Hoa Kỳ là chặn đứng khả năng tiếp tế vũ khí đạn dược vào chiến trường Miền Nam. Ðây là một sự “tuyệt đối phải ngăn chặn.” Ðó là mục tiêu duy nhất của Không Lực hầu yểm trợ lực lượng Mỹ và đồng minh tại Nam Việt Nam. Chúng ta phải thả bom các cơ sở chế tạo đạn dược và vũ khí, vì chính nơi này sản xuất phương tiện để giết những người lính Mỹ. Lý do nữa là Không Lực phải giúp lính tiêu diệt kẻ thù dưới đất. Tất cả Không Lực làm, từ chuyên chở, đến chiến đấu đều chung mục đích giúp cho toàn quân đội Mỹ ngoài chiến trường tại miền Nam Việt Nam.
Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, chúng tôi đã không được phép thực thi những sự “tuyệt đối phải ngăn chặn” này. Thử nghĩ xem Tù Binh Chiến Tranh Mỹ (POW) do đâu mà có. 85% POW là hoa tiêu và phi hành đoàn. Họ bi bắn hạ chung quanh những vị trí có hỏa tiễn SAM và phi cơ MIG. Nơi mà những hoa tiêu này đã thấy từ khi cộng sản Bắc Việt và Nga Sô lúc còn dang xây cất. Còn tại chiến trường Miền Nam, lính Mỹ chết bởi những vũ khí, đạn dược và tiếp liệu do Bắc Việt chuyên chở vào Nam, mà chúng ta không ngăn chặn được hay chúng ta không muốn ngăn chặn?!.
AC-130-view-of-convoy


Chúng tôi đã từng thấy từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau ngay ban ngày. Những xe này thuộc Lực Lượng Chuyên Chở 559 từ Hà Nội đổ vào.
Chúng tôi bay trên đầu đoàn xe và đôi khi chỉ cho chúng một chút sợ hãi bằng cách ném xuống vài thùng xăng phụ hay một vài trái hỏa tiễn gọi là. Vì chúng tôi không được phép mang cả phi đoàn phản lực đến đó để thả bom, chỉ vì lệnh cấm.
Tôi đã từng chứng kiến một làng người Thượng ở Nam Việt Nam bị Việt Cộng ném lửa đốt cháy cả làng. Chúng đốt sống cả trẻ thơ, phụ nữ và tất cả những gì còn sống, chỉ vì dân làng không chịu phục tùng lệnh của chúng.
Thật là đau lòng cho một cuộc chiến mà chúng ta không muốn thắng!
Tác giả: Mark Berent
Mark with his books on the SE Asia War Games (Vietnam)

Berent, a three-tour veteran of the S E Asia War


Nguồn: https://captainbillywalker.com/war-stories/mark-berent/

Sunday, June 2, 2024

NHỮNG DÒNG SÔNG LỊCH SỬ


c Vit ta đưc thiên nhiên ưu đãi nm bên b đi dương nghe sóng v rì rào mi gi
khi bình minh v
a ló dng đoàn thuyn tp np ra khơi, chiu v mang đy hi sn.
Nh
ng dòng sông un éo chng chít t Bc vào Nam, li thế cho thương nghip và quân s.
Nh
ng con thuyn buôn bán ngưc xuôi cung cp sn phn đi khp nơi cn thiết. Nhng
tr
n thy chiến oanh lit làm đch hoàng hn hết vía trên nhng dòng .sông lch s còn in
d
u ti nay- Có nhng dòng sông mang du n chia lìa xa cách :
-
Ôi nhng dòng sông thân yêu Quê hương !
Ôi nh
ng dòng sông oanh lit mt thi !
Ôi nh
ng dòng sông chia lìa xa cách !
Ôi nh
ng dòng sông nh mãi muôn đi !
 

*Sông Bch Hc- Ngc Hoa công chúa.
Đây là Lá Thư Công chúa Ng
c Hoa gi v vua cha
Hùng Vương 18 nhân d
p Gi T, sau khi Sơn Tinh
chi
ến thng Thy Tinh kết hôn vi công chúa.
Truy
n mang nét huyn s, nhưng đó là thi gian
đ
u m c ca các vua T Hùng vương đt Vit
và ch
ng tích dòng Bch Hc vn còn lưu li tri
qua bao năm tháng.

( Trích 1 đo
n trong Lá thư )
‘Ngày này thì phu quân Sơn Tinh Đại Vươ
ng đã
hiển linh nơi núi Tản Viên, trở thành vị đệ nhất

phúc thần của Đại Việt và ngài vô cùng linh ứng.

Hát GiangTrên sông ngày ấy, các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.’ -Tổ tiên khổ công bao đời mở Nước, Mười tám đợi vua Hùng dựng Giang sơn, Đất Việt trời Nam trải rông huy hoàng, Là kho báu cháu con phải gìn giữ, Nếu để một tấc đất vào tay giặc, Là có tội phản bội với tổ tiên, Phải ghi tâm khắc cốt không thể quên, Bảo tòan Giang sơn, báo đền Quốc tổ. *Hát Giang- Nhị Trưng Vương* Hai Bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí mão (43). Những nữ tướng của hai bà là chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số chạy thoát, số bị bắt. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn. bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, Hai Bà lưu lại tiếng thơm muôn đời. Ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi nhớ công ơn danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt nam. -Nhị Trưng vương vang danh gái Nước Việt, Trả thù chồng,quyết bảo vệ Non Sông, Gái má hồng phất cao cờ khởi nghĩa, Sáu mươi lăm thành trì đã đoạt xong, Mừng chiến thắng quân reo hò phấn khởi, Sau yếu thế, trầm mình xuống Hát giang 
Ngã ba Bạch Hạc nơi kinh thành xưa thật là một vùng sông nước hữu tình, sầm uất trên bến dưới

thuyền. Khi buổi chiều tà, mặt trời đỏ ối lặn sau dãy Ba
Vì, nơi có núi Tản Viên. Ngọc Hoa con
không ngừng cảm thán!
Hát GiangTrên sông ngày ấy, các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.’ -Tổ tiên khổ công bao đời mở Nước, Mười tám đợi vua Hùng dựng Giang sơn, Đất Việt trời Nam trải rông huy hoàng, Là kho báu cháu con phải gìn giữ, Nếu để một tấc đất vào tay giặc, Là có tội phản bội với tổ tiên, Phải ghi tâm khắc cốt không thể quên, Bảo tòan Giang sơn, báo đền Quốc tổ. *Hát Giang- Nhị Trưng Vương* Hai Bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí mão (43). Những nữ tướng của hai bà là chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số chạy thoát, số bị bắt. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn. bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, Hai Bà lưu lại tiếng thơm muôn đời. Ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi nhớ công ơn danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt nam. -Nhị Trưng vương vang danh gái Nước Việt, Trả thù chồng,quyết bảo vệ Non Sông, Gái má hồng phất cao cờ khởi nghĩa, Sáu mươi lăm thành trì đã đoạt xong, Mừng chiến thắng quân reo hò phấn khởi, Sau yếu thế, trầm mình xuống Hát giang Hát GiangTrên sông ngày ấy, các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một vẻ đẹp nên thơ.’ -Tổ tiên khổ công bao đời mở Nước, Mười tám đợi vua Hùng dựng Giang sơn, Đất Việt trời Nam trải rông huy hoàng, Là kho báu cháu con phải gìn giữ, Nếu để một tấc đất vào tay giặc, Là có tội phản bội với tổ tiên, Phải ghi tâm khắc cốt không thể quên, Bảo tòan Giang sơn, báo đền Quốc tổ. *Hát Giang- Nhị Trưng Vương* Hai Bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí mão (43). Những nữ tướng của hai bà là chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, một số chạy thoát, số bị bắt. Hai Bà Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn. bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, Hai Bà lưu lại tiếng thơm muôn đời. Ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi nhớ công ơn danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt nam. -Nhị Trưng vương vang danh gái Nước Việt, Trả thù chồng,quyết bảo vệ Non Sông, Gái má hồng phất cao cờ khởi nghĩa, Sáu mươi lăm thành trì đã đoạt xong, Mừng chiến thắng quân reo hò phấn khởi, Sau yếu thế, trầm mình xuống Hát giang

Monday, April 29, 2024

NGÀY 28 THÁNG 2 NĂM, 1975 : CUỘC HỌP VIỆT MỸ CĂNG THẲNG NHẤT TRONG 20 NĂM CUỘC CHIẾN

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng


Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng thuật lại không khí căng thẳng tột độ tại cuộc họp giữa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phái đoàn Quốc hội Mỹ ở thời điểm cuối của Chiến tranh Việt Nam.
Mắt chớp chớp, gương mặt căng thẳng. Dường như ông đang cố gắng đè nén sự phẫn nộ để giữ bình tĩnh. Nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong buổi họp hôm ấy, chúng tôi cảm nhận được sự chua cay của người lãnh đạo Miền Nam Việt Nam, một nước nghèo, thật nghèo - vì chiến tranh kéo dài mà phải nhờ vả đồng minh.
Sự xót xa đã lên cao độ sau trận chiến Phước Long, vì cho tới biến cố này, đã có nhiều giao tranh trong hai năm 1973-1974 sau Hiệp định Paris, nhưng quân lực VNCH đã chiếm lại được tất cả những khu vực bị mất đi. Bây giờ - trong bối cảnh khả năng chiến đấu bị co cụm vì sắp hết phương tiện, một tỉnh đầu tiên bị mất, lại chỉ cách Sài Gòn có khoảng 100 cây số.
Như được ghi lại trong cuốn Bức Tử VNCH – Kissinger và 8 thủ đoạn nham hiểm của chính tác giả (Nguyễn Tiến Hưng) xuất bản nay mai, chính quyền Gerald Ford cũng như tất cả các nước đã ‘công nhận’ Hiệp định Paris kể cả Liên Hiệp Quốc đều phớt lờ, không có phản ứng gì cụ thể.
Tòa Bạch Ốc tuyên bố lơ mơ: “đang theo dõi tình hình một cách chặt chẽ,” và gửi văn thư tới Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, tố cáo Bắc Việt “vi phạm trắng trợn” hiệp định ngưng bắn. Chỉ có vậy.
Gói viện trợ 300 triệu USD
Ngày 24 và 25/1/1975, Tổng thống Thiệu gửi hai văn thư liên tục cho Tổng thống Ford nói tới tình trạng cạn kiệt đạn dược của quân đội VNCH vì – trong trận Phước Long - họ “phải đếm từng viên đạn trước sức mạnh hùng hậu của quân đội Bắc Việt để chiến đấu được lâu hơn.”
Ông Ford yêu cầu Quốc hội vãn hồi số tiền 300 triệu USD bị Quốc hội cắt.
Một phái đoàn gồm 6 dân biểu lưỡng đảng được phái tới Sài Gòn để ‘thẩm định’ việc hoàn lại số tiền này.
Đang lúc xính vính, cực kỳ nguy hiểm, Miền Nam lại gặp thêm một bất hạnh nữa: Đa số người trong phái đoàn lại là những người có cả một quá trình chống chiến tranh, chống viện trợ, chống Chính phủ Miền Nam. Họ thuộc cả Đảng Dân chủ lẫn Cộng hòa. Như vậy mà lại được phái đi để “thẩm định” xem có nên hay không nên cắt giảm viện trợ “quân sự”, cũng chẳng khác gì cử những người cả đời “ăn chay” đi thẩm định xem nên hay không nên cho mở thêm tiệm bán thịt!
Xin kể ba người (trên sáu) làm thí dụ, chẳng hạn như:
Ông Paul Mc Closkey, Đảng Cộng hòa, dân biểu California, là người đã chống đối mạnh mẽ ông Nixon khi ông này ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai vào năm 1972, chống Nixon trên căn bản một lập trường hoàn toàn chống chiến tranh VN. Nhưng Mc Closkey đã không thành công. Sau này, năm 2004, ông ủng hộ ông John Kerry thuộc Đảng Dân chủ, rồi trở thành Dân chủ luôn.
Bà Bella Savitzky Abzug, Đảng Dân chủ, dân biểu New York, có biệt danh là “Battling Bella” – “Bella hiếu chiến”. Nhưng bà chỉ ‘hiếu chiến’ cho những lý tưởng mà bà hằng ôm ấp như ‘nữ quyền’, ‘quyền người đồng giới tính’, ‘hòa bình’ theo kiểu ‘make love not war’ của cuối thập niên 1960, ‘chống quân dịch’ và đặc biệt là cực lực chống Chiến tranh Việt Nam.
Ông Donald Fraser, Đảng Dân chủ, dân biểu Minnesota, một người ‘lý tưởng’, luôn chủ trương phải cắt hết viện trợ cho những quốc gia không tôn trọng ‘nhân quyền’ trong khối các nước không theo cộng sản, bất kể nước đó có ở trong tình trạng chiến tranh hay không.
Phái đoàn được ‘hướng dẫn’ bởi Dân biểu John Flynt thuộc Đảng Dân chủ, một cựu quân nhân, tương đối có thiện cảm với VNCH. Nhưng ‘hướng dẫn’ hoàn toàn không có nghĩa là ‘trưởng phái đoàn’ vì các dân biểu đều ngang hàng với nhau trên vị thế, không ai hơn ai.
Khi biết được thành phần phái đoàn thì chuông báo động ở Sài Gòn đã rung lên. Mặc dù đang trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, toàn thể bộ máy chính phủ, quân đội, cảnh sát đã mất rất nhiều thời giờ và công sức, họp hành liên tục để bàn tính xem nên ứng xử như thế nào, rồi chuẩn bị cho cuộc viếng thăm. Yêu cầu của phái đoàn là phải để cho họ được tự do muốn đi đâu thì đi, muốn gặp ai thì gặp. Đây là một cái thế tiến thoái lưỡng nan.
Nếu đáp ứng yêu cầu này thì thật là nguy hiểm vì phái đoàn, với những thành viên có quá trình như kể trên, sẽ chỉ biết “vạch lá tìm sâu”, sẽ lợi dụng cơ hội để chụp hình, ghi âm những cáo buộc họ đã được nghe về chính phủ, để chứng minh là lập trường trong quá khứ của họ là đúng. Nhưng đang ở vào thế kẹt, phía Việt Nam phải chấp nhận tất cả mọi yêu sách. Cả một chương trình linh động được sắp xếp. Và phái đoàn sẽ được tự do muốn làm gì thì làm, muốn gặp ai thì gặp, tuyên bố gì thì cứ việc tuyên bố. Kể cả được tự do đi “thanh tra” những “cấm địa” như cơ sở quân sự, khám Chí Hòa, “chuồng cọp Côn Sơn.”
Tổng thống Thiệu còn nghĩ tới cả khía cạnh con người của bà Bella Abzug và nói với Ngoại trưởng Vương Văn Bắc trong một buổi họp: “Này ông Bắc, ông trông 'séduisant' (có sức quyến rũ), ông nên săn sóc bà Abzug giùm tôi.”
Mọi người bật lên cười, bớt chút căng thẳng.
Cuộc họp căng thẳng
Vừa đáp xuống Tân Sơn Nhất, phái đoàn đã xé lẻ, mỗi người một ngả, đi gặp đủ mọi thành phần: chống chính phủ, phản chiến, nào bà Ngô Bá Thành, nào ông Huỳnh Tấn Mẫm, nào Cha Thanh, rồi vào khám Chí Hòa phỏng vấn “tù chính trị”...
Hầu hết các câu hỏi chỉ xoay quanh những vấn đề: tham nhũng, độc tài, lạm quyền của Chính phủ Thiệu, bằng chứng Miền Nam đã vi phạm Hiệp định đình chiến.
Phái đoàn không thiết tha gì tới những vi phạm Hiệp định đình chiến của Miền Bắc, thí dụ như vận chuyển quân đội, quân cụ, đạn dược vào Miền Nam. Dân biểu McCloskey còn cố ý tới Sài Gòn ngày 24/2, trước tất cả các thành viên khác, để yêu cầu được đi thăm các trại giam tù nhân chiến tranh.
Trong một bữa cơm chiêu đãi do Thủ tướng Trần Thiện Khiêm mời, bà Abzug công khai bày tỏ thái độ. Khi chủ nhân mời khách nâng ly rượu chúc mừng, bà ngồi yên, không động đậy gì cả.
Sau khi đi thăm viếng các nơi, phái đoàn trở về Sài Gòn họp với Tổng thống Thiệu ngày thứ Sáu 28/2 để đúc kết tình hình. Chúng tôi cùng tham dự để ghi chép và giúp ông về Anh ngữ những khi cần.
Vận động mãi để hoàn lại “con số 300 triệu đô la định mệnh”, Dinh Độc Lập hy vọng sau khi đúc kết tình hình và được hoàn toàn tự do trong các cuộc tiếp xúc, phái đoàn sẽ có ít nhất là một vài phát biểu có chút thiện cảm đối với Miền Nam, vì số tiền 300 triệu này là chỉ để đáp ứng nhu cầu cấp thời.
Như nước đổ lá khoai, mọi nỗ lực đều vô ích, diễn tiến buổi họp rất tiêu cực. Riêng chúng tôi, dù đã đoán trước là bầu không khí sẽ không được cởi mở, thân mật, nhưng không ngờ nó lại trở nên căng thẳng, hằn học đến thế.
Không thấy phái đoàn bình luận gì về nhu cầu viện trợ mà chỉ đặt những câu hỏi rất khiêu khích, cái khiêu khích của những người chỉ cố tìm những bằng cớ một chiều, để chứng minh là họ đã có một lập trường đúng trong quá khứ, không phải của những người đi tìm đâu là sự thật, chứ đừng nói tới việc tìm cách giúp một đồng minh đã cùng với Hoa Kỳ chiến đấu trong 20 năm:
– “Tại sao ông đã vi phạm Hiệp định Paris đang khi ông lại đặt điều kiện là Bắc Việt phải thi hành Hiệp định Paris?”
– “Ông đã đòi Bắc Việt rút quân như một điều kiện điều đình, ông vẫn còn muốn viện trợ quân sự?”
– “Ông muốn viện trợ kinh tế mãi sao? Chừng bao lâu nữa?”
Tôi ghi lại từng chữ một phát biểu khác:
“Chúng tôi nghĩ rằng viện trợ Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào một số yếu tố, như việc thả tù binh chính trị, chống tham nhũng, việc thành lập một lực lượng thứ ba. Quý vị đã làm gì cho các vấn đề này? Chúng tôi rất quan tâm.”
Sau gần 50 năm rồi mà mỗi khi hồi tưởng tới cuộc họp này, bộ mặt căng thẳng của Tổng thống Thiệu vẫn còn hiện lên rõ ràng trong trí nhớ chúng tôi.
Bà Bella Abzug thì mặt đằng đằng sát khí. Bà dân biểu Millicent Fenwick (New Jersey) thì cứ tiếp tục phì phèo ống điếu ngay trong buổi họp và trước mặt một tổng thống.
Bữa tiệc cuối tại Dinh Độc Lập
Sáng hôm sau, Tổng thống Thiệu điện thoại cho chúng tôi thật sớm. Với một giọng đầy phẫn nộ, ông nói: “Mấy người phách lối này không có ngay đến cả một phép lịch sự tối thiểu đối với đồng minh. Anh soạn cho tôi mấy câu để tôi đọc trong bữa tiếp tân chiều nay.”
Để giúp tôi có một khái niệm, ông gọi tôi vào văn phòng và cho tôi xem một phần của hồ sơ Dinh Độc Lập. Đây là lần đầu tiên chúng tôi được đọc một số tài liệu quan trọng này.
Chiều ngày 1/3, Dinh Độc Lập mở tiệc khoản đãi các vị “quốc khách” (tại Phòng Khánh tiết) vì hôm sau phái đoàn lên đường ra về. Dù có tin đồn là một số khách sẽ tẩy chay không đến dự, nhưng rồi tất cả mọi người trong phái đoàn đều đã đến đúng giờ. Tại bàn tiệc, nhân viên nghi lễ lại sắp xếp cho bà Abzug ngồi đối diện ngay với chúng tôi. Ngồi xuống rồi, mấy phút sau bà ta mới mở cái mũ thật bự trên đầu ra. Đội cái mũ này, bất cứ ở nơi nào, là “thói quen” hay “cách tạo dáng” đặc biệt của bà.
Đã nghiên cứu trước về con người này, chúng tôi tìm đủ cách làm cho bà ta thoải mái và có thái độ hòa nhã hơn. Nào là nói về những chuyến đi thăm Brooklyn (vùng phụ cận New York) nơi sinh trưởng của bà, nào là về đường Mott Street ở Phố Tàu New York vì bà thích ăn cơm Tàu. Phòng Hành chính Dinh Độc Lập còn đặt những món ăn hấp dẫn từ nhà hàng Bát Đạt ở Chợ Lớn cho bà thưởng thức.
Nhưng chẳng ăn thua gì. Bà ta chỉ nhoẻn miệng cười, rồi ngồi yên, làm như không nghe tôi nói gì.
Sau vài ly rượu vang dường như để cho mạnh giọng lên, Tổng thống Thiệu đứng lên đọc bài diễn văn vào lúc sắp kết thúc:
“Trong hai mươi năm qua, nhân dân Miền Nam đã được nghe đi nghe lại lời nói của năm vị tổng thống Hoa Kỳ, thuộc cả lưỡng Đảng.
Những lời đó đã được các vị dân biểu nước Mỹ liên tục ủng hộ, là Hoa Kỳ quyết tâm cung cấp cho Việt Nam Cộng Hòa đầy đủ viện trợ chừng nào họ còn sẵn sàng chống lại sự xâm lăng của cộng sản để bảo vệ tự do của họ.
Lời cam kết đó đã được nhắc lại một lần nữa trong dịp ký kết Hiệp định Paris.
Vấn đề giản dị là như thế này: 'Liệu những lời cam kết ấy của Hoa Kỳ có còn giá trị nào không?' Đó là thông điệp tôi muốn quý vị chuyển tới Đại hội thứ 94 của Quốc hội Hoa Kỳ.”
Rồi dường như không kiềm chế nổi, ông đi ra ngoài bản văn đã soạn và nhấn mạnh từng chữ:
“Tôi xin phép được ngợi khen những người bạn đích thực của chúng tôi đang hiện diện ở đây về sự khôn ngoan và tầm nhìn xa của họ. Tôi xin phép được nhắc lại ở đây ý nghĩa của một câu ngạn ngữ Việt Nam: Quà tặng đã quan trọng, nhưng cách tặng quà còn quan trọng hơn nhiều."
Chắc bà Abzug chẳng nghe thấy câu này vì bà dường như đã ngủ say trên bàn tiệc, sau mấy ngày ngược xuôi đi tìm chứng cớ chống viện trợ. Bà gục đầu xuống, cái cằm mỡ chạm tới ngực. Mặt bà đờ đẫn, chẳng còn để ý tới người chủ tiệc đang đứng nói gì.
Không khí buổi tiệc thật căng thẳng. Bỗng một cơn gió mạnh thổi thốc qua lớp cửa kính lớn mở ngỏ. Những ngọn nến trên các chúc đài cao bằng bạc trên bàn tiệc theo nhau phụt tắt. Nến rớt vung vãi. Gió tiếp tục thổi. Lớp màn cửa mỏng màu trắng (sau màn vàng) tung bay lất phất, trông như những lá cờ đầu hàng.
“Một điềm gở đấy,” tôi ngoảnh mặt sang thì thầm với ông Philip Habib, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ. Habib gật đầu như đồng ý.
Đó là quang cảnh bữa tiệc buổi chiều ngày 1/3/1975 tại Dinh Độc Lập. Tòa nhà này: từ khi Dinh Toàn quyền Đông Dương thời thuộc địa – gọi là Dinh Norodom - được Tổng thống Ngô Đình Diệm thu hồi và đổi thành Dinh Độc Lập thời Đệ nhất rồi tới Đệ nhị Cộng hòa, đã chứng kiến biết bao nhiêu biến cố, bao nhiêu buổi hội họp lịch sử, cùng với những buổi tiếp tân, những bữa tiệc chiêu đãi quan khách.
Dip khoản đãi Phái đoàn Quốc hội Mỹ chiều thứ Bảy, ngày 1/3/1975, là bữa tiệc chót ở khuôn viên lịch sử này.
Đây cũng là cử chỉ trang trọng cuối cùng của Miền Nam Việt Nam đối với một nước đồng minh sau 20 năm kết nghĩa xương máu.
Qua đặc vụ, chắc chắn Bộ chính trị ở Hà Nội đã theo dõi sát sao cuộc viếng thăm của phái đoàn Quốc hội từ đầu cho đến cuối để quyết định xem có nên khởi động ngay tức khắc cuộc tổng tấn công Miền Nam hay không.
Về tới Washington, phái đoàn đã không đạt được đồng thuận nên Quốc hội vẫn quyết định cắt thêm 300 triệu đô la viện trợ quân sự. Và đây là tín hiệu bật đèn xanh rõ ràng nhất cho Miền Bắc, sau khi các tín hiệu khác đã liên tục nhấp nháy từ khi Phước Long thất thủ.
‘Chiến dịch Tây Nguyên’
‘Tây Nguyên’ là miền đồi núi mà Miền Nam gọi là Cao nguyên Trung phần. Theo Đại tướng Văn Tiến Dũng ghi lại trong hồi ký Đại Thắng Mùa Xuân (1977) thì “Việc chọn lựa địa điểm nào để mở màn chiến dịch này lại là một để tài tranh luận tại Hội nghị (của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương).” Nhưng sau cùng đã “chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp nơi năm 1975.”
Khi thái độ của phái đoàn Quốc hội Mỹ đã rõ rệt, Bắc Việt đợi cho họ rời khỏi Sài Gòn rồi mới bắt đầu khởi động. Hai ngày sau khi phái đoàn đã về tới Washington bình yên, sáng ngày 4/3/1975, quân đội Bắc Việt mới tiến quân để chốt lại Quốc lộ 19 giữa cao nguyên và vùng duyên hải.
Về địa thế thì trước đây người Pháp luôn quan niệm rằng: bên nào giữ được vùng cao nguyên thì giữ được vùng duyên hải Trung phần, và trong việc giữ cao nguyên thì bằng mọi giá phải giữ cho được Quốc lộ 19 giữa An Khê và đèo Mang Yang. Liên đoàn lưu động số 100 của Pháp (từng có kinh nghiệm ở chiến tranh Triều Tiên) đã bị tiêu diệt hoàn toàn ở nơi đây, rồi quân trú phòng ở Kontum cũng phải rút về Pleiku. Trong cuộc chiến 1965-1973, hoạt động của quân đội Bắc Việt cũng thường tập trung vào khu vực Kontum-Pleiku, nơi có những trận đẫm máu như Pleime, Ia Drang, Dakto.
Một tuần sau khi chốt Quốc lộ 19, ngày 10/3/1975, quân đội Bắc Việt khai hỏa ở Ban Mê Thuột vào lúc 2 giờ sáng.
Nơi đây, lực lượng của VNCH chỉ có khoảng 3.000 quân đồn trú, trong đó phần lớn lại là thành phần hậu cần của sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, nghĩa là không phải hoàn toàn là thành phần tác chiến. Dù vậy, khi bị tấn công ào ạt, quân trú phòng vẫn chống trả mạnh mẽ, và ban ngày với sự yểm trở của không quân, đã phản kích quyết liệt. Tuy nhiên, trước sức mạnh áp đảo – với hơn 3 sư đoàn bộ binh và thiết giáp cùng với pháo binh yểm trợ, quân đội Bắc Việt đã làm chủ được thị xã Ban Mê Thuột vào lúc 11 giờ sáng ngày 11/3/1975.
Xem như vậy, đối với VNCH, cuộc họp nảy lửa Việt-Mỹ tại Dinh Độc Lập ngày 28/2/1975 quả là một hồi chuông báo tử vì đã phát đi tín hiệu bật đèn xanh thật rõ ràng.

* Bài viết thể hiện quan điểm của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Ông là tác giả cuốn 'Khi Đồng minh Tháo chạy' và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh. Hiện ông định cư tại Virginia, Hoa Kỳ.

Friday, March 22, 2024

BỐN MƯƠI NĂM NGÀY NHẬP CUỘC

 

 Trần Ngọc Nguyên Vũ

Cho dù rằng có ai trong chúng ta đã đi trọn quãng đường trần, thì khi nhìn lại cả một đời mình, cuối cùng rồi cũng chỉ như là một thoáng mây bay… Nhưng với 40 năm ngược xuôi trong cuộc sống, chắc hẳn chúng ta cũng đã để lại cho nhau nhiều kỷ-niệm… Mà kỷ-niệm thì bao giờ cũng bắt đầu từ ở một khoảng thời gian nào đó, và trong một khoảng không-gian nào đó của con người, và trong cuộc đời của chúng ta thì có biết bao nhiêu là nơi chốn mà chúng ta đã dừng chân, nơi nào cũng trân qúy, nơi nào cũng đầy ắp những tình-cảm mến thương nói sao cho hết… 

Và cuộc sống của chúng ta, dầu muốn dầu không, thì nó cũng đã gắn liền với số-phận nổi trôi của đất nước, bồng-bềnh như những đám mây trời vô định, biết dừng lại nơi đâu để kể lể tâm-tình…Nhưng dù có dừng lại ở đâu đi chăng nữa, thì chúng ta cũng chẳng thể nào quên được một nơi mà hơn một lần trong đời chúng ta đã đến…

…Quang Trung, Thủ-Đức, Nha-Trang, Đà-Lạt đó! Cái mốc của nơi chốn và thời gian đã in dấu chân hồ hải của những người trai từ các nẻo đường đất nước tụ về…Kẻ trước người sau, quỳ gối dưới ánh nến lung-linh trong gian vũ-đình-trường cao rộng, giơ tay thốt lên một lời thề cho Tổ-Quốc, Danh-Dự và Trách- Nhiệm, và sau đó đã khoác lên mình bộ áo của những người được mang danh là Người Lính VNCH… Rồi chia tay nhau để bung tỏa ra khắp bốn phương trời, mỗi người gánh trên vai một định-mệnh riêng biệt của đời mình, cùng với định-mệnh khắc-nghiệt chung của dân-tộc… Bây giờ thì đã 40 năm trôi qua; dù rằng cái khoảng thời gian của một phần đời người đã mất có làm phai nhạt đi ít nhiều những mầu sắc trong cuộc sống, nhưng có ai trong chúng ta mà không nhớ đến cái giây phút của một lần cuối cùng gặp gỡ…

…Ðể coi nào… Cái lần cuối đó chúng ta đã gặp nhau ở đâu nhỉ? Có phải chúng ta đã gặp lại nhau trong một phi-vụ Bắc phạt trên vùng trời Vĩnh-Linh vần vũ, căng thẳng qua những đường bay sấm sét, để rồi sau đó lúc trở về, trong hợp đoàn xuôi Nam, anh đã bay lui lại thật xa… xa lắm… như để chiêu-niệm cho chiếc số hai vắng bóng… Hay là vào một buổi chiều nào nhạt nắng, ngồi trong chiếc quán lá cheo leo nơi ghềnh đá, trên bờ sông Cửu-Long. Bên này là Nakhon Phanom của Bắc Thái, bên kia là buôn Thakhet của vương quốc Lào, anh đã chia sẻ cùng tôi sự lo âu về những hiểm nguy, bất trắc có thể xẩy ra cho phi-vụ vượt biên trong đêm, bỏ lại một dòng sông nơi có những cô Nòong Sảo đang đùa nghịch, phơi bầy tấm thân trần trong làn nước lạnh…

Tôi cũng còn nhớ chúng ta đã gặp lại nhau tại Ðà-Nẵng với đỉnh Sơn-Chà quanh năm mây trắng phủ trong dịp Tết Mậu-Thân tang tóc thuở nào, để thấy anh hiên-ngang hiến dâng hơn nửa phần thân thể của mình cho đại-cuộc… Hay vào một đêm không trăng sao, trước khi rời tần số của Panama đài, anh đã chẳng kịp nói với tôi một lời giã biệt, âm thầm bỏ lại cả một bờ cát dài quằn-quại nằm nghe trùng dương gào thét… Hay một buổi trưa buồn hiu-hắt, trên sân bay Cam-ly với những đám mây chĩu nặng tâm tình của vùng núi đồi trầm lặng, mình đã cùng nhau khiêng chiếc quan-tài của người trai anh-dũng đã hy-sinh, vừa được thiên táng giữa vòm trời lửa đạn, để trả lại những kỷ-vật của anh về với vòng tay ấp ủ ngàn đời của mẹ Việt Nam yêu dấu… Hay là vào một buổi chiều âm-u sương, khói đạn của một Mùa Hè Ðỏ Lửa năm nào trên đỉnh ngọn Charlie dậy mùi tử-khí. Trong khi rời vùng, anh đã bình-thản nhận lệnh C&C, quay lại miền đất chết, leo xuống sợi giây thừng ngắn ngủi, từ chiếc trực-thăng lơ-lửng giữa trời, để thòng cánh tay rắn chắc cho tôi nắm lấy, rồi chúng ta cùng đong đưa trong làn mưa đạn của quân thù, trước cặp mắt ngơ-ngác của tử-thần…

Cũng có thể chúng ta đã gặp nhau dưới mái tôn nóng bỏng trong một hangar nào đó, ngổn ngang những đầu máy, những thân xác phi-cơ ghim đầy lỗ đạn ở Phù-Cát, Phan-Rang, hay PleiKu, Tân-Sơn-Nhất, Biên-Hòa, Bình- Thủy… anh đã đưa bàn tay đầy dầu mỡ, nắm lấy tay tôi trao đổi đôi lời tâm- sự… Rồi tới cái buổi quay lưng… Trước khi cất bước, tôi đã thấy anh quắc mắt thốt lên một lời thề cho ngày trở lại…

…Tất cả những hình ảnh nhạt-nhòa đó dường như còn đang lẩn-khuất đâu đây trong dòng thời gian cuồn cuộn chẩy… Anh Lính VNCH ơi, bây giờ anh đang ở đâu? Có phải anh đang cô-đơn xoải cánh giữa vùng trời mịt mù giông bão, hay đã dừng chân nơi chốn lạ, và đêm về anh có nghe thấy những ưu-tư khắc-khoải của cố-nhân… Còn tôi, tôi vẫn nhớ ngày hôm ấy, nhớ cả khung trời mây trắng bay… và chỉ mong được một lần gặp gỡ để cùng nhau làm nốt cái chuyện ngày xưa, mà vì nghịch-cảnh chúng ta đành dang-dở…

…Anh Lính VNCH ơi! 40 năm trời biền biệt… nổi trôi theo với dòng đời của một thời luân lạc… 40 năm trời miệt-mài đi trên con đường thiên lý có bao giờ anh dừng chân nơi một quán nước bên đường để được thấy, và nghe những biểu-tượng, và lời tự-tình dân-tộc. Những lời tình-tự thầm-lặng mà nghe như vang-dội cả một bầu trời… với tiếng vọng thiết-tha của những người đã từng thầm yêu và ngưỡng-mộ cái hào-khí của Người Lính VNCH:

Công Chúa Ngọc-Hân mơ Nguyễn-Huệ

Bởi say sự nghiệp khách anh hùng
Tôi ước sao người trai nước Việt

Sẽ là những bậc Nguyễn Quang-Trung (1)

…Tiếng vọng mênh-mông cơ hồ như sương khói, bàng-bạc ôm phủ lòng người Không-Quân viễn xứ… Ðến bao giờ thì chúng ta đáp lại khát vọng này của cố-nhân?

…Thôi thì… đêm nay chúng ta hãy thả hồn phiêu bạt, tạm dừng ở một nơi nào đó trên cái vùng đất mà ngày xưa chúng ta đã đến… Ðể có thể gặp lại những con người của một thời ly loạn, đã từng gắn bó đời mình với vùng trời quê-hương mịt mù khói lửa… Ðể chiêm-ngưỡng cái hào-khí của những người trai trẻ nhìn đời bằng những tia nhìn khinh bạc, lạnh lùng leo lên chiếc quan tài bay, lao mình vào vùng trời lửa đạn, bỏ lại một ngày cho đời mình, một ngày cho những quằn-quại đau thương của dân-tộc, và một ngày cho những đôi mắt vời vợi chờ trông nơi chốn chân mây ở tận cuối trời… Và đêm nay, hãy dừng lại ở một nơi nào đó thật yên lặng, cho lòng lắng xuống, để thấy xót-xa cho kiếp hồng-nhan của những người vợ, của những người tình, đã dắt dìu nhau qua suốt một quãng thời gian, dọc theo với chiều dài của dòng sinh-mệnh, chưa từng hưởng trọn được một ngày vui, nhưng vẫn một dạ sắt son, một lòng gắn bó cho đến phút cuối đời… Và xin hãy dừng lại một nơi nào đó để nghe những vần thơ cổ:

Hồn tử-sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh-phu trăng dõi dõi soi
Chinh-phu tử-sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn (2)

Những vần thơ u-uất như một luồng âm phong thổi luồn qua con đường độc đạo từ Phú-Bổn dẫn vào tử lộ 7… Thoát ra cổ thành Quảng-Trị, trườn mình trên đại-lộ kinh hoàng, quật ngược trở về Huế, Lăng-Cô, leo lên chót đỉnh của Ải-Vân Quan rồi cuồn cuộn đổ xuống Ðà-Nẵng, Pleiku, Kontum, lẩn khuất ngược nguồn theo với dòng Dabla huyền-hoặc… Quấn lấy Phù-Cát, Phan-Rang, Nha-Trang, Ban-Mê-Thuật… Phủ trùm lên Sài-Gòn, Biên-Hòa, Bình-Thủy, và trải dài đến tận Sóc-Trăng, Châu-Ðốc, Cà-Mâu, Phú-Quốc, để rồi biến mất vào với quãng trống vắng vô tận của vùng núi rừng trùng điệp… Một quãng trống không có khoảng cách của thời gian và không- gian… Nó cứ hun hút chìm sâu vào trong cùng thẳm tâm hồn của người còn lại, khi nhắc đến những người đã từng một thời được gọi là Anh Lính Chiến VNCH… Những người lính chiến đã hiên-ngang nằm xuống làm viên gạch lót đường cho đồng bạn các anh tiếp tục cất bước…Những người đã chẳng còn bao giờ nhìn thấy cái thành, cái bại thường tình của thế- nhân…

…Các Anh Lính VNCH của vùng trời quê-hương ngày xưa ơi! Các anh có nghe gì không? Ðêm nay, bạn bè, thân nhân các anh đứng đó, đang nâng niu từng giọt âm-thanh chân thành nhắc đến những tên tuổi thân thương của một thời mà mãi mãi chẳng bao giờ phai mờ trong tâm khảm… Ðêm nay dù rằng bên ngoài không có ánh trăng soi đường cho hồn tử-sĩ, nhưng đã có những ánh nến huyền-ảo được thắp lên bằng cả một khối chân tình của những tri-kỷ để đón các anh về tự cõi hư-vô…

…Ðêm nay, ngoài thân nhân, bạn bè đồng đội của các anh, những người đã cùng các anh chung lưng sát cánh, còn có những người đã từng hơn một lần thầm yêu, và ngưỡng-mộ cái hào-khí của các anh… Những Người Tình Chưa Một Lần Hò Hẹn mà ngày xưa đó, đã gởi đến các anh những tiếng thổn-thức thầm lặng của con tim, thì bây giờ đây, lại thêm một lần nữa thầm lặng gởi đến các anh một vòng hoa tưởng-niệm. Vòng hoa gói trọn ân-tình bằng những lời yêu thương thầm kín của Một Người Ái-Mộ Lính…

…Còn chúng ta, những Người Lính của QLVNCH còn lại… Ðến bao giờ thì chúng ta sẽ cùng nhau trở về vùng trời quê-hương yêu dấu bằng những chuyến bay chất đầy Hào-Khí Của Tiền-Nhân? Và của những người đang:

…bao năm mài gươm dưới nguyệt
Mà tưởng nghe hồn thép réo sông sâu… (3)

(Miền đất tạm dung. Mùa tưởng-niệm!)

Trần Ngọc Nguyên Vũ

Chú Thích: (1) Thơ Ngân-Giang
(2) Chinh Phụ Ngâm
(3) Thơ Vũ H. Chương