Friday, July 7, 2017

CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI CHẠY TRỐN CỘNG SẢN

  1954-1955


Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau: 

Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:
- Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.
- Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài  lưới.  
- Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc. 
- Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.  
- Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …
 
        Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ. 
Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
Đây là một thành công lớn về mặt xã hội của chính quyền VNCH.
Trong những năm 1955–1956. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:
- Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.
- Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.
- Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.
- Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.
- Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.
Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.
 
Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada. 
 
Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.
 
Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát.  Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư".  Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.
 
Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.
 
 
Tiến trình
Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.
 
Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư.  Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế. 
Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập.  Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.
 
            Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.  Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.
 
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.
 
         Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ.  Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam. 
Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.

Ngô Đình Châu



Saturday, May 27, 2017

VIỆT NAM CỘNG HÒA : CHÍNH THỂ HAY " NGỤY QUYỀN" ?


Lê Vĩnh  
 
Hai mươi năm trước, trong một bài viết về tranh chấp ở Biển Đông đăng trên báo Far Eastern Economic Review ngày 10/2/1994 (1), ký giả Frank Ching đã thuật lại lời khẳng định của nhiều quan chức cao cấp Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vào thập niên 50 của thế kỷ trước rằng: “Hoàng Sa – Trường Sa, theo quan điểm lịch sử, là thuộc về Trung Quốc”, cùng với dẫn chứng bức công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Frank Ching cũng nhận xét: “Trong những ngày đó, chế độ Hà Nội rất hăng hái trong việc lên án chính quyền miền Nam, cho họ là những con rối của Mỹ, là những kẻ đã bán đứng quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngay cả lúc đó, một điều rõ ràng là những lời cáo buộc này đã không có căn cứ. Bây giờ, 20 năm sau -1994-, cũng lại một điều rõ ràng là đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thật sự đứng lên cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn xa chính quyền tại Hà Nội.”

Ký giả Frank Ching kết luận bài viết đó như sau: “Những gì xảy ra ngày hôm nay liên hệ đến hai quần đảo này (HS-TS) chỉ là hậu quả của sự trí trá của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ. Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã muốn chơi đểu để lừa dối Trung Quốc. Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào tránh được Trung Quốc trong khi họ phải bắt chước theo chính sách ’đổi mới’ của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.”
 
Trở về hiện tại, năm 2014, với biến cố giàn khoan HD981 của Trung Cộng vẫn còn đang nóng hổi, tất cả những gì Frank Ching đã viết từ 20 năm trước lại đang được lập lại. Điều khác biệt duy nhất lần này là: 20 năm trước, với sự bưng bít thông tin vô cùng chặt chẽ của nhà nước CSVN rất ít người biết đến những bằng chứng như bức công hàm Phạm Văn Đồng dù những điều này đã được truyền thông bên ngoài Việt Nam đề cập đến nhiều lần; nhưng với thời đại Internet ngày nay, CSVN không thể nào che giấu được nữa nên đã phải chính thức công bố công hàm Phạm Văn Đồng. Từ đó, họ cũng phải đưa ra luận điểm HS-TS không thuộc quyền quản lý của Miền Bắc. Và vì thế bắt buộc phải nhìn nhận Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) — một chính thể mà suốt 60 năm qua Hà Nội đã không ngớt mạ lỵ bằng đủ mọi ngôn từ hạ cấp. Những người lãnh đạo VNCH bị Hà Nội gọi là “thằng này thằng nọ”, “tên này tên kia”.
 
Nhân diễn biến mới này cùng với nhiều dữ kiện lịch sử khác đã lộ ra ánh sáng, thiết tưởng đã đến lúc cần đặt câu hỏi toàn diện cho các thế hệ mai sau.
 
VNCH: chính thể hay ngụy quyền?
 
Trước hết, nhìn từ mắt thế giới bên ngoài, khó ai có thể phủ nhận một thực tế lịch sử là đã từng có một chính thể đại diện cho một nửa nhân dân và tổ quốc Việt Nam ở phía Nam vĩ tuyến 17. Chính thể này được phần lớn các quốc gia không cộng sản trên thế giới công nhận. Thật vậy, tính đến năm 1975 chính thể này đã được 87 quốc gia trên thế giới công nhận và lập bang giao chính thức (2), 6 quốc gia ở cấp bán chính thức (3). Trong khi đó, chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tại miền Bắc, tính đến năm 1972 chỉ được 49 quốc gia thừa nhận (4) và không thay đổi gì tính đến 1975.
 
Ngay cả nếu xét theo chính định nghĩa của đảng CSVN về một chính thể thì càng vô cùng khó phủ nhận vai trò của VNCH. Một trong những tài liệu học tập lâu năm cho cán bộ cấp cao CSVN là quyển giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật của nhà xuất bản Công An Nhân Dân (5). Theo họ các điều kiện đủ để gọi một quốc gia, một chính thể là: 1/ Có lãnh thổ, quản lý trên một vùng lãnh thổ; 2/ có dân cư; 3/ có pháp luật; 4/ Thu thuế; 5/ Có bộ máy, chính quyền, tổ chức quân đội….; 6/ Có chủ quyền quốc gia (tham gia đàm phán quốc tế, và được quốc tế công nhận). Cả 5 điều kiện đầu đã quá rõ. Riêng điều kiện thứ 6 thì VNCH còn vượt xa VNDCCH. Lúc đó chính quyền ở miền bắc chỉ là thành viên của các cơ chế thuộc phe xã hội chủ nghĩa gồm 11 quốc gia, mà đến nay gần như tất cả đều đã biến mất; còn VNCH đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (6) Chỉ sau khi chiếm được miền Nam nhiều năm, chính quyền cộng sản mới gia nhập những tổ chức quốc tế đó thay chân VNCH.
 

Còn câu hỏi về bản chất “ngụy quyền” thì sao? Hiển nhiên khi dùng từ ngữ mang tính phỉ báng này, giới lãnh đạo CSVN muốn nói rằng VNCH chỉ là một chính phủ bình phong, tay sai, hay ngay cả bán nước cho “đế quốc Mỹ” hay thế giới tư bản. Nhưng thực tế đã ngày càng rõ. Rất nhiều người trong nhiều năm lục lọi khắp nơi, kể cả các văn khố buộc phải giải mật theo đúng qui định của luật Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Act) tại Mỹ, đều không có chứng cớ phản quốc nào. Khi thế giới Internet nở rộ, mấy năm trước đây một diễn đàn nổi tiếng là X-Càphê đã mở một chiến dịch khá lâu để tìm kiếm những bằng chứng xem VNCH có một văn bản “bán nước” nào tương tự như công hàm Phạm Văn Đồng không. Sau nhiều tháng cố gắng, không ai tìm được văn bản nào cả. Và trong suốt 20 năm hiện hữu, một dữ kiện lịch sử hiển nhiên là VNCH đã không để mất bất kỳ phần lãnh thổ nào của đất nước ngoại trừ quần đảo Hoàng Sa sau khi chống cự mãnh liệt. Trong thời VNCH không hề có chuyện dâng nhượng đất biên giới trên bộ, dâng nhượng hải phận ngoài khơi, cho “mướn” các khu rừng biên giới 50 năm, v.v…
 

Nhưng những điểm nêu trên chỉ mang tính định nghĩa. Điều còn quan trọng hơn nữa là chính thể VNCH đã làm được gì cho đất nước và xã hội.

VNCH: có làm đúng trách nhiệm của một chính phủ không?
 
Trách nhiệm lớn nhất của một chính quyền là phải bảo vệ đất nước và người dân. Trong suốt thời gian hiện hữu, chính phủ VNCH đã xem trách nhiệm này như thế nào? Hiển nhiên một bài viết ngắn ngủi loại này không thể liệt kê các nỗ lực suốt 20 năm, dù chỉ viết tổng quát, nhưng có lẽ một thí dụ sau đây có thể minh họa phần nào ý thức của chính thể VNCH về nhiệm vụ bảo vệ đất nước:

Với sức mạnh quân đội dồn hầu hết vào không quân và bộ binh, Hải quân VNCH chỉ có một số chiến hạm chiến đỉnh khiêm tốn, nhưng tất cả đã được trưng dụng vào mục tiêu bảo vệ từ sông đến biển của tổ quốc ngày đêm, chứ không “bám bờ” hay thỉnh thoảng khoe đã đi “tuần tiễu chung” với hải quân (kẻ thù) Trung Cộng như ngày nay. Trong số những vòng canh từ biển khơi vào bờ, chỉ có vòng viễn dương do đệ thất hạm đội Hoa Kỳ phụ trách; còn các vòng khác từ viễn duyên, cận duyên, đến sông lạch chằng chịt đều do Hải quân VNCH trách nhiệm. Hệ thống radar của các vòng canh trên kèm với các đài kiểm báo, không tuần (của Hải quân VNCH) đan chen nhau chặt chẽ nên rất hiếm có trường hợp tàu lạ xâm nhập qua được mạng lưới này. Việc bảo vệ chủ quyền cũng vượt trên mọi lý do khác. Các tàu đánh cá Thái Lan vi phạm hải phận Việt Nam đều bị bắt đưa về Phú Quốc hay Kiên Giang (7) bất kể Thái Lan đang là một đồng minh quan trọng.
 
Về trách nhiệm phát triển đất nước, mặc dù chính phủ VNCH hàng ngày phải đối diện với cuộc chiến tranh tàn khốc suốt 15 năm (từ 1960 đến 1975), nhưng các nỗ lực phát triển đã khá thành công trong mọi phương diện, từ giáo dục đến kinh tế, nông-lâm-ngư nghiệp, công kỹ nghệ, thương mại, v.v.. Những điều này đã được các học giả cả Việt Nam lẫn quốc tế thu thập để so sánh sức phát triển giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam khi họ làm các khảo sát tương tự để so Tây Đức và Đông Đức, Nam Hàn và Bắc Hàn, Đài Loan và Trung Cộng. Trong bài viết ngắn ngủi này, tác giả chỉ xin nhắc lại một vài lãnh vực đặc sắc nhất.

Với định hướng “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, nền giáo dục VNCH cho đến nay vẫn tiếp tục là niềm nuối tiếc của nhiều người, đặc biệt khi nhớ lại những chiến dịch tập trung đốt sách của nhà cầm quyền CSVN trong thời gian ngay sau tháng 4/1975. Ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt đã kể lại rằng: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi.”
 
Kỷ luật học đường, vai trò của thầy cô, tinh thần ham học của cả nước, trình độ của sách giáo khoa, và giá trị của các bằng cấp thời VNCH đều được cả xã hội duy trì và đòi hỏi chính phủ phải duy trì. Tuy là nước nhỏ, nghèo và chiến tranh triền miên, các bằng cấp của trường lớp Việt Nam được các đại học lớn trên thế giới công nhận. Những sinh viên được tuyển chọn đi du học thời đó thực sự là những tinh hoa tương lai của đất nước.
 
Và cũng trong những ngày tháng liên tục khói lửa đó, chính thể VNCH đã ra sức xây dựng nền tảng pháp quyền. Dù có bị hạn chế ít nhiều bởi chiến tranh nhưng các quyền căn bản của con người đều có, từ tự do báo chí, tự do tôn giáo, đến tự do lập hội. Ngay cả quyền của các cá nhân và đảng phái đối lập cũng được luật pháp bảo vệ. Trong thời gian gần đây, ông Lê Hiếu Đằng kể lại việc ông được học luyện thi tú tài trong tù và được cảnh sát chở từ phòng tù đến phòng thi như thế nào. Bức hình chụp cảnh bà Ngô Bá Thành tuyệt thực sau đây cũng giúp mọi người hình dung được những người đối lập với chính quyền VNCH vẫn được luật pháp bảo vệ như thế nào.
 

Các cuộc bầu cử ở mọi cấp, từ tổng thống đến xã trưởng, đã được liên tục thực hiện khá tự do, trong sáng, và công bằng bất kể “quân giải phóng” luôn cố gắng gài mìn các phòng phiếu để răn đe người đi bầu. Đặc biệt sự độc lập giữa 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp là một thực tế chứ không phải bánh vẽ trong các bộ luật. Tác giả Hạ Đình Nguyên trong một bài viết cách đây khoảng một năm đã thuật lại một chuyện có thật và có nhiều người biết. Đó là chính tổng thống VNCH đến trụ sở Tối Cao Pháp Viện yêu cầu toà án kết án những nghi can “thân cộng” (mà sau 1975 các nghi can đó đều lộ dạng là cộng sản thật) nhưng đã bị từ chối. Hơn thế nữa, cơ chế Tối Cao Pháp Viện của thể chế VNCH còn có thẩm quyền truất phế Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, v.v. khi chứng minh được các nhân sự đó phạm tội phản quốc, tức tương đương với những vụ như ký công hàm Phạm Văn Đồng hay đi dự Hội nghị Thành Đô, v.v.
 
Về mặt xã hội, dù nay đã bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21 nhưng nhà cầm quyền Hà Nội vẫn sợ hãi sinh hoạt xã hội dân sự. Trong khi đó thì 60 năm trước, dưới thời VNCH các đoàn thể xã hội dân sự đã phát triển rất đa dạng (một cách tổng quát, xã hội dân sự bao gồm các đoàn thể không thuộc chính phủ mà cũng không thuộc giới kinh doanh). Những đoàn thể xã hội dân sự này đã đóng góp rất lớn cho xã hội từ văn hoá đến giáo dục, y tế, tương trợ, giúp đỡ nạn nhân thiên tai, nạn nhân chiến cuộc. Nhiều người còn nhớ những đoàn thể có tên tuổi trong ngành công tác xã hội như Cô nhi viện Dục Anh, Cô nhi viện Quách Thị Trang, Trại giáo hóa thanh thiếu niên phạm pháp Thủ Đức, Viện dưỡng lão Thị Nghè, Trung tâm hướng nghiệp Vườn Lài, Quán cơm xã hội Anh Vũ (phát cơm cho người nghèo). Những đoàn thể tiêu biểu khác là Hội Hồng Thập Tự, Hướng đạo Việt Nam, Trường Bách khoa Bình dân, nhóm Thanh niên Phụng sự Xã hội và Gia đình Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Thiếu nhi Thánh thể và Thanh Sinh Công của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Phong trào Du ca Việt Nam, Hội Thanh niên Thiện chí, v.v.
 
Trước các vấn nạn lớn của đất nước, người dân tự động tham gia góp phần cùng lo lắng, cùng báo động, cùng góp ý giải quyết chứ không chờ xin phép ai. Một trường hợp điển hình là Tập San Sử Địa thời đó. Đây là một tập san sưu tầm, khảo cứu chuyên ngành do nhóm giáo sư, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn tự đứng ra thực hiện, phát hành mỗi 3 tháng. Toàn bộ Tập San Sử Địa gồm 29 số, được phát hành từ năm 1966 cho tới tháng 4 năm 1975 thì bị cấm (8). Số cuối cùng “Đặc Khảo về Trường Sa và Hoàng Sa”, thu thập và trình bày nhiều tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này mà hiện nay nhà nước CSVN đang phải dùng tới.
 

VNCH: Thêm một tiến thoái lưỡng nan cho lãnh đạo đảng CSVN
 
Đối diện với các bước xâm lấn ngày một trắng trợn của Bắc Kinh và trước các chứng tích bảo vệ đất nước không thể chối cãi của các chiến sĩ VNCH, lãnh đạo đảng CSVN đã thấy quá khó để tiếp tục gọi họ là “ngụy quyền bán nước”, đặc biệt sau khi mấy đời lãnh đạo CSVN liên tục ký nhượng đủ loại chủ quyền cho Bắc Kinh suốt từ Hội Nghị Thành Đô 1990 đến nay. Loại bài bản “ngụy quyền bán nước” nay cũng trơ trẽn và tác dụng ngược như việc nhà cầm quyền này tống người biểu tình phản đối Trung Cộng vào trại phục hồi nhân phẩm để “giáo dục họ về lòng yêu nước”.
 
Hơn thế nữa, khi quá kẹt vụ công hàm Phạm Văn Đồng, không còn cách chối tội nào khác, lãnh đạo Đảng đành dùng luận điểm chống chế: 2 quần đảo HS -TS lúc đó thuộc quyền cai quản của “chính thể VNCH”. Đây là điều mà đảng CSVN đã cố tránh suốt gần 4 thập niên qua vì những hệ lụy sau đây:
 
Khi đã công nhận VNCH là một chính thể với đầy đủ thẩm quyền trước thế giới và lại xử dụng cả những chứng tích bảo vệ chủ quyền đất nước bằng xương máu của họ thì nhà cầm quyền CSVN cũng đương nhiên đã thừa nhận những luận điệu bôi nhọ VNCH “tay sai bán nước” là hoàn toàn dối trá. Và nếu VNCH không “bán nước” thì Hoa Kỳ cũng không thể là “đế quốc” tại Việt Nam.
 
Khi đã công nhận VNCH là một chính thể thì không thể tiếp tục phủ nhận cơ chế, sinh hoạt cũng như mức phát triển của xã hội bên dưới thể chế này. Và với những chi tiết đó, ai cũng có thể thấy đời sống của người dân tại miền Nam trong mọi lãnh vực từ nhân phẩm, nhân quyền đến các lợi ích giáo dục, kinh tế đều diễm phúc hơn đồng bào của họ tại miền Bắc. Do đó luận điệu “giải phóng miền Nam” cũng đương nhiên được thừa nhận là hoàn toàn dối trá.
 
Với 2 sự thừa nhận nêu trên thì lý do duy nhất còn lại của lãnh đạo CSVN khi nhất định đốt cả dãy Trường Sơn để “giải phóng” miền Nam chỉ có thể là: dùng máu người Việt cùng với súng Nga và đạn Tàu để mở rộng thế giới đỏ. Đúng như lời Tổng Bí Thư Lê Duẫn buột miệng nói ra trong một phút quá cao hứng sau ngày chiến thắng: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc!”

Cái công trạng “lãnh đạo toàn dân đánh Mỹ cứu nước” không những lập tức biến mất mà còn hiện ra một món nợ máu kinh hồn của hàng triệu sinh mạng người Việt Nam chỉ vì vài lãnh đạo Đảng thích cầm cờ đầu cho Mátxcơva và Bắc Kinh.

Chính từ sự giằng co giữa nhu cầu phải công nhận chính thể VNCH để thoát vụ công hàm Phạm Văn Đồng và nỗi sợ các hệ lụy của sự công nhận đó mà người ta thấy trong lúc báo chí công cụ nhắc đến “chính thể VNCH” và trận chiến Hoàng Sa nhưng công an lại được tung ra để phá hoại những buổi lễ của dân tưởng nhớ những người con anh dũng đó của đất nước. Công an sẵn sàng giở cả những trò hèn kém như đóng kịch cắt đá hay xông vào giật nhang, giật hoa, và gây sự để bắt bớ tại các buổi lễ tưởng niệm. Lãnh đạo đảng còn sợ đến độ tìm đủ loại lý cớ để bắt giam những người như blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm) để không chỉ đóng trang tổng hợp tin tức của anh mà còn để đóng cả trang Viết Sử Việt do anh chủ trương.
 
Nhưng có lẽ nhà cầm quyền CSVN đã quá chậm và quá trễ trong thời đại Internet hiện nay. Một xã hội nhân bản, một chính phủ có khả năng, và một thể chế yêu nước như thời VNCH đang là ước vọng của rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ mọi lứa tuổi và thành phần. Chính vì vậy mà trong mấy năm qua đã có những buổi biết ơn thương phế binh VNCH tại chùa Liên Trì, tại dòng Chúa Cứu Thế, và buổi lễ thành kính tưởng niệm những lãnh tụ và tướng lãnh VNCH đã hy sinh vì nước vì dân.
 
Với tình hình hiện nay, dù tìm đủ cách vặn vẹo, thoái thác, và trấn áp đảng CSVN vẫn ngày càng nhích gần tới lằn mức phải thừa nhận những hành động phản lại đất nước và những núi nợ xương máu dân tộc mà các thế hệ lãnh đạo đảng đã gây ra từ ngày thành lập cho đến nay — giống như tất cả các đảng cộng sản khác trên thế giới mà nhân loại đã ghi chi tiết trong cuốn Sách Đen Cộng Sản: Tội ác, Khủng bố, Đàn áp (The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression).
 
Liệu hàng ngũ đảng viên và thế hệ lãnh đạo đảng CSVN kế tiếp có muốn thừa kế cái di sản tội lỗi và các món nợ đó không? Nếu không thì phải làm gì?
--------------------------------------------------
Ghi chú:
 
(1) Paracels Islands Dispute By Frank Ching, Far Eastern Economic Review, Feb 10, 1994.
(6) Viet Nam Cộng hòa là thành viên trong một số tổ chức quốc tế như Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957); Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954); Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA; Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950); Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956)[25]; Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951); Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951); Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951); Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950); Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955),[26] Ngân hàng Thế giới (1956),[27] và Ngân hàng Phát triển châu Á (1966).
Năm 1957, Việt Nam Cộng hòa đứng đơn gia nhập Liên hiệp quốc do Hoa Kỳ đề cử. Đại Hội đồng (General Assembly) bỏ phiếu 40 thuận, 8 chống. Việc này chuyển lên Hội đồng Bảo an chung quyết. Liên Xô thì muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng gia nhập nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ việc này nên cuối cùng Liên Xô phủ quyết đơn của Việt Nam Cộng hòa
(7) Một thì dụ điển hình về việc bảo vệ tài nguyên quốc gia của Hải Quân VNCH là một tin đồn lan rộng vào khoảng mùa hè năm 1974. Tin đồn này cho rằng có một ngư trường (đàn cá) dài 30 cây số ở ngoài khơi Phan Thiết bị tàu đánh cá nước ngoài chặn bắt và báo chí (tương đối có tự do) đã thống trách chính phủ và hải quân VNCH rất nhiều. Cho đến khi có những nguồn tin độc lập xác nhận đó chỉ là tin đồn vô căn cứ thì sự thống trách này mới chấm dứt.

NGUỒN :  https://hon-viet.co.uk/LeVinh_VietNamCongHoaChinhTheHayNguyQuyen.htm

Tuesday, April 4, 2017

30THÁNG 4 NĂM 1975 ĐỘI QUÂN BẤT HẠNH

  Cuộc chiến đã kết thúc trên mặt trận súng đạn 42 năm. Nhưng sự thật vẫn đang bị bóp méo. Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Tuy nay chính phủ cũng như QLVNCH không còn nữa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.

Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Đã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.
Thế Chiến 2 kết thúc, Tòa Án Quốc Tế Nuremburg chỉ kết tội những đầu sỏ trong phe Trục mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ý-Nhật... Năm 1920, lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta bị người Ý bắt và tử hình, nhưng chính tổng tư lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Trao trả tù binh tại sông Thạch Hãn năm 1973

 Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị Cộng Sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có Cộng Sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Định Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.
Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân tị nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội.. cũng lợi dụng “ danh nghĩa người lính “ để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy “, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.

Trại tù binh chiến tranh Phú quốc 1973

 Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cộng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.




Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.

Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .

Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so.. sorry “. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nạn “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.

Đau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Đoàn 1 BB, Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Đoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Đại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968)




Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.



Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cộng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.




Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.

Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt Quốc Gia đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.

Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Đói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :

‘Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn .'

Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Đó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Bộ Binh Thủ Đức, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Đại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :

‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’ ’
(Chinh Phụ Ngâm Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô‘

Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH.



Năm 2017, Chú Nguyễn Vinh Huê, sinh năm 1952, từng là lính dù. Số quân: 72119058. Cha mẹ mất từ nhỏ, chú không có người thân, vô gia cư. Nghề nghiệp: đạp xích lô. Chỗ ở / ngủ / ăn /: trên xe xích lô. Hai bình nhựa đựng nước để nấu trà uống. Bếp ga mini để trên xe xích lô.



Năm 2017, "Lại là 1 Thương phế binh VNCH phải đi ăn xin...Tôi gặp bác giữa đường, ngay ngã tư chờ đèn đỏ. Ban đầu tôi chưa thấy bác vì với hình dáng thế này, bác bị che khuất bởi lượng người chờ đèn đỏ, tôi chỉ nghe tiếng loa bác đem theo đang phát bài cầu xin lòng trắc ẩn của người qua đường. Có vài thanh niên tốt bụng cho bác một chút tiền. Sau khi nhìn thấy bác, tôi biết ngay là bác là 1 TPB VNCH. Tôi có trò chuyện và hỏi bác có tham gia trên Dòng CTT ở Kỳ Đồng không? Bác bảo có nhưng 1 năm chỉ đi được 2 lần, nhà bác ở Tiền Giang. Sau khi trò chuyện, tôi biếu bác ít tiền với suy nghĩ rằng sẽ quay lại tìm gặp và giúp đỡ bác thêm. Tôi nói "Cháu cám ơn bác" (vì thế hệ của bác đã hy sinh nhiều cho cuộc sống của ông bà cha mẹ tôi một thời). Bác ngạc nhiên vì tôi nói cám ơn. Tôi ôm bác một lần trước khi chào tạm biệt. Nghĩ đến thời oai hùng của bác, những người như bác năm xưa và tình trạng của bác bây giờ, tôi đã khóc....". Chị Nguyễn Kim Anh gặp bác ở trạm dừng chân Mekong, gần bò sữa Long Thành.



15 chiếc M-113 của Quân lực VNCH đang chờ đợi để được bảo vệ nhà cửa và dân thường (bằng cách tấn công ngược lại) tránh các đợt pháo kích dữ dội của cộng sản Bắc Việt bắn vào Thủ đô Sài gòn ngày 9 tháng 5 năm 1968



Thảm Sát Xã An Lộc-Long Khánh
-Sau khi bị kháng cứ mạnh tại Long Khánh,CSBV ăn hai trái CBU Thiệt Hại Gần 1 Sư Đoàn,CSBV Điên Cuồng Bắn Giết Dân Trả Thù Vặt Vài Ngày Trước Khi Tướng Lê Minh Đảo Rút Quân Khỏi Phòng Tuyến Xuân Lộc -Long Khánh.
-20/04 Hàng Năm Dân An Lộc Làm Lể Giổ Mộ Tập Thể Do CSBV Thảm Sát Hàng Trăm Người Tại Đây

Anh ơi ! Tháng Tư về
Ngày ba mươi đoạn trường !
Anh nuốt hờn tủi nhục,
Em suối lệ trào tuôn.
Anh ơi ! Tháng Tư não nề
Tháng Tư cơn Quốc nạn
Trời đất cùng kinh hoàng,
Tháng tư phủ mầu tang.
“Tháng Tư về không chỉ là buông súng,
Ngày toàn dân phải trả giả ”hòa bình” .
Bằng tủi nhục bằng ngàn năm tăm tối,
Bằng đọa đày cả thế hệ tương lai .”
Tháng Tư ôi ! Nhục hình
Ngập trời cảnh điêu linh.
Khóc thương bao Anh Hùng,
Vì Tổ Quốc hy sinh.

Advertisement
NGUỒN :  http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=1055048