Wednesday, April 30, 2025
Saturday, April 26, 2025
CHO NGƯỜI NẰM XUỐNG TRÊN QUÊ HƯƠNG
Phan Nhật Nam
Cảm giác Sự Chết vốn sẵn có
từ lâu qua thân phận Người Lính trên Quê Hương Miền Nam Việt Nam. Đấy là Năm
1965, với cơn mưa u uất mùa hạ Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa
không đủ lớn, không dài lâu để cho ta có cảm giác được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa
âm âm, ngột ngạt làm bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị gồm Tiểu Đoàn
2, Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Bộ Binh; Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân; và Tiểu Đoàn 7
Nhẩy Dù với những người lính mà sức chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của
thùng đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để từng ngày
cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm,
lội xuyên rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, ghìm lại hơi thở dài nặng
nhọc... Tất cả những người lính cao thượng khắc kỷ vừa kể ra vào những ngày của
tháng 6 năm 1965 ấy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh xao
tanh tưởi... Những khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi trẻ của tuần, tháng trước
biến dạng thành những khối thịt ủng lầy máu sẫm, đất bùn đỏ, nhầy nhụa thêm bởi
thấm mưa của bao ngày nằm nơi đụng trận, một chốn gọi là xã Đồng Xoài, Quận Đôn
Luân, Tỉnh Bình Dương, nơi chỉ xa Sài Gòn khoảng năm-mươi cây số đường chim
bay.
Friday, March 21, 2025
HÒA BÌNH DANH DỰ VÀ SỰ PHẢN BỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA
“Nếu Bắc Việt vi
phạm Hiệp định chúng tôi sẽ tái oanh tạc”
(Richard Nixon)
Trọng Đạt
April 26, 2017

Đa số nhà nghiên cứu và chính khách Mỹ khi nói về sự sụp đổ của miền nam Việt Nam năm 1975 họ thường lập luận như sau:
- Giới lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa bè phái tham nhũng, không tìm được một giải pháp hòa bình cho đất nước họ.
- Các Tướng lãnh VNCH ít có ai đủ khả năng chỉ huy những đại đơn vị, khi trực diện với quân địch họ rút chạy hỗn loạn đưa tới sụp đổ.
- Khi Mỹ rút đi, họ không đủ sức chống Cộng Sản và thua trận, chẳng lẽ thanh niên của chúng ta phải tiếp tục chiến đấu cho họ mãi mãi tại Đông Dương hay sao?
- Chúng ta viện trợ cho họ máy bay, xe tăng, tầu chiến… nhưng họ không biết xử dụng sao cho có hiệu quả nên đã thất bại khi quân địch tới.
- Quân đội miền Nam chiến đấu kém hiệu quả, phải dựa vào hỏa lực
Mỹ…
Thậm chí giữa thập niên 2000 cựu Tổng thống Bush con bênh vực cho cuộc chiến Iraq của ông đã tuyên bố: Iraq sẽ không như Việt Nam, miền nam VN mất vì quân đội của họ không chịu đánh mà chỉ chờ Mỹ đánh dùm!
Nhiều người dựa vào thảm bại của cuộc triệt thoái Cao nguyên tháng 3-1975 để kết án ông Thiệu làm sụp đổ miên Nam chỉ trong vài tháng.
Có nghĩa là VNCH sụp đổ vì chính họ và Mỹ không có trách nhiệm, tuy nhiên gần đây nhiều nhà học giả Mỹ viết về chiến tranh VN có công nhận Quốc hội đã cắt hết nguồn tiếp liệu khiến VNCH phải đầu hàng địch. Họ cũng chỉ nhắc sơ vài hàng chứ không khai thác tỉ mỉ, nhiều nhà sử gia khác lờ đi không nhắc tới sự thật phũ phàng này.
Hiệp định bất bình đẳng
Giáo sư Larry Berman, một tác giả viết nhiều sách về chiến tranh VN (Planning a Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam; Lyndon Johnson’s War: The Road To Stalemate in Vietnam; No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam; Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter and Vietnamese Communist Agent.)
Có hai cuốn trong số các tác phẩm của ông được chú ý tới là Lyndon Johnson’s War: The Road To Stalemate in Vietnam – Cuộc Chiến Của Johnson, Con Đường Đi Tới Bế Tắc Tại Việt Nam, dầy 250 trang, in năm 1991 viết về chiến tranh thời TT Johnson những năm từ giữa tới cuối thập niên 60. Cuốn này nghiêng về quân sử, chỉ trích những sai lầm của Johnson trong chiến tranh hạn chế.
Sau đó là cuốn No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam- Không Hòa Bình, Không Danh Dự, Nixon, Kissinger Và Sự Phản Bội Việt Nam, dầy350 trang, in năm 2001. Đây là tác phẩm nổi tiếng của ông viết về giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh VN. Cuốn này nghiêng về chính trị, chú trọng về Hiệp định Paris ký ngày 27-1-1973.
Nó cũng là một trong những cuốn sách hiếm hoi của Mỹ đề cập tới sự phản bội miền nam VN. Với cái tên “Không Hòa Bình, Không Danh Dự, Nixon, Kissinger Và Sự Phản Bội Việt Nam”, tác giả đặt trách nhiệm lên hai nhà lãnh đạo Nixon và Kissinger, những người đã phản bội VNCH. Larry Berman nói về chủ đề của tác phẩm trong một số chương và ở phần Lời mở đầu (Prologue). Tôi xin sơ lược vài hàng, ông trình bầy vấn đề làm hai phần:
Trước hết cái gọi là Hiệp định Paris, Hòa bình danh dự của hai nhà chính khách này chỉ là để Mỹ rút quân, lấy tù binh, lừa cho ông Thiệu ký Hiệp định vô nghĩa, bảo đảm miền nam sẽ sụp đổ. Phần sau Berman nói đã tham khảo nhiều tài liệu giải mật được biết sự thực Hiệp định chỉ là hòa bình giả. Nixon, Kissinger khi ký Hiệp định chỉ chờ cho CSBV vi phạm để oanh tạc, tiếp tục cuộc chiến bằng không lực để giúp miền nam VN tồn tại, đây là hòa bình giả, đánh lừa dân Mỹ. Hai phần này mâu thuẫn nhau.
Quan điểm của ông về sự phản bội của Nixon, Kissinger nằm ở chỗ Hiệp Định Paris tháng 1-1973 để cho 150 ngàn quân BV được ở lại khiến VNCH không thể tồn tại (1). Rất nhiều người chỉ trích Nixon, Kissinger về chuyện này. Trước hết tôi xin bàn về số quân BV ở lại miền Nam: TT Nixon (2) nói sau trận tổng tấn công 1972, Cộng quân thua chạy (tháng 10-1972) nhưng còn đóng tại một số vùng thưa dân thuộc QK I và QK II, quân đội VNCH không đủ lực lượng để đẩy lui địch.
Theo tài liệu phía CS (Chiến dịch xuân hè 1972 - Wikipedia tiếng Việt) thì lực lượng của họ trong trận tổng tấn công 1972 gồm 14 sư đoàn và 26 trung đoàn độc lập (3) khoảng 120,000 quân. Theo ước lượng phía Mỹ và VNCH có vào khoàng từ 70 cho tới 100 ngàn Cộng quân bị giết trong trận này (4) như thế số tàn quân không thể nào quá 100 ngàn được,
Xin nói về lý do tại sao không đòi được CSBV rút về Bắc
Larry Berman và nhiều người như Negroponte, Tướng Haig (hai phụ tá của Kissinger) (5), TNS Thurmond South Carolina (6)… chỉ trích Nixon, Kissinger ký hiệp định bất bình đẳng không đuổi được CS về Bắc, địch còn đóng quân kể như thua. Berman nói Hiệp định Paris vô nghĩa, nó bảo đảm miền nam VN sẽ mất về tay CS.
TT Nixon đã trả lời về vấn đề này, ông nói “Có một châm ngôn ngoại giao là cái gì ta không làm được ở chiến trường thì không thể đòi được ở bàn hội nghị”, Kissinger cũng nói y như thế (7). Sau trận đánh 1972, VNCH tuy thắng lớn nhưng không đủ lực lượng để đuổi địch ra khỏi những vùng chiếm đóng tại QK I và QK II nên không thể đòi chúng rút về Bắc được,
Nixon nói:
“Chúng tôi biết nếu đạt thỏa
hiệp đòi BV trả lại đất cho VNCH thì họ sẽ không ký Hiệp định. Nếu
ta đòi BV rút quân bằng được sẽ không có Hiệp định”
(No more Vietnams trang 152)
Đầu tháng 1-1973, Quốc hội đốc thúc Nixon ký Hiệp định, họ cho biết nếu không sớm ký kết sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh, cắt viện trợ VNCH, buộc Hành pháp rút hết quân… (8). Ngoài ra Nixon nói (trang 155) sự tồn tại của VNCH không phụ thuộc việc Cộng quân còn đóng tại một số vùng dân cư thưa thớt mà phụ thuộc vào viện trợ của Quốc hội và sự cho phép cưỡng bách (CS) thi hành Hiệp định Paris (enforce the agreement). Nếu ta không sớm ký Hiệp định, Lập pháp sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh vào tháng 1-1973 cho rằng VNCH gây trở ngại hòa đàm.
Trên thực tế mọi người đều thấy sự sụp đổ miền nam VN không do Hiệp định mà vì cạn kiệt tiếp liệu đạn dược, không có sự kiện nào chứng tỏ Hiệp định đã trực tiếp gián tiếp gây ảnh hưởng. Sau Hiệp định Paris tháng 1-1973, hơn nửa triệu quân đồng minh gồm Mỹ, Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan… đã rút về nước, VNCH phải một mình gánh vác chiến trường với quân viện bị cắt giảm xương tủy. Đó là lý do chính khiến cho CS thắng lợi dễ dàng.
Việc đòi Cộng quân rút về Bắc không có nghĩa VNCH sẽ được an toàn, họ chỉ rút qua biên giới Lào, Miên sát ngay đó và trở lại khi cần.
Berman chỉ trích Nixon Kissinger đánh lừa Thiệu, hứa hẹn trừng phạt BV đã ghi trong Hiệp định (trang 202). Cuối tháng 11-1972, Nguyễn Phú Đức, đại diện ông Thiệu đi Hoa Thịnh Đốn họp với các nhà lãnh đạo Mỹ về bản sơ thảo Hiệp định. Kissinger nói với Đức rằng lời cam kết của TT Nixon sẽ ghi vào hồ sơ đàng hoàng. Berman nói thực ra chẳng ghi hồ sơ gì cả, nước Mỹ không đụng một ngón tay ngăn chận CS chiếm miền Nam, những ngày cuối của Saigon, Kissinger và Nixon đánh lừa Đức nhưng không đánh lừa được lịch sử (lời Berman)
Sự thực khi CSBV vào chiếm VNCH, Nixon đã bị ép từ chức tháng 8-1974, vả lại Quốc hội ra luật (9) cắt hết các ngân khoản (của Hành pháp Mỹ) dành cho chiến tranh Đông Dương 30-6-1973 (nửa năm sau Hiệp định). Nixon bị bó tay nhìn CSBV và Khmer đỏ tấn công chính phủ Lon Nol và VNCH.
Berman chỉ trích Nixon, Kissinger ép Thiệu ký Hiệp định bất bình đẳng mà thực ra tháng 1-1973 Quốc hội đã thúc ép Nixon phải sớm có hòa bình. Các vị chức sắc Quốc hội đã nhắc nhở Nixon nêu VNCH làm trở ngại Hiệp định họ sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh nên không thể qui trách nhiệm cho Nixon Kissinger trong việc ký kết.
Hòa bình danh dự, Peace with Honor theo định nghĩa của TT Nixon là rút quân về nước, lấy tù binh, chấm dứt chiến tranh và không làm sụp đổ đồng minh VNCH. Trong khi đó đảng đối lập chủ trương rút bỏ VN sớm mà không quân tâm tới sự tồn tại của Đông Dương, sống chết mặc bay, miền nam VN sẽ sớm mất về tay CS. Nixon chỉ làm được đến thế, thật vô lý khi Berman cũng như rất nhiều người chỉ trích kết án hòa bình danh dự của ông. Họ nói Hiệp định của hai nhà lãnh đạo đã làm sụp đổ Đông Dương trong khi Nixon đã bị ép phải từ chức.
Thật vô lý khi Berman và nhiều người chỉ trích TT Nixon không giữ lời hứa (với ông Thiệu) sẽ trừng trị CSBV nếu họ vi phạm Hiệp định khi ai cũng biết ông đã từ chức tháng 8-1974 và đã bị Lập pháp trói tay.
Tác giả nói nay có hai cách giải thích sự thất bại của Hiệp định Paris và sự sụp đổ Sài Gòn, trước hết cách nói của hai nhà lãnh đạo: Nixon nói (10) năm 1973 ông đã bảo đảm nền độc lập VNCH nhưng năm 1975, Quốc hội đã hủy hoại khả năng thi hành Hiệp định (của ông) khiến VNCH sụp đổ. Kissinger nói thảm kịch là do tình trạng xáo trộn tại Mỹ, tháng 4-1973 vụ Watergate nổi lên, kế đó TT không được phép cưỡng bách thi hành Hiệp định Paris (trừng trị CSBV khi họ vi phạm)
Cách giải thích thứ hai của tác giả Frank Snepp (trang 8) cho rằng Hiệp định chỉ là một khoảng cách tốt đẹp (Decent interval). Nixon, Kissinger chỉ chú trọng lấy tù binh, tìm người mất tích, tương lai chính trị VN thì để người VN tự giải quyết. Chính phủ Mỹ không muốn CS thắng quá nhanh, họ biết là CS sẽ ngẫu nhiên thắng, khi ký Hiệp định CSBV không bỏ mục tiêu dài hạn chờ cho Mỹ rút. Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp nói Hiệp định chỉ là cách trốn trách nhiệm của Mỹ (Nixon – Kissinger), một cách bảo đảm để Mỹ rút đơn phương.
Kissinger đã nói với Phụ tá TT Ehrlichman miền nam VN may mắn lắm thì có thể cầm cự được một năm rưỡi, ông cũng nói với phụ tá của mình Negroponte rằng Mỹ không muốn tiếp tục ở lại VN.
Hồ sơ giải mật
Nhưng chương thứ 10 và 13 (11) Larry Berman nói sau khi tham khảo những hồ sơ đã giải mật thì thấy sự kiện tệ hại hơn thế. Ông nói sự thực khác xa với giả thuyết Decent interval và khác xa những điều mà Nixon, Kissinger tuyên bố. Hồ sơ giải mật có ghi là Chính phủ Mỹ muốn Hiệp định bị BV vi phạm ngay và sẽ đưa tới sự giáng trả dữ dội. Chiến tranh thường trực bằng oanh tạc (B-52) mà Nixon và Kissinger sẽ khởi động từ Hiệp định. Họ tin đó là con đường duy nhất để dân Mỹ chấp nhận (chiến tranh) nếu đã ký Hiệp định, Nixon tin là sẽ xử dụng B-52 để giúp VNCH cho tới cuối nhiệm kỳ của ông năm 1976.
Đối với Nixon, Hiệp định là một phương tiện để có quyền can thiệp thường trực vào Đông Nam Á. Sự thực đã được chôn vùi khá lâu vì Nixon và Kissinger từ chối không cho ai được xem những bí mật lịch sử, hạn chế không cho người khác đọc cũng như coi giấy tờ riêng, băng thu điện đàm và tất cả những nguồn tài liệu gốc …
Nhờ tham khảo những tài liệu giải mật Berman đã đánh giá được chủ trương hiếu chiến của Nixon-Kissinger, nó hoàn toàn trái ngược với ý nghĩa của hòa bình danh dự mà ông ca ngợi, phô trương. Hai nhà lãnh đạo này đã đánh lừa người dân Mỹ, dư luận Mỹ bằng một nền hòa bình giả (12).
Berman cho biết (trang 203), sáng 30-11-1972, khoàng hai tháng trước ngày ký kết Hiệp định Paris, TT Nixon họp Ban tham mưu liên quân, Kissinger thuyết trình về bản Dự thảo Hiệp định ngưng bắn, ông nói Tổng thống muốn tập trung vào tình trạng khẩn trương nhất gồm hai sự kiện: Nếu hòa đàm tan vỡ, giải pháp quân sự nào? Thứ hai nếu hòa đàm thành công nhưng Hiệp định bị vi phạm ta sẽ trừng trị địch thích đáng bằng không lực Mỹ.
TT Nixon chỉ thị cho Ban tham mưu sửa soạn chương trình oanh tạc khẩn cấp trong trường hợp hòa đàm tan vỡ, chiến dịch sẽ xử dụng ồ ạt Hải quân, Không quân trên lãnh thổ BV. Chiến dịch được gọi là Priming Charge (trừng phạt khởi đầu) được phác họa để phá hủy bộ máy chiến tranh BV gồm 58 mục tiêu và phong tỏa hải cảng…
Đô đốc Elmo Zum Walt Tư lệnh Hải quân trong buổi họp cho rằng Nixon chủ trương đánh mạnh (oanh tạc) trong hai năm nữa sẽ thương lượng một Hiệp định tốt đẹp hơn. Tổng thống nói ông cần Ban tham mưu hợp tác, VNCH sẽ vui mừng, họ vẫn được viện trợ kinh tế, quân sự.
Trong trường hợp CSBV vi phạm, tăng cường xâm nhập, tấn công VNCH, Đô đốc Thomas Moorer (trang 204) Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã thảo kế hoạch khẩn trương 3 và 6 ngày cho kế hoạch đòi hỏi để tấn công BV. Kế hoạch gồm gài mìn Hải Phòng, oanh tạc Hà Nội bằng B-52, sự giáng trả phải ồ ạt hữu hiệu.
Ngoài ra hồ sơ giải mật (trang 260) về cuộc nói chuyện trong buổi họp với Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu ngày 4-8-1973. Kissinger nói chỉ có oanh tạc (B-52) mới bảo vệ và giúp VNCH không bị sụp đổ, cuộc đối thoại cho ta thấy rất nhiều. Kissinger đã nhìn nhận ký Hiệp định xong tháng 1 và nói tôi cảm thấy chúng ta phải tái oanh tạc BV vào tháng 4 hay tháng 5.
“Nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định chúng tôi sẽ tái oanh tạc”
Điều ông xác nhận cũng giống y như cái mà Đô đốc Zumwalt đã kết luận cuối tháng 11-1972 tại buổi họp Tham mưu trưởng liên quân. Đó là hòa bình giả trong kế hoạch đánh lửa dân Mỹ với những từ ngữ văn vẻ hào nhoáng “danh dự cho Mỹ”.
Kissinger cho rằng Watergate (1974) đã phá hỏng kế hoạch của
Nixon, ông không hề có ý định phản bội VNCH. Nixon muốn được coi là
vị Tổng thống có chính sách ngoại giao vĩ đại người đã
- Bang giao với Trung Cộng.
- Hòa với Nga Sô.
- Bảo vệ được VNCH.
Quyết tâm bảo vệ miền Nam VN của Nixon để bảo tồn một di sản cho sự nghiệp chính trị của ông. Hôm 27-4-1975, William Buckley viết trên Wall Street Journal nhận định Watergate đã làm cho kế hoạch nghiền nát miền Bắc VN của Nixon bị trật đường rầy.
Điều mà Larry Berman khám phá nhờ tài liệu giải mật cho thấy
Nixon, Kissinger đã đánh lừa người dân Mỹ, Quốc hội. Hòa bình danh
dự mà họ tìm kiếm chỉ là hòa bình giả (a sham peace)
Nixon-Kissinger mang tội giả dối với nước Mỹ (như tác giả nói) nhưng có công với VNCH vì ông chủ trương cưỡng bức (CS) thi hành Hiệp định, tiếp tục bảo vệ đồng minh. Nếu do tham khảo hồ sơ mật để khám phá ra sự thật ấy thì nó mâu thuẫn với chủ đề mà ông đưa ra trên đây khi kết án Nixon, Kissinger ký Hiệp ước bất bình đăng phản bội VNCH.
Đô đốc Elmo Zum Walt Tư lệnh Hải quân đã ghi lại cảm tưởng về buổi họp, ông nhận định Nixon lường gạt: Tổng thống nói về tình trạng ngưng bắn, hứa viện trợ ồ ạt cho miền nam VN và giáng trả vi phạm của CSBV để bảo đảm hòa bình. Chính phủ (Nixon) dấu kín và không bao giờ cho người dân và Quốc hội biết chuyện bí mật này.
Ai phản bội Việt Nam
Larry Berman đặt tên tác phẩm “Không Hòa Bình, Không Danh Dự, Nixon, Kissinger Và Sự Phản Bội Việt Nam ” khiến người ta nghĩ rằng hai nhà chính khách này đã không mang lại hòa bình danh dự và họ phản bội VN. Nhưng phần sau, tác giả tham khảo tài liệu giaỉ mật cho thấy các vị này chỉ chuẩn bị chờ oanh tạc trừng trị BV để cứu VNCH.
Trong phần mở đầu cũng như phần kết luận, ông chiếu lại khúc phim
cuối tháng 4-1975 người Mỹ tháo chạy bỏ VN và có nói sơ về sự phản
bội đồng minh của Mỹ. Kissinger cho biết danh dự Mỹ bị lâm nguy
(trang 3) Đại sứ Martin điện tín cho Kissinger xin đừng cho di tản ồ
ạt vì nó cho thấy sự phản bội khiến ta mất hết danh dự. Khi trực
thăng di tản những người Mỹ cuối cùng, tại hạm đội Đại tá Harry G.
Summers nói “Chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đối với người Mỹ ngày
này thật chẳng lấy gì làm tự hào” (trang 4)
Tại Bạch Cung TT Ford chính thức thông báo chỉnh phủ VNCH đã đầu
hàng
“Lịch sử sau cùng sẽ phán xét phán xét những cái ta đã và chưa
làm ở VN cũng như nơi khác. Ta hãy bình tâm chờ bản án” (trang 5)
Ngoài Larry Berman ra không thấy tác giả nào đề cập tới khía cạnh
này, họ thường nhấn mạnh sự sai lầm của ông Thiệu trong kế hoạch lui
binh tại Cao nguyên và vùng hỏa tuyến
Tác giả tuy đề cập tới vấn đề người Mỹ phản bội đồng minh nhưng ông lại hướng về hai nhân vật lãnh đạo Hành pháp và không đả động gì tới trách nhiệm của nước Mỹ. Berman cũng như nhiều người chỉ trích Nixon, Kissinger ký Hiệp định vô nghĩa nhưng họ không biết hoặc vờ không biết về những khó khăn mà chính phủ phải đương đầu tại bàn Hội nghị. Kissinger kể lại những ngày đầu đàm phán với phía CSBV từ 20-2 tới 4-4 -1970 (13) trong khi Mỹ đang rút quân từ từ. Thái độ của Lê đức Thọ rất cha chú, ta đây. Thọ nói Mỹ phải rút không điều kiện, lật đổ chính phủ Thiệu, thành lập Liên hiệp, ngoài ra chẳng có gì để bàn cả. Đảng Dân Chủ và Ủy ban ngoại giao Thượng viện đòi rút nhanh, loại bỏ Thiệu-Kỳ nhưng Nixon-Kissinger không chấp nhận vì như thế coi như đầu hàng CS (14). Kissinger nói Thọ hiểu biết rõ, chính xác về dư luận phản chiến tại Mỹ nên tếp tục đòi Mỹ rút đơn phương, lật đổ Thiệu cho tới tháng 9-1972, (hai năm rưỡi sau) khi BV thảm bại về quân sự họ mới chịu nhượng bộ nhiều.
Ngày 18-3-1970, ông Hoàng Sihanouk bị Tướng Lon Nol lật đổ khi đang ở Bắc Kinh. Từ giữa tháng 4 -1970 CSBV tại căn cứ biên giới tấn công bao vây Nam Vang để lật đổ Lon Nol đưa Sihanouk về, nay Sihanouk đã theo CS. Nếu Mỹ không can thiệp VNCH sẽ bị lâm vào tình trạng nguy khốn. Cuối tháng 4 -1970 Nixon giúp VNCH hành quân sang Miên phá hủy các căn cứ CSBV, VC nhưng vấp phải sự chống đối dữ dội của Quốc hội, truyền thông, sinh viên và phong trào phản chiến… Hàng trăm ngàn người biểu tình phía sau Tòa Bạch Ốc, tại Thủ đô. Tình trạng cho thấy sự ngang ngược của Quốc hội Dân chủ, truyền thông, phong trào phản chiến…họ muốn Hành pháp phải chịu bó tay trước sự lộng hành của CS.
George Donelson Moss (15) nói Nixon nhậm chức đã được hai năm, sau hai năm chiến đấu và đàm phán để chấm dứt chiến tranh mang lại hòa bình nhưng ông nhận thấy quyền hạn của Tổng thống bị thu hẹp, vị trí nước Mỹ tại bàn hội nghị tồi tệ, hòa bình còn xa….
Kissinger thất vọng không tìm ra cách nào đòi CSBV rút song phương, ông nói khi Nixon nhậm chức thay thế những người (Dân Chủ) trước đây đã can thiệp (đưa quân) vào VN. Mới đầu họ trung lập sau quay ra chống đối, kết án Nixon có trách nhiệm với cuộc chiến mà thực ra ông chỉ thừa hưởng. Họ chỉ trích Nixon không theo giải pháp này nọ mà chính họ trước đây chẳng làm được gì (16).
Kissinger cũng nói Bảo thủ (CH) xuống tinh thần vì cuộc chiến tới giai đoạn phải rút quân, Cấp tiến (DC) ám ảnh bởi chính họ đã đưa nửa triệu quân vào Đông Dương. Họ không chịu đối mặt với sự can thiệp của mình trong quá khứ hoặc ngồi im miệng mà ngược lại, trốn trách nhiệm và đổ lỗi cho Tổng thống Nixon (17). Đảng Dân chủ đã đưa nước Mỹ vào chỗ sa lầy tại VN thập niên 60 nay trở mặt a dua với phản chiến, truyền thông để chống chiến tranh, chống chính phủ (đối lập), không được ăn thì đạp đổ, tạo lên không khí phân hóa dữ dội.
Dân chủ vẫn nắm Quốc hội với 55.86% Hạ viện và 57% Thượng viện.
Sau hai năm lãnh đạo, Nixon thấy chính phủ bị giới hạn quyền hành, đảng Dân Chủ, truyền thông, phong trào phản chiến, sinh viên…những năm 1969, 70 đã đưa nước Mỹ bước vào giai đoạn “toàn quốc phản chiến” đòi rút bỏ VN.
Những tháng đầu năm 1973, CSBV vi phạm hiệp định và giúp Khmer đỏ tấn công chính phủ Lon Nol, Nixon oanh tạc trừng trị địch và bị Quốc hội phản đối dữ dội. Họ ra tu chính án cắt hết ngân khoản quân sự dành cho Đông Dương cuối tháng 6-1973, có hiệu lực từ giữa tháng 8 (18). Sau đó Quốc hội Dân chủ cắt giảm quân viện VNCH mỗi năm khoảng 50%: Từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975 (19) khiến miền nam VN lâm vào tình trạng kiệt quệ tiếp liệu đạn dược.
Tổng thống lúc này chẳng khác gì bù nhìn nhưng người ta vẫn chỉ trích ông không trừng trị quân địch để cứu VNCH.
Sau khi tham khảo tài liệu giải mật Larry Berman lại nói Nixon, Kissinger không bỏ Đông Dương mà còn sẵn sàng trừng trị CSBV vi phạm Hiệp định, họ chủ trương kéo dài chiến tranh. Điều này cho thấy những lời chỉ trích, lên án Nixon, Kissinger phản bội VN hoàn toàn sai.
“Không hòa bình không danh dự” như tác giả nói không phải để ám chỉ Hiệp định vô nghĩa mà là tiếp tục chiến tranh chứ không phải hòa bình danh dự, người ta thường nghĩ là ông chỉ trích hòa bình danh dự làm sụp đổ VN
Tên tác phẩm của Berman khiến độc giả tưởng ông kết án Hiệp định Paris không có hòa bình, không có danh dự vì nó làm sụp đổ VNCH. Nhưng khi ông nói về hồ sơ giải mật thì không phải vậy mà tác giả muốn nói “không hòa bình, không danh dự” vì Nixon, Kissinger không tìm hòa bình như họ tuyên bố mà muốn tiếp tục chiến tranh bằng không lực Mỹ để bảo đảm cho miền nam VN.
Lúc này Berman không lên án hai nhà chính khách này phản bội đồng minh nhưng chỉ trích họ họ đánh lừa, lường gạt nước Mỹ vì tiếp tục cuộc chiến bảo vệ miền nam VN, phản lại chủ trương của nước Mỹ muốn vứt bỏ mảnh đất này cho lùi vào dĩ vãng. Đúng vậy, Quốc hội, truyền thông, sinh viên…muốn nước Mỹ phải bỏ Đông Dương trong khi Nixon-Kissinger đi ngược lại chủ trương này, hai ông không phản Đông Dương mà có tội với nước Mỹ.
Tại phần mở đầu và kết luận cuốn sách Berman có đề cập dù là sơ sài tới việc nước Mỹ bị sứt mẻ uy tín vào những ngày cuối tháng 4-1975 khi họ tháo chạy bỏ Đông Dương. Hầu như không có nhà nghiên cứu nào nói như ông dù là ngắn gọn, họ thường chỉ trích sự sai lầm của ông Thiệu làm sụp đổ miền nam.
Họ lờ đi không nói tới quân viện ồ ạt của CS quốc tế cho Hà Nội tổng cộng 2 triệu 362 ngàn tấn hàng hậu cần và vũ khí (20). Trong khi CSBV muốn bao nhiêu xe tăng, đại bác, hỏa tiễn, phòng không… đều có ngay thì VNCH những năm cuối cùng 1974, 1975 phải trầy da tróc vẩy cử phái đoàn sang Mỹ xin viện trợ thường là nhỏ giọt
Không phải rằng Nixon, Kissinger phản bội VN mà là nước Mỹ phản bội vì như đã nói trên, ngay từ 1970, nước Mỹ đã phát động phong trào toàn quốc phản chiến gồm Quốc hội, đảng đối lập, sinh viên, truyền thông… Theo lời kể của Kissinger (21) Quốc hội Mỹ đã bắt đầu đề nghị một số tu chính án cắt ngân khoản chiến tranh Đông Dương nhưng chưa được phê chuẩn. Như thế nước Mỹ chống chiến tranh tập thể, hành động phản bội chính là nước Mỹ chứ không thể là Nixon, Kissinger. Chủ trương rút bỏ Đông Dương đã thành hình từ 1970 và nhất là sau khi Nixon, Kissinger đã bang giao được với Trung Cộng, hòa hoãn với Nga sô từ giữa năm 1972 là cơ hội tốt cho Quốc hội Dân chủ Mỹ phản bội đồng minh
Larry Berman phải lục lọi, tìm kiếm những hồ sơ giải mật để viết về sự dối trá của Nixon, Kissinger đối với người dân Mỹ, nước Mỹ, nhưng ông không viết về sự phản bội của nước Mỹ. Muốn vậy ông cũng chẳng cần tham khảo các hồ sơ giải mật. Tài liệu đầy cả ra, không cần thiết phải tìm tòi nhưng đã có nhà sử gia, chính khách Mỹ nào biên soạn chưa? Tháng 6-1973 Quốc hội ra luật cắt hết ngân khoản dành cho chiến tranh Đông Dương để trói tay Tổng thống. Nixon không còn quyền hành ngăn chận CS vi phạm Hiệp định Paris, sau đó họ dần dần cắt giảm viện trợ miền nam VN mỗi năm 50% mà ai cũng đều biết cả… hậu quả là VNCH sụp đổ trong khoảng thời gian thật ngắn.
Berman nói kế hoạch trừng trị BV vi phạm Hiệp định của Nixon-Kissinger đã bị Wategate hủy hoại (trang 9), thực ra dù không có biến cố này, Nixon cũng đành chịu bó tay vì không có ngân khoản để oanh tạc. Quốc hội đã ra luật từ giữa năm 1973 cắt hết nguồn tài chánh (của Hành pháp) dành cho chiến tranh Đông Dương.
Ta không thấy sử gia chính khách Mỹ so sánh viện trợ Mỹ cho VNCH với viện trợ của CS Nga, Tầu cho BV, ta không thấy các vị ấy nói về tình đồng chí của CS, họ không bỏ đồng minh
Hậu quả của sự phản bội là nay tại Đông Nam Á, các nước Thái Lan, Việt, Mên, Lào, Mã Lai, Phi Luật Tân… có khuynh hướng ngả về Trung Cộng, họ không dám theo Mỹ khi nhớ lại biến cố Đông Dương 1975.
Nhiều nhà nghiên cứu, chính khách Mỹ thường ra vẻ công bình, khách quan, họ khen kẻ địch can đảm, yêu nước được lòng dân …nhưng họ không công bình vì không so sánh viện trợ Mỹ cho VNCH với viện trợ của CS quốc tế cho BV. Ta không thấy các vị ấy nói về tình đồng chí của CS, họ giúp đỡ đồng minh tới ngày chiến thắng cuối cùng.
Trên thực tế hầu hết các nhà sử gia, chính khách Mỹ tránh nói tới việc Quốc hội nước họ bức tử VNCH vì tâm lý chung đẹp đẽ khoe ra, xấu xa đậy lại. Họ thường nói Hoa Kỳ bảo vệ dân chủ, tự do cho tất cả các nước bị áp bức xâm lăng nhưng tránh xúc phạm đất nước mình
Nhiều người cho rằng Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris mới rút quân, lấy tù binh là không đúng sự thật. Quốc hội Mỹ có hai cách để lấy hòa bình
– Ký Hiệp định Paris
– Ra luật chấm dứt chiến tranh
Trường hợp có được nền hòa binh danh dự đẹp mặt cả nước là điều họ mong đợi, cùng kỳ lý nếu Hiệp định trở ngại họ sẽ phải ra luật chấm dứt chiến tranh cho dù tàn khốc vô nhân đạo.
Ít người chịu để ý vấn đề này, các nhà sử gia Mỹ tránh không nhắc tới vì nó thể hiện bộ mặt xấu của Lập pháp, của cả đất nước mình.
Trọng Đạt
(trích trong Chiến Tranh Việt Nam Dưới Thời Kennedy-Johnson-Nixon-Ford, 2017)
Tham khảo
(1) No No Peace Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam các trang 2, 7
(2) Richard Nixon: No More Vietnams trang 152
(3) Nixon trong No more Vietnams trang 150 cũng nói vậy
Theo Phillip B. Davidson: Vietnam At War, The History 1946-1975 trang 673 là 125 ngàn quân
Sunday, March 16, 2025
Tuesday, January 28, 2025
Saturday, December 21, 2024
Friday, December 13, 2024
TÁC DỤNG CỦA TẦM NHÌN CHÍNH TRỊ QUA XUNG ĐỘT NGA- UKRAINE
Bốn chữ “Ukraine thuộc Nga” đóng đinh trong đầu của TT Nga gốc sĩ quan tình báo Liên Xô tại Đông Đức Vladimir Putin. Theo tài liệu của Bộ Ngoại Giao Mỹ, trong một hội nghị của NATO 2008 tại Bucharest, Romania, Putin nhắc cho TT George W. Bush biết “Ukraine không phải là một quốc gia” mà là một phần của Nga. Trong một tiểu luận đăng trên website của chính phủ Nga ngày 12 tháng 7, 2021 “Về sự thống nhất lịch sử của người Nga và người Ukraine“, Putin cho rằng Nga và Ukraine là một dân tộc, một nền văn hóa, một tôn giáo và một truyền thống lịch sử: “Người Nga, người Ukraine và người Belarus đều là con cháu của Rus cổ đại, là nhà nước lớn nhất ở châu Âu.”
Sau nhiều năm tìm cách sáp nhập Ukraine vào Nga lần nữa bằng
nhiều phương pháp, ngày 24 tháng 2, 2022 Putin chọn con đường vũ
lực qua việc chính thức tấn công Ukraine.
Chiến tranh bùng nổ hôm nay là hậu quả phát xuất từ các chính
sách đối ngoại và đối nội sai lầm suốt 31 năm của nhiều lãnh đạo
và chính phủ Ukraine bất tài và tham nhũng bắt đầu với Leonid
Kravchuk, đại diện Belarus tại lễ ký kết giữa các lãnh đạo Nga,
Ukraine và Belarus để thành lập Cộng Đồng Các Quốc Gia Độc Lập
(Commonwealth of Independent States).
Tổ chức này thực tế là cái tròng đã có từ thời Nga Hoàng do
Boris Yeltsin đặt trên cổ các nước nhỏ sắp thoát khỏi Liên Xô.
Liên Xô sụp hơn hai tuần sau đó. Ngoại trừ ba nước nhỏ vùng
Baltics, phần lớn rơi vào chiếc bẫy sống chung trong thịnh vượng
và độc lập này.
Chính sách an ninh của Nga dù trải qua nhiều thời kỳ từ phong
kiến sang CS tới cộng hòa về căn bản đều giống nhau. Nga thiết
lập và bảo vệ một vùng an ninh chung quanh biên giới. Hiệp ước
bí mật giữa Stalin và Hitler 1939 cũng nằm trong chiến lược đó.
Sau 1991, Ukraine có nhiều cơ hội thoát khỏi ảnh hưởng Nga nhưng
không thoát chỉ vì giới lãnh đạo có một tầm nhìn quá hẹp.
Ukraine trước 1994 là một trong ba quốc gia có khối lượng vũ khí
nguyên tử lớn nhất thế giới, sau Mỹ và Nga. Năm 1994, Ukraine
đồng ý hủy bỏ vũ khí nguyên tử nhưng không nhận lại một khoản
lợi quan trọng hay cam kết của Liên Hiệp Quốc nào, chẳng hạn như
gia nhập cộng đồng kinh tế Âu Châu, thành viên NATO, viện trợ
hàng năm v.v… ngoài trừ những hứa hẹn trên đầu môi chót lưỡi của
Anh, Mỹ, Nga tại hội nghị Budapest . Nga sáp nhập vùng Crimea
cũng không tạo nên một phản ứng quốc tế lớn mạnh nào.
Từ một người dân thường cho đến lãnh đạo một quốc gia tầm nhìn
vẫn là yếu tố quyết định cho tương lai của một gia đình hay một
dân tộc. Biến cố Ukraine là một bài học cho mọi người Việt quan
tâm đến vận mệnh đất nước.
———————————————————-
Hôm đó là ngày 8 tháng 12, 1991 tại một khu nhà nghỉ mùa đông
thuộc Belarus, cách biên giới Ba Lan 8 km, đại diện ba nước
Russia, Ukraine, and Belarus vừa tuyên bố độc lập khỏi Liên Xô
gặp nhau.
Boris Yeltsin đại diện Nga, Stanislav Shushkevich đại diện
Belarus và Leonid Kravchuk đại diện Ukraine. Cả ba lãnh đạo đều
rất vui mừng, phấn khởi vì quốc gia họ đang đứng trước ngưỡng
cửa mới đầy hy vọng cho tương lai.
Bắt đầu chỉ với 3 quốc gia trong số 15 nước “xã hội chủ nghĩa”
Liên Xô, tham dự hội nghị nhưng trong thực tế ba nước này chiếm
tới 73% dân số và 80% diện tích của Liên Xô. Trong ngày 8 tháng
12 hôm đó, ba phái đoàn tuyên bố thành lập Cộng Đồng Các Quốc
Gia Độc Lập (Commonwealth of Independent States).
Đọc tin một thông cáo chung được ký, Mikhail Gorbachev trong
diễn văn truyền hình ngày hôm sau tuyên bố văn bản đại diện ba
nước ký là “bất hợp pháp”.
Để giải quyết bất đồng, Yeltsin và Gorbachev gặp nhau một tiếng
rưỡi đồng hồ. Khi bước ra khỏi phòng họp, Gorbachev biết dù ông
tìm mọi cách cứu vãn sự sụp đổ của Liên Xô là điều không tránh
khỏi.
Trong buổi họp đó, Boris Yeltsin, lãnh đạo Nga vừa hồi sinh và
Mikhail Gorbachev, lãnh đạo Liên Xô đang hấp hối, đồng ý năm
chôn cất Liên Xô là 1992 chứ không phải 1991 như đã diễn ra.
Những ngày đó Liên Xô còn tồn tại nhưng trong thực tế đang trên
đà tan rã.
Nhắc lại, trước đó ba tháng, 18 tháng 8, 1991, phe cực đoan bảo
thủ, được gọi là “nhóm tám người” trong trung ương đảng CSLX
ráng hết sức hắt hơi lần cuối cùng để cố phục hồi sinh khí cho
Liên Xô. Thành phần này được báo chí gọi là “nhóm tám người”,
chủ trương quay ngược kim đồng hồ trở lại thời Leonid Brezhnev.
Dù là những lãnh đạo cao cấp nhất trong đảng như Phó Chủ Tịch
Nước Gennady Yanayev, Thủ tướng Valentin Pavlov, Bộ Trưởng Bộ
Quốc Phòng Dmitry Yazov, Tổng Giám Đốc KGB Vladimir Kryuchkov
v.v… “nhóm tám người” đã không giữ được quyền lực quá ba ngày vì
bộ máy CS đã rệu rã đến tận cùng.
Điều đó cho thấy sự mục nát của các chế độ độc tài CS thường bắt
đầu từ bên trong cơ chế. Căn nhà càng cao càng dễ sụp đổ. Thượng
tầng kiến trúc chính trị không thể tồn tại lâu trên một hạ tầng
kinh tế xã hội mục nát.
Biến cố lật đổ Gorbachev chẳng những không làm chậm phong trào
độc lập tại 15 nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” trái lại thúc
đẩy phong trào được tiến hành nhanh hơn và dẫn đến sự ra đời khá
vội vã của Cộng Đồng Các Quốc Gia Độc Lập (Commonwealth of
Independent States, gọi tắt CIS).
Boris Yeltsin muốn đặt Gorbachev trước sự kiện đã rồi khi thành
lập CIS thay thế cho Liên Xô như một tổ chức đáp ứng nhu cầu của
quốc gia thành viên sau khi Liên Xô sụp đổ . Sau lễ ký kết sơ
khởi, các quốc gia Trung Á và vùng Caucasus như Kazakhstan,
Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Armenia,
Azerbaijan, Georgia và Moldova lần lượt tham gia.
Lãnh đạo của các quốc gia tham gia CIS đều ý thức vai trò chế
ngự của Nga nhưng lúc đó họ đã không đặt nặng. Họ quan tâm đến
các yếu tố kinh tế xã hội hơn là vai trò chủ đạo của Nga trong
các lãnh vực khác, nhất là chủ quyền lãnh thổ, an ninh và quốc
phòng.
Dưới thời Putin khái niệm “lân bang” được ra đời để chỉ các quốc
gia “vùng độn” bao bọc chung quanh Nga như thời Nga Hoàng.
Tuy nhiên, có ba quốc gia rất nhỏ vùng Baltics đã thấy trước
điều đó. Lãnh đạo ba quốc gia nhỏ này đã từ chối thẳng thừng
việc tham gia Cộng Đồng Các Quốc Gia Độc Lập. Ba nước đó là
Latvia, Lithuania, Estonia.
Chọn Latvia để phân tích vì chính sách đối ngoại và vị trí chiến
lược của Lithuania, Estonia về căn bản cũng giống như của
Latvia.
Latvia là quốc gia theo thể chế Cộng Hòa vùng Baltic, thủ đô
Riga, có dân số thống kê năm 2019 là 1.9 triệu người, bằng dân
số tỉnh Quảng Nam, có chung biên giới với Estonia, Lithuania,
Belarus và Nga.
Latvia độc lập năm 1918 nhưng bị Liên Xô chiếm năm 1940, bị Đức
Quốc Xã chiếm năm 1941, bị Liên Xô chiếm lần nữa năm 1944 và sau
đó trở thành nước CS trong hệ thống Liên Xô mãi cho đến khi
chính thức độc lập năm 1991.
Bằng việc chấp nhận Tuyên Bố về Tái Lập Nền Độc Lập của Cộng Hòa
Latvia (The Declaration on Restoration of Independence of the
Republic of Latvia), Latvia chính thức thoát ra khỏi quỹ đạo
Liên Xô ngày 4 tháng 5 năm 1990, hơn một năm rưỡi trước khi Liên
Xô đổ.
Không ít người nghĩ một cách bi quan và hạn hẹp rằng khi nào
Liên Xô còn tồn tại thì các nước nhỏ chung quanh khó mà độc lập.
Không. Phần lớn các quốc gia trong khối Liên Xô trở nên độc lập
trước khi Liên Xô tan rã.
Lãnh đạo của nền cộng hòa Latvia khẳng định họ không phải là một
nước cộng hòa tân lập mà kế tục chế độ cộng hòa được thành lập
từ 1918.
Mặc dù đa số thành viên bỏ phiếu hay chấp nhận bản tuyên bố độc
lập chưa sinh ra trong giai đoạn lịch sử 71 năm trước đó, họ
biết rằng lịch sử Latvia là một dòng Cộng Hòa liên tục. Giọt
nước Latvia của thời điểm 1990 đã bắt đầu từ thượng nguồn Latvia
năm 1918 đầy hy sinh gian khổ dưới hai ách Hitler và Stalin, hai
lãnh tụ độc tài tàn ác nhất trong lịch sử loài người. Các thế hệ
Latvia học lịch sử để làm lịch sử.
Như người viết đã phân tích trong loạt bài về các quốc gia vùng
Baltics, trong thời điểm 1990, các lãnh đạo phong trào độc lập
Latvia có một tầm nhìn vô cùng sáng suốt thể hiện qua bốn quan
điểm chính dưới đây:
(1). Thay vì theo đuổi các mục tiêu riêng, lãnh đạo phong trào
giành độc lập chỉ tập trung dưới một tổ chức duy nhất là Phong
Trào Dân Tộc Latvia (Latvian People’s Front) nhằm theo đuổi chỉ
một mục tiêu cụ thể trước mắt là loại bỏ chế độ CS tại Latvia và
“thoát Nga”. Họ ý thức mọi phân hóa trong lòng dân tộc chỉ tạo
cơ hội cho Nga vận dụng và “thoát Nga” quan trọng nhất là “thoát
Nga” về chủ quyền. Những người tham gia Phong Trào Dân Tộc
Latvia không chỉ là những người bị chế độ CS bỏ tù, đàn áp hay
các thành phần chống Cộng mà là bất cứ ai đồng ý với mục tiêu
“tự do dân chủ” và “thoát Nga”. Mục tiêu càng cụ thể càng dễ
thực hiện và không gian càng rộng càng dễ quy tụ người ủng hộ.
(2). Dứt khoát đứng về phía Tây Phương dân chủ ngay từ ngày đầu
tuyên bố độc lập. Các lãnh đạo ba quốc gia Baltic luôn nghĩ rằng
đất nước họ là một phần của Châu Âu. Họ không phải là những
chính trị gia thân Mỹ hay có cảm tình với Mỹ mà thậm chí còn
ghét Mỹ nhưng đồng thời họ biết để hiện đại hóa một quốc gia nhỏ
từng bị xâu xé bởi các cường quốc độc tài đi về phía Mỹ là chọn
lựa của thời đại.
(3). Vận dụng nhưng không bị gạt gẫm trước mọi cải tổ kinh tế
chính trị của Mikhail Gorbachev. Các phong trào đổi mới tại
Latvia được kích thích từ các phong trào đổi mới do Gorbachev
chủ trương tại Moscow. Nhưng các lãnh đạo phong trào độc lập
Latvia chỉ muốn dùng không gian dễ thở của những đổi mới đó để
dấy lên phong trào đòi tự do độc lập chứ không phải theo đuôi
Gorbachev.
(4). Từ chối đề nghị của Boris Yeltsin tham gia vào Cộng Đồng
Các Quốc Gia Độc Lập cùng với các quốc gia cựu Liên Xô để rồi
khối này bị cuốn vào vòng kiểm soát của Nga cho đến hôm nay.
Trong khi các quốc gia sáng lập hay gia nhập sau đó như Ukraine,
Georgia phải chịu đựng cảnh “tránh vỏ dưa Liên Xô gặp vỏ dừa
Nga”, Latvia là quốc gia có mức phát triển kinh tế nhanh nhất
Châu Âu. GDP trên đầu người năm 2020 của Latvia là 17,560 Mỹ
kim, gấp 7 lần Việt Nam. Latvia hội viên của NATO, Liên Hiệp
Châu Âu (EU), WTO, UN, IMF và nhiều tổ chức quốc tế khác. Nhờ
các lãnh đạo có tầm nhìn thời đại, các quốc gia vùng Baltic trở
nên giàu có và được cả khối NATO bảo vệ.
Dòng chữ đầu tiên của chính sách bảo vệ không phận các quốc gia
hội viên của NATO ghi rõ: “NATO bảo đảm tính toàn vẹn, an toàn
và an ninh của không phận mình bằng cách duy trì nhiệm vụ thực
thi một chính sách trên không 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần,
365 ngày mỗi năm do Bộ Tư lệnh Không quân Đồng minh giám sát.”
(NATO ensures the integrity, safety and security of its airspace
by maintaining a 24/7/365 Air Policing mission, overseen by
Allied Air Command.)
Chính sách kiểm soát không phận của NATO đã có từ 1961 nhưng
được điều chỉnh năm 2004 để áp dụng cho các nước hội viên mới
vùng Baltic.
Vladimir Putin dù gan lớn cỡ nào cũng không dám thử Article 5
của NATO: “Một cuộc tấn công chống lại một đồng minh được coi là
một cuộc tấn công chống lại tất cả các đồng minh.”
Putin chỉ giỏi hăm he nhưng một phi cơ dù chiến đấu hay dân sự
và dù cố tình hay sơ ý bay vào không phận Latvia sẽ bị chặn tức
khắc. Mới đây thôi, 30 tháng 7 2021, các chiến đấu cơ F35 của
NATO chặn hai máy bay thám thính của Nga cất cánh từ vùng
Kaliningrad thuộc Nga trên biển Baltic ngay cả trước khi các máy
bay này bay vào không phận của các nước Baltic.
Các em học sinh Latvia ngày nay mỗi sáng yên tâm cắp sách đến
trường trong một đất nước tự do, giàu mạnh và thanh bình là nhờ
tầm nhìn của ông bà, cha chú các em.
Trong khi đó, vì giới lãnh đạo mắc bịnh tham quyền cố vị, ham mê
quyền lực, các quốc gia như Belarus, Uzbekistan đến nay vẫn còn
chìm đắm trong độc tài, áp bức.
Alexander Lukashenko của Belarus là một bằng chứng. Sau 26 năm,
y và phe nhóm vẫn sống xa hoa trên sự chịu đựng của dân tộc
Belarus chỉ vì sau lưng y có Putin che chở. Những chữ vàng mà
Yeltsin và sau đó Putin cam kết tôn trọng chủ quyền Belarus và
những khẩu hiệu “độc lập tự do” vang trên đường phố thủ đô Minsk
trong ngày lễ mừng độc lập chỉ là những khẩu hiệu mỉa mai, lạc
lõng, vô hồn.
Con người dù sinh ra ở đâu trên trái đất này cũng có những ước
mơ và khao khát giống nhau. Khác nhau chăng là tầm nhìn về phía
trước của giới lãnh đạo. Thời điểm những năm đầu thập niên 1990
là thời điểm đầy thách thức về tầm nhìn đối với 15 giới lãnh đạo
của 15 nước vừa thoát ra khỏi Liên Xô. Cuộc đấu tranh cân não
giữa họ là những bài học vô giá mà các thế hệ trẻ Việt Nam cần
học thuộc. Một tầm nhìn xa sẽ đưa đất nước cất cánh bay xa và
tầm nhìn bảo thủ, hẹp hòi, cổ hủ và lạc hậu sẽ đẩy đất nước vào
hố thẳm.
Trần Trung Đạo








