Monday, November 6, 2023

NHỚ VỀ MỘT THUỞ XƯA CÒN SAIGON…


Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệmLogo Sài Gòn năm 1870. Khi chiếm Sài Gòn, người Pháp đã sáng tác ra logo này. Hình ảnh hai con cọp trong logo thể hiện đây là vùng đất hoang sơ. Nhưng dòng chữ Latinh Paulatim Crescam có nghĩa là : “Cứ từ từ, tôi sẽ phát triển”. Hình ảnh con tàu hơi nước ở giữa logo cho biết đây là vùng đất nhiều kênh rạch. Phía trên có vương miện 5 cánh như thông báo Sài Gòn sẽ giao thương với năm châu bốn biển. Logo Sài Gòn 1870 thể hiện cách nhìn hoang sơ và triển vọng Sài Gòn của người Pháp. 
Tới thời VNCH, Sài Gòn là "Hòn Ngọc Viễn Đông"

 

NHỚ VỀ MỘT THUỞ XƯA CÒN SAIGON…Đêm Nhớ Về Sài Gòn - Khánh Ly ca

"Ðể đêm đêm ... nhớ về Sài Gòn Thấy mình vừa trở lại quê hương Ðã gặp người một trời yêu thương cho lòng thêm chút ấm Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau Tình chia trong đêm sầu"

CHO TOI DUOC MOT LAN - LE THU - SAIGON VIETNAM YESTERDAY PHOTOS"Cho tôi được một lần Nhìn quê hương đợi sáng Ðời thôi oán thôi hờn Mến thương cùng kiếp người " 

Bộ mặt Sài gòn, lúc 1955, người ta còn thấy những thầy Cảnh Sát được gọi là Mã Tà, đứng huýt còi ở các ngã tư đường. Vậy mà chẳng bao lâu chữ gọi mã tà đó đã biến mất.

Và sau này, sẽ còn nhiều cái biến mất như thế.

Nhiều cái biến mất như thế để Sài Gòn như hôm nay

Người ta vẫn còn thấy những xe thổ mộ đủng đỉnh, kêu lóc tóc vui tai với các lục lạc của xe ngựa kéo trên các con đường từ chợ Bến Thành xuống tận Ngã Tư Bảy Hiền, hay từ Bến thành đi chợ Bà Chiểu. Nó vẫn như ngang nhiên thách đố với các tuyến đường xe buýt nay đã chật ních người. Nó vẫn có những khách hàng quen thuộc là những người thuộc giới bình dân, giới buôn thúng bán mẹt.

Nó chỉ dần dần biến mất lúc nào không ai hay khi mà những chiếc xe Lambretta ba bánh nhập cảng từ Ý đã được chế biến lại cùng chạy trên những tuyến đường đó. Xe Lam nhanh hơn, chở tới 12 người, 10 người ngồi ở đằng sau, khi cần, có thể ghé thêm hai người ngồi bên cạnh tài xế. Vậy tất cả là 13 người chứ không 12. Xe lại có nhiều chuyến hơn, cứ đầy là chạy và ngồi thoải mái hơn. Đặc biệt bên hai thành xe có ghi hai câu: Hữu sản hóa, đợt tự chủ. Nếu tôi nhớ không lầm chính sách hữu sản hóa này là ở dưới thời ông Kỳ làm Thủ tướng.

Nhưng xe xích lô ba bánh, xích lô đạp, đặc sản miền Nam vẫn tồn tại trong suốt 20 năm miền Nam còn lại.

Người trung thành nhất với xích lô đạp, phải chăng là thi sĩ Vũ Hoàng Chương? Có thể ông nghèo vì hút thuốc phiện, nhưng mỗi lần đi dạy ở trường Chu Văn An ông luôn luôn đến trường bằng xe xích lô đạp. Quần áo luôn luôn là ủi thẳng nếp, thắt cravate, tay áo manchette bằng vàng, đầu chải bóng. Người chạy xích lô đạp thường tranh nhau mời ông không phải vì ông là thi sĩ, mà vì người ông nhẹ như bấc, không chắc ông có cân nặng bằng nửa số ký của người khác không?

Tác giả Lửa Từ Bi hồi 75 đã đi tù Cộng Sản. Ông nhẹ như bấc, không biết người Cộng sản sợ ông nỗi gì, sợ một người nhẹ như bấc mà đầy đọa ông trong tù. Hỡi những kẻ ngồi lom khom viết bài bênh “Cụ Hồ” nghĩ gì về việc đầy đọa trong tù một thi sĩ trói gà không chặt? Lúc họ thả thì vài ngày sau, ông giã từ cõi thế. Chắc ông cũng chả muốn sống làm gì?

Và có ai ngờ rằng, xích lô đạp vẫn có chỗ của nó sau hơn nửa thế kỷ sinh tồn.

Sau giải phóng, rất nhiều nhà văn, nhà báo, chuyên viên, giáo sư đổi ra đạp xích lô. Đó cũng là một góc cạnh về thế hệ thanh niên miền Nam đọa đầy dưới gót của đôi dép râu?

Và tự nhiên nay nó trở thành biểu tượng nếp sống văn hóa của một thời. Hà Nội nay nhan nhản xích lô đạp dành cho khách du lịch chạy vòng vòng quanh khu phố cổ Hà Nội.

Người ngoại quốc danh tiếng nào đến Việt Nam thì cũng có dịp ngồi trên đó cả. Vợ chồng Brad Pitt và Angelina Jolie cũng có dịp ngồi xe xích lô cho biết mùi vị Việt Nam.

Nhưng cái đổi thay rõ nét nhất là cái áo dài con gái thay thế cho chiếc áo bà ba, chiếc quần hai ống rộng. Chẳng bao lâu sau, chẳng biết từ lúc nào toàn miền Nam mà đặc biệt các nữ sinh Trung Học, từ Sài gòn ra Trung, từ Sài gòn xuống Lục tỉnh. Chỉ áo dài là áo dài. Áo dài Trưng Vương, áo dài Gia Long, áo dài Nguyễn Bá Tòng, áo dài Nữ trung học Lê văn Duyệt, áo dài Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, áo dài Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, áo dài Nữ Trung Học Nha Trang và nhất là áo dài Đồng Khánh Huế.

Và nó cũng mở đầu cho thiên tình khúc tuyệt vời Ngày xưa … Hoàng Thị của Pham Thiên Thư:

Em tan trường vềĐường mưa nho nhỏ..Anh đi theo hoàiGót giày thầm lặngĐường chiều úa nắngMưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường vềCuối đường mây đỏBước em thênh thangÔm nghiêng cặp sáchVai nhỏ tóc dàiÁo em ngày nọPhai nhạt mây mầuChân tìm theo nhauCòn là vang vọng …

Nó biểu tượng cho cái gì tinh khiết, trinh nữ, tinh tuyền và mời gọi. Nó che dấu bằng hai vạt áo dài mà như thể mở, biện chứng kín mà hở. Nó mời mọc mà kín đáo chối từ, nó bày tỏ phái tính, sexy đến ứ cổ họng với nét nổi lên của chiếc quần lót hằn lên tuổi dậy thì. Không có y phục phụ nữ nào trên thế giới lại sexy đến như thế. Ngay cả sau này với mini-jupe cũng không sánh bì.

Nó không cần đến những Cardin, Courrèges, St. Laurent, Paco Robanne. Cùng lắm, nó chỉ thua Le Panty, Monokini, quần lót Le petit bâteau của thập niên 1970 Nhưng những thứ này phải “ăn gian” từng centimét mới có được như thế.

Áo dài không ăn gian. Cạnh đó là hàng nút bấm mong manh như lối ngõ vào bên trong nằm hở ra cạnh sườn. Nó không những chỉ là một nét đẹp con gái mà nó trở thành biểu tượng cho một nếp sống văn hóa Việt Nam.

Sau này, không biết bao nhiêu những tranh ảnh, bìa báo Xuân, báo Tết chụp hình các thiếu nữ trẻ miền Nam trong chiếc áo dài truyền thống đó. Và người ta có thể hãnh diện về điều này mà không có gì phải hổ thẹn khi nói đến. Tuổi thanh xuân thiếu nữ đi liền với nét đẹp con gái ấy.

Nó phản ánh thế hệ thanh thiếu nữ thời ấy mà hễ bất cứ ai không còn là con gái, xồ xề một chút, vùng đùi, vùng mông nở nang một chút là mặc áo dài thường khó coi.

Sự đòi hỏi của tôi có khắt khe quá chăng? Nhưng chính sự đòi hỏi khắc nghiệt ấy làm tăng giá trị chiếc áo dài miền Nam tuổi trẻ. Nhiều phụ nữ, các bà mặc trong các dịp lễ hội. Thấy làm sao.

Rất tiếc sau 75, ra ngoài đường, Sài gòn vắng bóng chiếc áo dài. Cũng là vắng bóng tuổi trẻ miền Nam? Hay tuổi trẻ miền Nam không còn nữa? Người ta không còn phân biệt ai là con gái, ai là đàn bà được nữa, đến như thể ai cũng là đàn bà, đến như thể ai cũng mất cả rồi.

Khi không còn những áo dài đó, Sài gòn buồn thiu. Như cây rừng không còn lá.

Tuổi trẻ miền Nam thời ấy biểu tượng vẫn là hình ảnh cô thiếu nữ mặc áo dài trắng quần trắng. Đừng thứ mầu khác, đừng xanh đỏ lò loẹt. Vén tà áo dài sang bên, hở một bên, kín một bên, cho thấy đùi trinh nữ, cho thấy tuổi dậy thì, hai đùi nhẹ khép lại khi bước đi hay khi ngồi trên chiếc xe vê lô sô lếch thời thượng.

Bây giờ, tôi không thấy những bước đi kiêu sa thiếu nữ như thế nữa. Đó là hình ảnh cô gái, mình ong thon thon ngồi trên chiếc xe Solex trông giống như một con bò ngựa biết bay. Phất phới, tung gió, nhẹ lướt, mái tóc hất lại đẵng sau, đầu buộc bím mầu xanh tím, để lại đằng sau những cái nhìn dõi suôi bắt không kịp. Và những đôi mắt thèm thuồng.

Ingarary gọi đó là một chuỗi diễn hành phái tính (Mascarade de la fénimité )

Giấc mơ em mặc jupe hồng … thôi rồi Sài Gòn ơi!

Xin mượn lời thơ của Nguyên Sa:

Có phải em mang trên áo bayHai phần gió thổi, một phần mâyHay là em gói mây trong áoRồi thở cho làn áo trắng bay?Em cười tà áo bay trênĐám mây ở dưới nỗi phiền muộn xaAnh ngồi chỗ hẹn hôm quaĐám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,Giấc mơ mặc áo lụa vàngNơi anh nằm ngủ có hàng Thùy dương(Nhẹ nhàng)

Trong khi đó thì những cậu con trai cỡi xe Vespa, đời ED, đôi kính mầu đen, chiếc áo Montagu, mầu xanh đậm rồ ga hay lượn uốn éo. Nếu Solex là con gái, thì Vespa là con trai. Nếu Solex là con bọ ngựa thì Vespa là con bọ hung. Solex là nữ tính, Vespa là nam tính.

Nếu con gái ăn quà thì con trai Bát phố. Bát phố phải chăng là nói nhại từ tiếng Pháp battre le pavé? Thôi thì là gì cũng được. Và xin mượn lại chữ nghĩa của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:

… Từ xa phố chợ đến giờChân thôi bỏ lệ gõ bờ lộ quen

Bát phố là một thứ giải trí chiều thứ bảy của con trai Sài gòn. Mà điều căn bản là có mặt. Làm gì, bận bịu gì cũng bỏ đi Bonard bát phố. Sinh viên, học sinh các lớp tú tài, lính tráng đi hành quân ở xa về, công chức các bộ, các nha đều đi dạo phố, ngắm người hay rửa mắt. Mà phần lớn bọn họ là độc thân, chưa có vợ con. Nếu sang một tí thì vào Givral ngồi, tàm tạm thì một ly nước mía Viễn Đông cũng xong.

Đi dạo phố trở thành một thói quen, một nếp sống của con trai Sài gòn. Ngoài Sài gòn, tôi chỉ thấy ở Huế có sinh hoạt bát phố tương tự. Nhưng ở Huế, số con gái đi dạo phổ kể là đông và đi từng nhóm hai ba cô. Họ sợ bị bắt nạt chăng? Cô nào cũng có chiếc nón không phải để che nắng, che mưa mà để che cái nhìn trộm của con trai. Gái Huế đi dạo trên đường Trần Hưng Đạo mới thật là một diễn hành phái tính. 10 lần ra Huế thì y như rằng ra đi là để lại một cái gì?

Con gái biểu tượng nhất, cái Look theo nghĩa bây giờ là hình ảnh cái thân hình dong, lưng thẳng, găng tay trắng, cặp kính mầu, áo dài trắng, phải áo dài trắng mới được, mới con gái, mới trinh nữ, mới thanh khiết. Vạt áo dài phía sau vắt ngang sang bên kia để hở một bên phần đùi trông cộn hẳn lên trên chiếc Vê lô solex mầu đen. Đi xe vê lô solex chứng tỏ con nhà khá một tý, sang trọng và đài các. Cái dáng ngồi solex trông rất con gái, rất phái tính.

Người phụ nữ sinh ra là để như vậy. Les femmes seraient faites ainsi. Quyến rũ bằng chính thân xác mình.

Nhờ áo dài đó mà phụ nữ, cô nữ sinh trở thành phụ nữ hơn. La robe lui permettait de devenir plus féminine. Phải nói là thời thượng và ấn tượng lắm. Cộng thêm cái thói ăn quà vặt. Ăn qùa vặt là rất con gái, rất trẻ, rất bắt mắt. Khi cô nữ sinh ăn quà thì tưởng là ăn quà thật. Nhưng đôi khi cũng chỉ là cái cớ sự cho sự trình diễn, sự được nhìn. Nó như chờ đợi một điều gì đó. Điều mà Thị Nở đã chờ đợi từ tuổi 15, 16 thời con gái, nay đà 30 và bao nhiêu thế hệ con gái cũng đã chờ đợi như thế. Như cơn mưa mùa hạ. Như chồi non hé nụ. Như em chờ anh lúc này. Chí Phèo chỉ đến hoàn tất công việc chờ đợi ấy.

Cuộc đời đôi khi đơn giản là như thế.

Vespa Sài Gòn (thập niên 1960)

Ngoài hai thứ đó ra, con gái cũng đi dạo phố. Con trai đi dạo phố là để ngắm. Con gái đi dạo phố xuất hiện như một trình diễn, ăn diện, mốt, kiểu để được nhìn, để được thừa nhận, để nhận phần lớn là những lời tán tỉnh, khen tặng.

Đó là cả một cái guồng máy của sự xuất hiện. L’engrenage du paraitre .

Và cuối cùng, thú vui giải trí chung cho cả con trai lẫn con gái vẫn là ciné và tiệm sách. Ciné là nơi hẹn hò để trai gái gặp nhau cuối tuần để trò chuyện, để tỏ tình, để lén lút hôn nhau. Những nụ hôn mật ngọt ấy. Quên sao được. Những mối tình của giới trẻ thời đó đến đó và dừng lại ở đó. Sau đó để lại một chút gì. Để kỷ niệm, để nhớ, để mãi mãi là như thế.

Nay gặp nhau cuối đời, lòng như chợt tỉnh, như chấu ủ bếp lửa bừng lên từ đám tro tàn. Gặp nhau muộn phiền, thương hoài ngàn năm.

Viết đến đây lại chợt nghĩ đến Nguyên Sa. Ông đã nói hộ cho tuổi trẻ Sài gòn:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mátBởi vì em mặc áo lụa Hà ĐôngAnh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng

Tuổi trẻ miền Nam là như thế. Lành mạnh mà không thiếu lãng mạn, tình tứ. Dắt tay nhau mà đi. Làm thơ tình. Gởi gắm nhắn nhe.

Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướngNàng đến gần tôi chỉ dám quay điCả những giờ bên lớp học trường thiTà áo khuất thì thầm chưa phải lúc (Tuổi mười ba)

Nhưng may thay, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên, giới trẻ, lúc bấy giờ đều có một giấc mơ là làm thế nào để có một miền Nam phát triển và phú cường để đối địch với miền Bắc.

Cafe Givral, Mở cửa từ năm 1950

Và mặc dầu còn có những bất cập đủ thứ, tôi vẫn phải nhìn nhận rằng, những năm tháng còn lại, kể từ ngày ấy, mỗi giây phút năm tháng sống, học hành, lớn lên thành người thời đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam vẫn là những năm tháng ân sủng cho tuổi trẻ của tôi và những bạn bè cùng trang lứa.

Chúng tôi đã lớn lên từ đó, trở thành người hữu dụng cũng từ đó.

Như lời Phạm Duy tỏ bày: ”Dưới thời Cộng Hòa thứ nhất, từ khi chế độ nhà Ngô thành lập và tiến dần tới thời thịnh trị rồi mạt vận, miền Nam, nếu chưa được là thiên đường của đông đảo văn nghệ sĩ đi tìm tự do thì cũng là nơi đất lành chim đậu. Một thế hệ văn nghệ sĩ mới đã thành hình và họat động dữ dội bên những vị đàn anh di cư từ miền ngoài. Phòng trà, tiệm bánh, quán nước như Kim Sơn, Mai Hương, La Pagode, Givral, Brodard … là nơi không hẹn mà văn nghệ sĩ tới gặp nhau hằng ngày.”

Trong 9 năm cầm quyền thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chỉ có 3 lần có những biến động chính trị. Nhưng chỉ riêng năm 1964, có 13 lần miền Nam rơi vào những biến động có thể làm lung lay nền Cộng Hòa. Nói như thế để thấy rằng sự ổn định chính trị nằm ở thời điểm nào.

Người nào không nhìn nhận những điều ấy thì chỉ thiệt thòi cho chính họ thôi, bởi vì họ tự mình bôi xóa tuổi trẻ của chính họ. Nhiều người đã bôi xóa như thế để chạy theo vài ảo tưởng chính trị, hoặc nếu ở ngoại quốc thì chạy theo những xu hướng thiên tả vốn chẳng dính dáng gì đến thực tế chiến tranh Việt Nam.

Phần tôi nghĩ rằng, chúng tôi không bước đi những bước đi đơn độc.

Chúng tôi có bạn đồng hành, đồng trang lứa, có những người lính, người sĩ quan VNCH cùng lớn lên ở đấy, đang xả thân thay cho chúng tôi. Và cho dù cuối cùng để mất miền Nam thì những giá trị tinh thần ấy vẫn còn đó.

PHAN NGUYÊN LUÂN thực hiện

Saturday, September 30, 2023

SỰ THẬT Ở ĐÂU ?

 Phan Nhật Nam

Daniel Ellsberg (ảnh: Owen Franken/Getty Images)

Lời Người Viết:

Vốn là người không hề sinh hoạt đảng phái chính trị trong quá trình quân ngũ ở Việt Nam trước khi đến Mỹ Tháng Mười Một 1993, sau ba mươi năm ở Mỹ, nay với tư cách Công Dân Mỹ gốc Việt bình thường, quả thật (cũng) không thể (có khả năng) nói lên điều đơn giản: Đã hiểu thế nào là Người/Việc (ngoại giao-chính trị-xã hội) của, từ Liên Bang Hoa Kỳ.

May thay, vô tình trong câu chuyện gần đây với một người bạn trẻ (so với tuổi 80 của người viết) – một người Mỹ có tư cách, nghề nghiệp đáng tin cậy – Giáo sư Peter Zinoman (chuyên về sử học/lịch sử Việt Nam) của Đại Học Berkeley (CA) cho thấy: Bi kịch Việt Nam có một đầu mối: “Dĩ Mỹ Vi Trung/Tất cả do từ, của, với quan điểm: Mỹ là Trung Tâm”. Phải, từ chủ điểm cốt lõi nầy, người viết (có thể) tìm hiểu, giải thích (với bản thân): Từ đâu? Tại sao có Bi Kịch/Chiến Tranh Việt Nam – suy ra (cho cùng) cũng thấy/hiểu thêm về tình trạng toàn cầu hỗn loạn hiện nay – cũng từ, tại, với Mỹ. Không sai.  

Một.

Ngày 16 Tháng Sáu vừa qua, nhân vật tiếng tăm trong giới truyền thông, báo chí Mỹ từ thập niên 1960 tên Daniel Ellsberg từ trần ở tuổi 92 (sinh 1931). Đây là một chuyên viên phân tích quân sự/quốc phòng Mỹ; từ kinh nghiệm phản chiến (chiến tranh Việt Nam trong giai đoạn 1964, 1965…) đã có một quyết định táo bạo (và “can đảm”): Cho tiết lộ 7,000 trang tài liệu về sự “dối trá lịch sử” của, từ (chính quyền, Quốc hội Mỹ) qua điều hành chiến tranh và thất bại (chắc chắn đã thấy tại 1975-Pnn) ở Việt Nam.

Cuộc chiến khiến nước Mỹ bị chia rẽ, tổn thương với hậu quả, hệ quả kéo dài trên nhiều mặt đến hôm nay, thế kỷ 21. Sự kiện xẩy ra vào năm 1971. Năm 1973, Daniel Ellsberg ra tòa vì tội vi phạm Đạo Luật 1917/Tội Gián Điệp có thể bị kết án đến 115 năm tù. Được bào chữa bởi một dàn luật gia thượng thặng của Trường Luật Harvard, Ellsberg (hẳn nhiên) được trắng án. Từ đấy, ông nổi danh là người hoạt động cho “Quyền Tự Do Báo Chí/Nhân Quyền”.

Ellsberg được trao tặng giải “Right Livelihood Award/Quyền Sống (của) Con Người” năm 2006. Năm 2018, tiếp được Giải Olof Palme (tên thủ tướng Thụy Điển bị ám sát 1986) do thành tích, ”chiến đấu can đảm cho, vì con người một cách sâu sắc”. Danh tính Daniel Ellsberg được sử dụng để nói về “lòng can đảm, tính trung trực” của giới trí thức, báo chí, truyền thông (thiên tả Mỹ). Sẽ trở lại chi tiết ở phần sau bài viết.

Cũng trong Tháng Sáu, theo tin báo The New York Times (ngày 23 Tháng Sáu): Jack Smith thẩm phán đặc biệt yêu cầu tòa liên bang dời ngày xử “Công Dân Hoa Kỳ/Cựu Tổng thống Mỹ tên Donald Trump” từ Tháng Tám đến Tháng Mười Một vì tội cất giấu 64 thùng hồ sơ “mật” nơi buồng tắm qua lần lục soát năm 2021 đã khám phá ra.

Như thế là thế nào? Một nhân viên chính quyền cao cấp của Bộ Quốc Phòng/Công dân Ellsberg cho phổ biến 7,000 trang hồ sơ (TUYỆT MẬT- Không những chỉ liên quan đến Chiến tranh Việt Nam, mà còn tiết lộ về chiến lược sử dụng bom nguyên tử) được đánh giá là hành vi hợp hiến (Tu Chính Án số 1) – Quyền thông báo đến quần chúng với tư cách là một công dân – Tuyên bố ngày 28 Tháng Sáu 1971 tại Văn Phòng Biện Lý Liên Bang Quận Massachusetts, Boston. Trong khi ấy “Công dân/Cựu Tổng thống Trump” lại bị (tội): “cất giấu hồ sơ “mật” nơi buồng tắm và không chịu hoàn trả đủ! – Vi phạm Nguyên Tắc (Đạo Đức) Pháp Lý – Không Ai Có Quyền Đứng Trên Pháp Luật!

Hai.

Từ 1964 (năm xảy ra biến cố Vịnh Bắc Bộ, 2 Tháng Tám 1964), thời điểm khởi đầu chiến cuộc Việt Nam (theo quan điểm của hầu hết giới học giả, chính khách, báo chí truyền thông thiên tả Mỹ) cho đến lần sụp vỡ miền Nam 30 Tháng Tư 1975), Daniel Ellsberg với tư thế một nhân viên cao cấp Bộ Quốc Phòng Mỹ, chuyên viên phân tích tình hình chính trị-quân sự-ngoại giao thuộc Tổ hợp RAND, canh cánh trong lòng mối ư tư…

Thoạt tiên, “nếu” (chắc chắn chứ không phải “nếu”-Pnn) chiến tranh Việt Nam là một “xung đột”, thì ông phải có nhiệm vụ giải quyết; nhưng khi thấy (đã) là một “bế tắc” (là nhân viên chính quyền cao cấp) thì (bản thân Ellsberg) phải tìm ra giải pháp (đưa nước Mỹ thoát ra) mà không phương hại đến quyền lợi quốc gia; nhưng khi thấy (rõ) ra là một “tội ác” (chữ của Ellsberg) thì (người trí thức đạo đức, cấp tiến Ellsberg –Pnn) phải chấm dứt ngay lập tức!

Chiều 1 Tháng Mười 1969, Ellsberg sáng suốt quyết định phải tìm cho ra lẽ với 7,000 trang hồ sơ (được) quyền nghiên cứu và chụp lại trong đêm tại nhà riêng. Ellberg chuyển 7,000 trang hồ sơ quốc phòng “tuyệt mật” cho báo The New York Times. Năm 1971, vụ án chính trị hình sự “Hồ Sơ Ngũ Giác Đài/The Pentagone Papers” nên thành. Năm 1973, Ellsberg ra tòa, (tất nhiên) được trắng án.

Ba mươi năm sau, 2002, Ellsberg thấy ra “The Pentagon Papers” chưa (đúng ra càng không-pnn) đủ vì: Không những chỉ chống đối chiến tranh (như đã xẩy ra 1964, 1968, 1972… để có ngày 30 Tháng Tư 1975) mà chiến tranh (tệ hại, xấu xa-pnn) nơi xứ sở gọi là Việt Nam ấy cần phải tìm hiểu hơn: Cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers được viết nên, tổ hợp xuất bản Viking Penguin Group, US, phát hành, phổ biến.

Để tìm “cho ra lẽ cuộc chiến” gây nhiều vấn nạn tai họa tại Việt Nam (1964-1975); từ quan điểm của cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, nhà phân tích quân sự-chính trị Daniel Ellsberg dựng lại (chi tiết) biến cố “tàu Mỹ bị tàu Bắc Việt tấn công” xẩy ra dưới quyền Tổng thống Johnson, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara [tại thời điểm Tháng Tám 1964, Ellsberg cũng đã dự phần (lớn) phụ trách].

Đấy là tối Chủ Nhật 2 Tháng Tám 1964, Hạm trưởng John J. Herrick chỉ huy khu trục hạm Maddox đang ở 60 hải lý ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, thuộc hải phận quốc tế, báo cáo bị ba tàu phóng ngư lôi Bắc Việt tấn công. Tàu Maddox bắn súng cảnh cáo, tàu Bắc Việt đáp lại bằng phóng ngư lôi và bắn súng đại liên. Cuộc giao tranh xẩy ra (hoàn toàn) trong bóng tối, chỉ do radar hướng dẫn; một máy bay từ hàng không mẫu hạm USS Ticonderoga được phóng lên yểm trợ. Kết quả trận đánh, ba tàu phóng lôi của Bắc Việt bị hư hại, bốn thủy thủ thiệt mạng, cùng với sáu người khác bị thương (tài liệu Hà Nội); không có thương vong về người hay thiệt hại vũ khí quan trọng của phía Mỹ. Tàu Maddox “vô sự” ngoại trừ một lỗ đạn duy nhất do đại liên 14.5.

Khuya rạng ngày 4 Tháng Tám 1964, hai khu trục hạm USS Turner Joy, USS Maddox tiếp tục nhiệm vụ kế hoạch DESOTO (Kế hoạch do thám, theo dõi các hoạt động của Trung Cộng, Bắc Hàn, Bắc Việt thành hình từ 1950 do Hải quân Mỹ thực hiện ngoài khơi vùng biển quốc tế).

Bản thân Ellsberg giữ nhiệm vụ ghi nhận các công điện tại văn phòng Bộ Quốc Phòng, Washington DC. Công điện gởi từ Đài Chỉ Huy Maddox/Hạm trưởng Herrick chuyển đến Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương/Đô Đốc Sharp (ở Hawaii), từ đây chuyển về Mỹ. Công điện đầu tiên được nhận gởi lúc 9:42 pm/giờ địa phương/USS Maddox – Tức 10:42 am/Washington DC – cách nhau 13 giờ được gởi bằng ưu tiên “Flash/Hỏa Tốc”. Công điện dồn dập được báo cáo (trực tiếp) từ Herrick: “Ngư lôi (của cộng sản) bị trượt… Một cái khác đang nhắm vào chúng tôi… 5 cái… 6 cái…”.

Cũng như trận chiến ngày 2 – Tất cả chỉ diễn ra trong bóng tối được theo dõi/điều động bằng radar; máy sonar. Cuộc giao tranh kéo dài hơn một giờ có phi cơ từ hàng không mẫu hạm lên yểm trợ. Đến chiều, Hạm trưởng Herrick gởi về Bộ Quốc phòng (ở Mỹ nhận lúc 1: 27 pm/giờ Washington DC) một công điện yêu cầu thực hiện tuần thám (khoảng 3, 4 giờ) bằng phi cơ trong ban ngày để tìm xem vết dầu loang, mảnh vỡ của thuyền phóng ngư lôi (của cộng sản) nhằm xác nhận (kết quả) cuộc giao tranh trong ngày 4 Tháng Tám có thật hay không?

Đến chiều (16:00/giờ Washington DC), Herrick với sự cẩn thận, nguyên tắc của một sĩ quan hạm trưởng nhận định: “Các chi tiết nhận được từ hoạt động (máy bay) cho thấy một bức tranh khó hiểu (về sự kiện ngày 4 Tháng Tám), mặc dù chắc chắn rằng cuộc phục kích ban đầu (ngày 2 Tháng Tám) là có thật.”

Tất cả đã quá đủ. Nửa đêm ngày 4 Tháng Tám (5 Tháng Tám ở Việt Nam), Tổng thống Johnson ra lệnh ngưng hệ thống truyền hình quốc gia để đọc một thông báo, qua đó Tổng thống Mỹ trình bày: “Một cuộc tấn công của các tàu Bắc Việt Nam nhắm vào hai tàu chiến Maddox và Turner Joy của Hải quân Hoa Kỳ”. Tổng thống Johnson yêu cầu chính quyền (phải) thực hiện một phản ứng quân sự. Ông nhấn mạnh cam kết với người dân Hoa Kỳ và chính phủ VNCH. Ông cũng nhắc nhở người dân rằng, Mỹ không mong muốn có chiến tranh.

11: 37 am, Tổng thống Johnson phát lệnh tấn công. Trong thực tế máy bay từ hàng không mẫu hạm Ticondegora đã xuất kích từ 11:20 Am (Đô Đốc Sharp thông báo với Bộ Trưởng McNamara. D.E. Secrets, p. 12). Chiến tranh Việt Nam như thế được/bị khởi động từ sự kiện ngày 2 và 4 Tháng Tám 1964 nơi Vịnh Bắc Việt được hợp thức hóa bởi lưỡng viện Quốc hội Mỹ thông qua Nghị Quyết 1145 (7 Tháng Tám 1964) đồng thuận với số phiếu gần như tuyệt đối (Hạ Viện: 416-0; Thượng Viện: 88-2) cho phép Tổng thống Johnson toàn quyền hành động, mở rộng chiến tranh trừng phạt cộng sản Bắc Việt, cứu nguy miền Nam, giữ vững Đông Nam Á.

Tóm lại – Nói vậy nhưng KHÔNG phải vậy (chỉ về phía Mỹ). Bài viết chuyển qua một phía khác – Cũng để tìm cho ra lẽ.

Ba.

Trích dẫn từ Đèn Cù (Người Việt Books, CA, US 2014) của Trần Đĩnh (1930-2022), cán bộ trung ương đảng viết báo Nhân Dân/cộng sản Bắc Việt từ 1950. Trần Đĩnh kể: “Ngày 1 Tháng Mười 1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thành hình sau khi Hồng Quân Trung Quốc chiếm xong Hoa Lục. Hơn hai tháng sau “bác Hồ” (đã là chủ tịch nước VNDCCH từ 2 Tháng Chín 1945) bí mật len qua vùng địch (vùng Pháp kiểm soát –Pnn) ở Phục Hòa, Cao Bằng đi Trung Quốc”.

Ông Hồ qua Tàu làm gì? Trần Đĩnh giải thích: “… Ông cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Kiểm thảo xong, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, góp ý kiến…

– Sao lại kiểm thảo?

– Là một chi bộ của quốc tế. Phải xin quốc tế cho nhận xét chứ!

Đĩnh kể tiếp và phân tích cặn kẻ: “… Nhưng hệ lụy đã nằm sâu bên trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: Vị trí đàn em, bên dưới, yên phận, biết ơn!”

Xuân Trường (Ủy viên trung ương đảng, thập niên 1950, 1960, 1970-Pnn) thêm nhận xét: “… Bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bác tự động nhận mình chỉ nêu được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ Tịch. Điều lệ thêm câu: Lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam…

Đĩnh kết luận: “Từ 1951, tuần nào báo Nhân Dân cũng có vài mẩu của CB (tức cụ Hồ) phổ biến mọi mặt của Trung Quốc… Dần dà đảng viên cộng sản Việt Nam lại tìm ra chỗ để tự hào được làm em của hai nước vĩ đại: Liên Xô anh cả và Trung Quốc anh hai!” (Đèn Cù, trang 47-51).

Từ 1951 đã là vậy huống gì đến năm 1954 với yểm trợ của Trung Cộng từ bát ăn cơm, bánh lương khô, đến khẩu pháo kéo vào trận địa, nên dẫu đã thắng lợi trận Điện Biên Phủ, 8 Tháng Năm 1954, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đã đích thân đến Liễu Châu nhận lệnh của Mao qua tám lần họp trong ba ngày (3-5 Tháng Bảy 1954). Cuộc họp đưa đến quyết định trọng đại về số phận Việt Nam dưới chủ trì của Châu Ân Lai nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông: Chia đôi đất nước Việt Nam, 20 Tháng Bảy 1954.

Nội dung Hội Nghị Liễu Châu (3- 5 Tháng Bảy 1954) đến nay chưa hề được công bố, chỉ biết đã tác động, quyết định trực tiếp đến Hội Nghị Genève để chiếc kim đồng hồ của phòng hội chính được giữ yên ở số 12 đêm 20 rạng ngày 21 Tháng Bảy 1954 đúng với lời hứa của Thủ tướng Mendès France trước Quốc hội Pháp là sẽ giải quyết xong vấn đề Đông Dương sau một tháng nhậm chức. Hội nghị cũng kết thúc với điểm then chốt là xác định đường ranh giới chia cắt hai miền Nam-Bắc Việt Nam tại vĩ tuyến 17, dọc theo sông Bến Hải, bắc thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Sở dĩ Thủ tướng Pháp Mendes France có cam kết cụ thể trên vì từ 20 Tháng Sáu (ngày nhậm chức) ông đã rất nhiều lần gặp riêng Thủ tướng Châu Ân Lai tại thủ đô Thụy Sĩ; cụ thể trong phiên họp ngày 17 Tháng Bảy (còn lưu giữ đoạn thâu băng), Thủ tướng Châu xác nhận: “Tất cả những gì chúng ta (Trung Cộng, Pháp) quan tâm là “hòa bình” trong khu vực (Đông Dương-Pnn). Nhưng nếu Mỹ cố kết vùng Đông Nam Á bao gồm ba nước Đông Dương vào trong một hiệp ước thì tất cả sự hợp tác giữa chúng ta trở thành vô ích” – Tức là: Đừng để cho Mỹ có cớ vào Đông Dương mà Việt Nam/Miền Nam Việt Nam sẽ là một đầu cầu rất thuận tiện.

Từ Tháng Bảy 1954 đến nay, Tháng Bảy 2023 là 69 năm – Tất cả vấn đề của Đông Nam Á/Ba nước Đông Dương/Nam-Bắc Việt Nam – Là Mỹ và Trung Cộng (đã/đang/sẽ) ứng xử với nhau như thế nào? Làm sao? Với ai?

Vấn đề/Vấn nạn vừa kể ra trong năm xa xôi 1954 kia không hiểu những nhân sự cỡ Eisenhower, Kennedy (lúc ấy) có thấy ra không? Nhưng những kẻ gọi là “Tổng thống Mỹ” cỡ Bush con, Clinton, Obama, Trump, Biden hiện tại chắc chắc hoàn toàn bù trất! Hỏi thử chuyên viên phân tích tình hình của Tổ hợp RAND Daniel Ellsberg cho dẫu đậu đến hết bằng cấp cao nhất của Harvard, năm ấy vừa qua 20 tuổi biết được những gì? Mấy ông thầy của “cậu Daniel” xa xưa kia cũng chỉ chịu ú ớ! Nhưng khổ thay: Dĩ Mỹ Vi Trung – Người trí thức tiến bộ Daniel Ellsberg phải “can đảm/sáng suốt” cứu nước Mỹ – Pentagon Papers/Hồ Sơ Ngũ Giác Đài được giương lên ngất ngất với Nghị quyết Vịnh Bắc Việt/Tonkin Gulf Resolution 1145.

Kết Luận:

Sau lần ký hiệp định ngưng chiến 20 Tháng Bảy 1954, đảng cộng sản Việt Nam đã “tạo cớ” cho Mỹ vào thế chân quân đội Pháp tại Đông Dương. Và kẻ được hưởng lợi lớn nhất lại là Trung Cộng vì bấy giờ đã có thể nói chuyện với siêu cường Âu-Mỹ trên thế mạnh.

Vào Việt Nam, nhưng chỉ sau mấy năm, Chính phủ Mỹ đã không giấu nổi nôn nóng khi tình hình xã hội trở nên hỗn loạn qua biến cố Phật Giáo ở miền Trung (Tháng Mười Một 1963), gây nên hậu quả (tất nhiên) khiến hình quân sự trở nên xấu trong năm 1965. Cuối cùng, khi người lãnh đạo miền Nam bị thanh toán qua đảo chính 1 Tháng Mười Một 1963; Mỹ không còn trở ngại trong việc mở rộng chiến tranh tại Việt Nam. Để chính thức hóa lần can thiệp quân sự, Toà Bạch Ốc “đã nại” đến biến cố vịnh Bắc Việt như Phần Một đã trình bày.

28 Tháng Ba 1965 đổ quân lên Đà Nẵng, tuy nhiên từ 15 Tháng Tư 1967 đã thành hình cuộc biểu tình phản đối chiến tranh lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ với hàng trăm ngàn người xuống đường nơi khu Manhattan, New York; 23 Tháng Mười 1967 biểu tình lan rộng tới trước Ngũ Giác Đài, đối mặt Tòa Bạch Ốc với cờ của Mặt Trận Giải Phóng, ảnh Hồ Chí Minh và tấm bảng buộc tội Tổng thống Mỹ: “Johnson War Criminal”.

Chiến dịch/đúng ra là chiến lược gọi là “phản đối chiến tranh (ở Việt Nam)” không chỉ tác động về mặt xã hội-văn hóa trong quần chúng Mỹ nhưng là (lại) nguồn mối/hậu quả/hệ quả của một chiến lược lớn: Thông cáo Thượng Hải 1972 được ký kết giữa Nixon và Châu Ân Lai hiện thực nền tảng ngoại giao cho tám đời Tổng thống Mỹ (bất kể Cộng Hòa hay Dân Chủ). Năm 1995, tại Hà Nội, cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara than vãn với Tướng Giáp: “Tôi (đã) sai. Tôi sai quá sức/Wrong, terribly wrong”. Hóa ra – Vào cũng bởi Mỹ/Ra cũng với Mỹ – Chết đến 58,220 Người Lính. Đến khổ! Không phản chiến (cũng) không được?!

___________

Tháng 7, 2023 – 69 năm sau Hiệp Định Genève (20 Tháng Bảy 1954-2023)

Chia đôi đất nước Việt Nam

Saturday, August 12, 2023

MỘT CÁI NHÌN VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

(trích Hồi ký “Tình yêu hiện sinh”)

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Cách mạng tháng Tám có cần thiết hay không? Nếu không có đảng Cộng sản và Hồ chí Minh không sinh ra, thì liệu chính phủ Trần trọng Kim có đem lại nổi độc lập, thống nhất cho nước Việt nam hay không? Tôi nghĩ rằng được. Sau khi Nhật đầu hàng, chắc Pháp trở lại, song tôi nghĩ Bảo Đại và nhóm Trần trọng Kim có đủ sáng suốt để tạo một Việt nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, hoặc kiểu Pháp-Việt đề huề như cụ Phan chu Trinh khởi xướng. Rồi từ từ với trình độ dân trí phát triển, thế giới tiến bộ, độc lập, tự do, thống nhất chắc chắn sẽ đến. Quả nhiên, khi chính phủ Pháp yêu cầu vua Bảo Đại về chấp chánh, đã phải ký với vua, bải bỏ các hiệp ước thời bảo hộ và thuộc địa, cả việc trả lại Nam Bộ, mà Pháp đã từ chối trong modus vivendi ký với Hồ chí Minh.

Bs Phùng văn Hạnh

Năm 1953, ở Đà-lạt, tôi tình cờ nói chuyện với một cựu nhân viên trong phái đoàn Pháp. Ông nhắc lại chuyện gặp phái đoàn Phạm văn Đồng tại Đà-lạt năm 1946. Pháp nói là họ trở lại để hợp tác chứ không phải tạo lập lại chính sách thuộc địa. Pháp có khoa học kỷ thuật, Việt nam có tài nguyên và nhân công. Một phát triển chung trong khối Liên hiệp Pháp sẽ có lợi cho đôi bên. Song Đồng với đầu óc thiển cận và sô vin (chauvin) chỉ đòi độc lập, thống nhất hoàn toàn. Đồng lúc ấy trong đầu chỉ biết cách mạng vô sản, chứ đâu phải là một nhà chính trị mềm dẽo và có kiến thức cao. Cha của người bạn tôi, xưa kia có học chung với Đồng ở Hà-nội. Trong một cuộc chơi đá cầu, Đồng thua, trở nên cay cú và đá vào hạ bộ của ông. Ông kết luận một người không có “fair play”(ngay thẳng) như thế không thể là một nhà chính trị tốt. Mitterand, lúc sang Việt nam thăm Điện biên phủ, đã hối tiếc, nếu là ông, sẽ tránh được cuộc chiến tranh. Tạm ước Paris cũng xác định nước Việt nam mới, có chủ quyền đến tận Bình thuận. Pháp giữ Nam bộ trong 5 năm, sau đó sẽ có trưng cầu dân ý. Nếu dân Nam bộ thuận trở về trong lòng dân tộc sẽ có thống nhất. Hồ đã chọn giải pháp chiến tranh, nên khi ở Pháp về sau hội nghị Fontainebleau, đã xé tạm ước, đánh úp quân Pháp đêm 19-12-1946, vì Lénin đã dạy chỉ trong chiến tranh, rối loạn, đảng cộng sản mới diệt được phe quốc gia và vững mạnh lên. Sau 10 năm kháng chiến, năm 1954, Miền Bắc chỉ có chủ quyền đến sông Bến hải chứ không phải Bình thuận. Đúng là điên khùng, xem quốc tế CS là mục đích, còn quốc gia dân tôc là phương tiện.

Paul Bert, toàn quyền Pháp, là một trí thức nhân hậu và là một khoa học gia. Ông muốn thực hiện một chính sách khai hóa ở Việt nam. Chính ông đã có ý mở trường Đại học Hà- nội mà sau này Paul Doumer thực hiện. Ông nói với giới trí thức Việt nam là chế độ thực dân là một tất yếu lịch sử vì giá sử phương Đông tiến bộ hơn phương Tây thì Phương Đông sẽ chiếm cứ phương Tây để khai thác. Hung nô, Mông cổ đã chiếm đóng phương Tây trong quá khứ. Nếu nước Pháp trung thành với tinh thần nhân hậu cuả văn hóa Pháp, thì phải chia xẻ hiểu biết, kỹ thuật, cho Việt nam và đưa Việt nam đến phú cường. Có một bài báo Paris Match, tiếc rằng chế độ thực dân chấm dứt quá sớm. Khoa học gia Bỉ tìm ra một phương pháp làm cây chà là sản xuất dầu 10 lần hơn thường. Song không còn thuộc địa để ứng dụng. Nếu Tây phương còn giữ thuộc địa ở Phi châu, có thể là họ làm Phi châu phồn thịnh hơn hiện giờ, bởi vì các lãnh đạo mới của Phi châu mang tính cách độc tài cố hữu thời bộ lạc, lại tham nhũng. Dĩ nhiên với kinh tế thị trường, các công ty kỷ nghệ mẫu quốc sẽ mở công xưởng, ở xứ thuộc địa, đâu cần phải kêu gào đầu tư ngoại quốc như hiện nay.

Hồ huyênh hoang: “chúng ta quyết giành cho được độc lập, thống nhất dù cho phải sống 30 năm trong khói lửa”, khi đáp lời mời của Johnson mở hoà đàm. Đến nổi báo chí Tây phương phải ta thán: “Đệ nhất, đệ nhị thế giới chiến tranh cũng chỉ kéo dài 5, 6 năm, nhân loại đã vô cùng mệt mỏi. Thế mà già Hồ ung dung đưa dân tộc Việt Nam vào một cuộc chiến tranh trường kỳ 30 năm. Báo chí Mỹ đã chế giễu lời nói sắt máu ấy với câu chuyện hài hước: “Ông Mỹ cha sau khi chiến đấu 10 năm ở Việt nam về, kêu Mỹ con lên đường thế mình trong 10 năm nữa. Nhưng chưa hết. Phải một thế hệ Mỹ cháu lên đường, chiến tranh Việt nam mới chấm dứt”.

Hồ không ham hòa đàm, chỉ ham máu chảy. Máu thịt dân Việt Nam Hồ xem như là của riêng, đem ra phung phí thoả thích để đạt những mục tiêu của Quốc tế vô sản. Riêng Lê Duẩn, kẻ kế thừa cũng nướng 10 triệu thanh niên (theo tiết lộ của bà vợ) trong công cuộc “xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Theo nhà triết học Pháp Jean Francois Revel, Hồ đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. “Mục tiêu của Hồ không phải là Việt Nam độc lập, mà sự hội nhập vào Quốc tế CS. Chủ đích của ông không phải là giành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền lựa chọn người lãnh đạo, quyền người dân chọn luật pháp và lối sống của mình. Ông chỉ nhắm cưỡng bức nhân dân chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả những đặc điểm của nó: giết người không cần luật pháp xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong Goulag cải tạo, quần chúng chết đói và tham nhũng của lãnh đạo”.

“Hồ chí Minh là một trong những người cứng rắn nhất khi áp dụng phương pháp cai trị kiểu độc tài CS suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người như là khát vọng tự do, phồn thịnh, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả những ý nguyện ấy vào những mục tiêu trái ngược với những khát vọng nói trên: ông ta đã lợi dụng quần chúng”

Cách mạng tháng Tám thực không cần thiết. Kháng chiến chống Pháp có thể tránh được. Xem như các nước Phi luật Tân, Thái Lan, Mã Lai v.v được độc lập mà đâu phải đi qua biển máu như Việt Nam. Tứ cường sau đệ nhị thế chiến đã cam kết trong “Hiến chương Đại Tây dương” trả lại tự do độc lập cho các xứ thuộc địa. Anh, Pháp, Hòa Lan, đều giữ lời hứa. Năm 1949, Pháp đã trao chủ quyền độc lập, thống nhất cho Quốc gia Việt Nam, với sự toàn vẹn lãnh thổ từ ải Nam Quan, đên Mũi Cà Mâu cho Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 25-04-1956 người lính Pháp cuối cùng rời Nam Bộ (thời Ngô đình Diệm) chấm dứt chế độ thực dân Pháp sau 72 năm (1884-1956). Nếu không có họ Hồ phá đám, với chính phủ Trần trọng Kim, thì độc lập, thống nhứt nước ta sẽ hoàn thành vào khoảng 1948.

Chúng ta có thể bác bỏ dễ dàng luận điệu của Mao là chính quyền thoát thai từ một thùng thuốc súng. Bạo động là cốt lõi của nguỵ quyền CS. Sao phải áp dụng những lề lối côn đồ, cướp của giết người? Gandhi đã giành độc lập cho Ấn độ bằng bất bạo động. Mandela giành tự do cho người da đen Nam Phi cũng bằng bất bạo động. Cụ Phan chu Trinh cũng dùng bất bạo động để tranh đấu người Pháp trả tự do độc lập cho nước nhà. Hiện nay nhiều thức giả đã tìm thấy chân lý nầy và ca tụng sự sáng suốt đi trước thời đại của cụ. Cụ Phan khi ở Pháp đã khuyên Nguyễn tất Thành là đừng theo thuyết CS, vì thuyết ấy còn mơ hồ, và chưa được thực tế kiểm nghiệm. Thành cho là cụ Phan thủ cựu, lạc hậu. Cụ Phan đã gọi Thành là “tử mã lộc thạch” nghĩa là ngựa non háu đá. Nói chung Đảng CS Việt Nam phần lớn trình độ văn hóa lớp ba ngu dốt, bị mê hoặc bởi một lý thuyết ảo tưởng, sắt máu. Giết hại các đảng phái đối lập, tiêu diệt tôn giáo, cải cách ruộng đất, đày ải trí thức, chôn vùi nhân tài, chủ động hai cuộc chiến tranh vô ích chống Pháp, chống Mỹ, đẩy hàng triệu thanh niên ưu tú vào chỗ chết.

Tóm lại nước ta thật bất hạnh rơi vào tay CS để chịu 30 năm điêu linh, chiến tranh, tàn phá, máu chảy thành sông, đống xuơng vô định. Người dân gánh chịu muôn vàn khổ cực. Tội này của Hồ chí Minh và tập đoàn CS, muôn đời bị nguyền rủa, lịch sử lên án.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh