Friday, April 7, 2023

NGƯỜI LÍNH/NGƯỜI DÂN MIỀN NAM HIỆN NAY ĐANG Ở ĐÂU ?

PHAN NHẬT NAM

Hận Thù là một yếu tố (rất cần thiết-Pnn) của chiến đấu:  Mối Thù không đội trời chung với đối phương thúc giục (đảng viên cs-Pnn) 

vượt qua những giới hạn tự nhiên của Con Người, nhằm tạo nên bộ máy (giết người-Pnn) toàn hảo, lạnh lùng, mạnh mẽ, và có hiệu lực! Bộ đội cộng sản phải đạt được nhự vậy.

Che Guevara: “Hãy tạo thêm nhiều (Chiến tranh) Việt Nam”  -Tháng 7/1967.

Dẫn Nhập: Sau lần kết thúc cuộc chiến 1960-1975 nơi Miền Nam, sự nghiệp của “đảng/ngườicộng sản” không ngừng lại với ngày 30 Tháng Tư, 1975 ở Sài Gòn, cuộc tận diệt (người/chế độ Miền Nam) như bài hát “Giải Phóng Miền Nam chúng ta thề quyết tiến bước. “Diệt đế quốc Mỹ, xóa tan bè lũ bán nước…” tiếp tục được thực hiện dưới nhiều hình thức, những mức độ khác nhau.

Mà nay, 48 năm sau 1975, trận chiến không khoan thứ, không cân sức (và vô ích) nầy vẫn được tiếp tục với những đối tượng gọi là “kẻ thù” nơi Miền Nam. Đấy là “những thế hệ “Người Lính/Công Dân VNCH” trước 30/4/1975 PHẢI luôn được/bị tồn tại – Nay (nếu) còn sống thì đã, đang là những lão nhân ở độ tuổi 60, 70, 80, 90… với năng lực vật chất, tinh thần rơi rớt còm cõi trong cảnh sống cuối đời.

Trong cùng lúc, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, thành phần đã rời bỏ  nước sau 30/4/1975 với tư cách “Tỵ nạn Cộng sản” cũng dần mai một. Tuy nhiên thành phần “kẻ thù” kia vẫn tiếp tục/đang hiện diện/phải tồn tại và luôn “bị tấn công” nhằm gây nên “chất men chính nghĩa” để người/chế độ cộng sản ở Miền Bắc/trong nước đạt được “Tính Chính Danh/Tính Đảng/Đảng CS”. 

Một. 

“Đường vinh quang xây xác quân thù!” – Tiến Quân Ca – Văn Cao 

Có người ở Hà Nội sau 1975 đã đưa đề nghị: Nên xét lại nội dung của Tiến Quân Ca (Văn Cao, 1944) vì đẫm máu quá, không phù hợp với thời đại/khẩu hiệu chiến lược xây dựng (hòa bình) sau lần “Đại thắng Mùa Xuân 1975”. Cũng bởi, chiến lược xây dựng XHCN đã đưa cả nước xuống hố bần cùng.

Thế nên, phải tiến hành “Đổi Mới hay là Chết/Chết Thiệt” từ Đại hội Đảng VI, 1986. Không biết đề nghị thật hay giả, được bao nhiêu phần khả tín, nhưng rõ ràng Quốc ca của đảng/nhà nước VNDCCH (1945-1976)/CHXHCNVN (1976…) quá đẫm máu – Máu Quân Thù – Qua bài hát nầy có thể nói: “Không có “Quân Thù” đảng CSVN không (có cớ) tồn tại được”! Sống/Cách Mạng/Giết Người là Một.

Do dung lượng của bài báo, bài viết chỉ giới hạn trong “sự nghiệp của đảng/bác ta”. Vì “bác/đảng ta” có cách (giết người) riêng mà nạn nhân trước, sau khi chết cũng không biết tại sao? Vì đâu? Cũng không đâu trên thế giới mà hình ảnh, hình tượng người lãnh đạo bày ra cùng khắp như ở Bắc Hàn và Việt Nam?! Trong sách vở, bài hát, tài liệu, văn hóa lềnh kênh, dày đặc. Nhà chùa đã thành “nhà (thờ) Bác Hồ”. Bàn thờ tổ tiên nên thành “bàn (thờ) Bác Hồ!” Người viết  không hề nói quá.  






















Bàn thờ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh tại chùa Ba Vàng. Ảnh: Báo Xây Dựng

Muốn hiểu chuyện sau 1975 nơi Miền Nam, cũng cần nên nhắc lại sự kiện, sau khi cướp chính quyền (8/1945), trước và trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954), “bác/đảng ta” đề ra tiêu chuẩn để gọi kẻ thù gồm: “Phát-xít Nhật và bầy chó đê hèn của chúng”; “đảng phái phản động/bọn phỉ người Hoa/thực dân xâm lược”, và “trí/phú/địa/hào đào tận gốc, trốc tận ngọn” từ nông thôn, làng, xã Bắc Việt Nam! Và giết/giết thật không nương tay.

Cải cách ruộng đất 1953-1956 tại nông thôn Miền Bắc là một điển hình. Nếu giai đoạn trước, sau 1945-1954 nầy, lượng người bị giết là do yêu cầu từ cuộc “kháng chiến chống thực dân Pháp” quá xa xôi, thì trong giai đoạn chiến tranh của thế kỷ trước (1960 -1975) danh mục kẻ thù được thay đổi, trở thành “Mỹ-Diệm; Thiệu-Kỳ” chung trong một tổng thể ”Ngụy Quân-Nguỵ Quyền/Đế Quốc Mỹ xâm lược”. Nên mãi đến Tháng Tư 1975, “Đế quốc Mỹ xâm lược” vẫn còn nguyên hiện diện để một gã trẻ tuổi tên là Nguyễn Văn Thạc kêu lên lời đòi máu: “Thằng mỹ (không viết hoa-pnn) xâm lược thế nào? Tôi muốm đâm lưỡi dao vào trái tim đen đúa của nó!” trong sách “Nói với tuổi hai-mươi”.

Không phải chỉ riêng Thạc, mà một tên tuổi khác được mệnh danh là “nhân vật phản tỉnh/chống đối chế độ/chế độ cs Hà Nội”, Dương Thu Hương (không rõ cường độ chống đối giới cầm đầu nơi Hà Nội thực hư bao nhiêu) nhưng cách Dương Thu Hương mô tả về hành vi bạo ngược của lính VNCH thì không còn chữ nghĩa nào cho đơn vị con người/“Người Lính VNCH”.

Trong Tiểu Thuyết Vô Đề, Dương Thu Hương kể: ”Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.. Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo (Lính VNCH-Pnn) – Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết! (Dương Thu Hương -Tiểu Thuyết Vô Đề-Văn Nghệ, Nam Cali, 1991). 

Cách tố cáo “mổ bụng, xẻ gan, cắt đầu vú, xẻ cửa mình (phụ nữ)..” của Dương Thu Hương (dẫu đã một lần ngồi khóc trên đường phố Sài Gòn, ngày 30/4/1975 vì chứng kiến “một xã hội văn minh (Sài Gòn) bị đánh sập bởi một chế độ man rợ (Hà Nội)); hoặc lời nguyền “Đâm lưỡi dao vào trái tim đen đúa của thằng mỹ” trong sách “Nói với tuổi hai-mươi” của NVThạc là những hình ảnh đã được “chính thức hóa/hình tượng hóa” khi mô tả “bọn lính mỹ-ngụy”- (Lưu ý: Không bao giờ viết hoa-Pnn) cho dẫu kể từ 1970 bắt đầu Việt Nam Hóa Chiến Tranh – Lính bộ chiến Mỹ không còn hoạt động hành quân. Và cụ thể, ngày 27 Tháng Ba 1973 toán lính Mỹ cuối cùng mặc y phục làm việc văn phòng/ka-ki vàng ở Tân Sơn Nhất rời Việt Nam dưới sự giám sát/đếm từng người của Thiếu tá Bùi Tín – Nhắc lại chính xác: Ngày 27 Tháng Ba 1973. 

Năm 1975, Thạc được “20” tuổi; thế nên, năm 1970 ở Hà Nội chắc chẳng ai dạy cho thiếu niên Thạc biết được: 1970 thằng lính mỹ không còn hoạt động trên chiến trường; qua 1973 thì “sạch bóng Mỹ xâm lược”. Dương Thu Hương thì lại càng “ngớ ngẩn”: Lực lượng phi quân sự (Biệt kích) Miền Nam, các toán “Biệt Kích Hắc Long” của Sở Công Tác; “Biệt Kích Lôi Hổ” của Sở Liên Lạc thuộc Nha Kỹ Thuật hoạt động trên vùng biên giới Lào-Việt, dọc Đường mòn HCM (như trong TTVĐ của Dương Thu Hương mô tả) thông thường quân số chỉ từ 4-7, 8 người phải áp dụng tiêu lệnh tiên quyết: Tuyệt đối giữ bí mật/Bắt buộc tránh đụng độ! Với tiêu lệnh chỉ đạo tối thượng nầy, hành quân ngắn hạn (để trở về) nhóm nhỏ Biệt kích lấy đâu điều kiện, hoàn cảnh để đi hiếp và cắt đầu vú (sáu) nữ giao liên?!              

Hai.

Kế hoạch lăng nhục tố cáo “bọn Ngụy Sài Gòn” luôn tiếp tục!

Vào thời kỳ sau chiến tranh (1960-1975) rất lâu, kéo dài qua thế kỷ 21, kế hoạch lăng nhục, tố cáo đối với Người Lính Miền Nam vẫn phải được tiếp tục. Kế hoạch nầy được người/chế độ cs chuẩn bị rất kỹ, tuyên truyền, phổ biến rộng khắp– Theo nhận xét khách quan của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (ở Úc – Không thuộc thành phần Ngụy Quân-Ngụy Quyền trước 1975): “Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi (NVT) đoán (đoán rất trúng-Pnn) người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mỹ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người…”.

Xin xem tiếp nhận xét của Tưởng Năng Tiến (Cũng không là Ngụy Quân-Ngụy Quyền trước 1975): “..đây cũng chảng phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc (1975-Pnn) “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và sỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ (Người Lính VNCH-Pnn) vẫn còn là những kẻ thù ác độc và nguy hiểm”. Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn “Chuyện Vui Điện Ảnh” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (Sinh 1976; viết văn bắt đầu trước, sau 2000-Pnn).

Nguyễn Ngọc Tư viết về “tai nạn nghề nghiệp” xẩy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam: “Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn…” Nhà văn nữ trẻ tuổi gốc người Miền Nam mô tả hình ảnh lính ngụy.. “Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được.

Hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút…” Chú Sa nhập vai lính Ngụy qua vai Thiếu Úy Cón hay đến nỗi: “Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó (đồ rằn ri-Pnn) coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai (NNT- Tai Nạn Nghề Nghiệp).

Hai diễn viên Thương Tín và Nguyễn Chánh Tín đã bôi xấu hình ảnh sĩ quan VNCH qua phim ảnh

Sinh năm 1976, viết văn trước, sau 2000 mà mô tả “lính ngụy ác ôn như thế” thì quả thật xứng đáng là “gương mặt (viết văn) trẻ trong năm 2001”. Bản thân Nguyễn Ngọc Tư hẳn không biết được những điều (rất thực tế) đơn giản: Thiếu úy Cón (từ tưởng tượng phong phú của một cô gái nhỏ lớn lên từ thôn quê Miền Nam) KHÔNG HỀ CÓ trong tập thể sĩ quan giữ chức vụ Phân Chi Khu Trưởng ở các địa phương Miền Nam.

Phân Chi Khu Trưởng không có quân phục rằn ri (của Biệt Động, Nhẩy Dù, TQLC), và nhận chỉ huy trực tiếp bởi hệ thống Chi Khu Trưởng (cấp Thiếu, Trung tá)-Tiểu Khu Trưởng (Trung, Đại Tá). Nên một Thiếu/Trung úy giữ chức vụ Phân Chi Khu Trưởng dẫu “ác ôn” đến độ nào cũng không thực hiện được thành tích “cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai”! Không bao giờ có được! Không hề có!! Khổ thay, “nhà văn Nguyễn Ngọc Tư” là sản phẩm thuần thành lớn lên từ mái trường gọi là xã hội chủ nghĩa (hoàn chỉnh) sau 30/4/1975! Biết trách ai giờ đây?! 

Nhân vật gọi là Thiếu úy Cón của Nguyễn Ngọc Tư không phải tự nhiên hình thành?! Thiếu úy Cón được “tái sáng tạo” từ “bọn sĩ quan Ngụy hèn kém” trong Tháng Ba Tây Nguyên của Nguyễn Khải (1930-2008). Khải là “nhà văn lớn” của Hà Nội mà nhà phê bình Vương Trí Nhàn ở đấy có nhận định: “Một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn”. Và sau khi Khải chết (2008) thì giới viết văn ở Hà Nội đều đồng ý: “Nguyễn Khải là người nhát, quá nhát. Khải chỉ là khôn vặt, một thứ “tiểu trí” mà thôi.”

Nguyễn Ngọc Tư đến 1976 mới ra đời (ở thôn quê Miền Nam), nên chắc không thể có được nhận định “sáng suốt/chính xác” như giới viết văn/lãnh đạo văn nghệ kia (ở Hà Nội) đối với Nguyễn Khải, nên cô ta đã có kết luận chắc nịch về “bọn ngụy quân”: “Cái “tai nạn” riêng của chú Sa (qua vai thiếu úy Cón) không chỉ xẩy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ…”, “Nhưng còn hàng triệu thằng lính miền Nam cùng vợ con, thân nhân của chúng – không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông (vốn người Miền Nam) mà còn bị Nhà nước Cách mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!” – Nhận định của Tưởng Năng Tiến.  

Ba. 

Chính sách triệt hạ “Ngụy Quân-Ngụy Quyền-Ngụy Dân” 

Ca sỹ trẻ tuổi Hanni Phạm, công dân Úc gốc Việt thuộc nhóm NewJeans tham dự Lễ trao giải The Fact Music Awards 2022 ngày 08 Tháng Mười 2022 tại Seoul, Đại Hàn là tâm điểm của lời kêu gọi “tẩy chay” vì gia đình Hanni bị đánh giá là “Lý lịch không sạch/gốc Việt Nam Cộng Hòa” – Quốc gia bị cộng sản Bắc Việt đánh chiếm từ 30/4/1975. Cháu Hanni bị cáo buộc “tội”: “Mang tư tưởng chống Cộng cực đoan, xuyên tạc lịch sử đất nước, và cổ vũ hành động xâm lược, thảm sát của lính Úc tại Việt Nam trước 1975…”

Hanni Phạm thuộc “Thế hệ thứ ba/công dân Úc gốc Việt” – Thế hệ người Việt sinh trưởng ở hải ngoại sau 1975 hoàn toàn không liên hệ với Người-Chế Độ VNCH trong tất cả mọi yếu tố, điều kiện chính trị, xã hội, văn hóa. Nhưng bởi Hanni là “thành phần chủ yếu-đối tượng chính của Nghị quyết 36” Vì “Đảng và Nhà nước luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời, và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam..” 

Do nhận định (đúng thực tế) nầy, Hà Nội đã đề ra chính sách (rất cần thiết để thu lợi lớn) qua Nghị Quyết 36: “Không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài..” Nhưng cuối cùng, tất cả những nội dung “tốt đẹp” nầy qua sự kiện “tố khổ” Hanni Phạm với tội danh “TỘI VNCH” đã bày ra sự thật tệ hại: Nghị Quyết 36 hoàn toàn là một nội dung/tinh thần man trá. 

Sự việc tố khổ Hanni Phạm mang “tội VNCH” như trên không xẩy ra đơn lẻ, riêng biệt đối với một cá nhân nhỏ tuổi trong giới ca nhạc, nhưng xẩy ra cùng lần, đồng hòa nhịp vào kịch bản ác độc, lạc điệu, hạ tiện: Đầu Tháng Hai 2023, dịp Tết Âm lịch Quý Mão, nơi đồi Charlie ở Kontum, chiến địa Cố Đại tá Tiểu đoàn Trưởng 11 ND Nguyễn Đình Bảo đã hy sinh, 14 Tháng Hai 1972.

Sau nửa thế kỷ tàn cuộc binh đao, chiếc miếu nhỏ trên Đồi Charlie, nơi nhang khói cho anh hồn tử sĩ tử sĩ quân đội VNCH (kể cả người chết của quân đội Miền Bắc/Ai phân biệt cho người chết thuộc về bên nào?) đã bị đập phá tan nát. Xung đột quân sự Bắc-Nam, vết thương chiến tranh tưởng như đã được khép lại sau hơn 50 năm, nhưng hóa ra vẫn bị khoét sâu, tươm máu. Chiến trận Charlie, Tháng Tư 1972; Miền Nam sụp đổ, Tháng Tư 1975; Nghị quyết 36 được ban hành, Tháng Ba 2004.. Nhưng cháu Hanni Phạm bị tố khổ, miếu tưởng niệm Đại tá Bảo, chiến binh nhảy dù Tiểu đoàn 11 bị san bằng vào dịp Tết, đầu năm 2023! Tại sao và từ đâu?

Kết từ.

Từ cáo buộc ngụy tạo “Khủng bố tại Little Sài Gòn/Terror in Little Saigon” qua phim ảnh phản chiến Mỹ (có sự tiếp sức của người ở Hà Nội), đến sân khấu trình diện âm nhạc của Hanni Phạm ở Seoul, miếu thờ Cố Đại tá Bảo trên đồi Charlie chắc chắn không phải là những sự việc nhỏ nhặt đơn lẻ, riêng biệt do một vài cá nhân, nhóm cá nhân, tổ chức tư nhân ở một địa phương thực hiện – Tất cả phải được tổ chức, điều động, thực hiện từ một TỔ CHỨC:

Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CS nơi Hà Nội – Tổ chức nầy luôn ở thế tiến công – Tiến công “Kẻ Thù” – Đối tượng bắt buộc phải có. Người dân dưới chế độ xã hội gọi là chủ nghĩa xã hội tại VN cũng được tập dần thói “sát thủ”. Công dân Úc gốc Việt, Hanni Phạm, người chết Nguyễn Đình Bảo, tử sĩ Tiểu đoàn 11 ND cần phải đưa ra “đấu tố” để hiện thực câu khẩu hiệu “kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không có đối tượng gọi là “kẻ thù”, người và chế độ cộng sản không thể tồn tại! Họ không “hòa giải” với bất cứ ai kể cả “đồng chí” của họ – Không bao giờ.  

29 Tháng 3, 2023

Ngày mất Nha Trang năm 1975.  

Nguồn : https://saigonnhonews.com/thoi-su/van-de-hom-nay/nguoi-linh-nguoi-dan-mien-nam-nay-noi-dau/

Wednesday, March 15, 2023

NHỮNG MÓN NỢ KHÓ TRẢ, VÀ NHỮNG ANH HÙNG KHÓ QUÊN.

Huy Phương

Sau Tháng Tư, 1975, hằng trăm nghìn người thương binh của miền Nam Việt Nam không thể nào che giấu lý lịch với đôi mắt mù, cái chân cụt và quá khứ đã là một người lính có thành tích chiến đấu chống Cộng Sản ngoài mặt trận. Không còn khả năng làm lụng để kiếm miếng cơm nuôi gia đình và chính bản thân mình, những người này còn phải sống trong không khí lạnh lùng, ngờ vực và khinh rẻ của kẻ chiến thắng không có tình người. Chính phủ, quân đội, đơn vị, cấp chỉ huy, đồng đội không còn, gia đình quyến thuộc không đủ sức cưu mang vì chính họ cũng bị nhận chìm tận cùng dưới đáy xã hội.

Trong xã hội mới, những người thương binh VNCH thật sự đã là “những người bị bỏ quên”.
Đã có những hội đoàn, những tổ chức, những nhóm thiện nguyện cứu đói, cứu nghèo, cứu bệnh tật, cứu gái sa chân, cứu trẻ bị bán ra nước ngoài, cứu già thiếu gạo…
Tôi có cảm tưởng những vùng đất cứu trợ trên đã được chính quyền trong nước cho khai quang, có khi còn giữ “an ninh bãi đáp” cho trực thăng đổ người xuống cứu trợ để đỡ tay đỡ chân cho đảng lo việc trấn áp dân chủ, nhân quyền.
Trong khi đó, công việc cứu trợ các thương phế binh VNCH trong một xã hội còn đầy mìn bẫy, hầm hố, thù hận, phải tiến hành lén lút, bí mật hay đột kích gây thêm nhiều trở ngại, khó khăn cho cả phía những người hảo tâm và cả những nạn nhân xấu số này.
Thương phế binh, đáng lẽ là những người mà hải ngoại cần phải nhớ trước tiên, từ khi người sinh viên du học ra nước ngoài giữa lúc chiến tranh trở nên tàn khốc, lúc cấp chỉ huy quân đội miền Nam bước chân lên Đệ Thất Hạm Đội hay đảo Guam, từ khi người vượt biển được đặt chân lên đất liền, từ khi người cựu tù được người ra đón ở sân bay, lại là những người bị quên lãng nhất.
Bà Dương Nguyệt Ánh, chuyên viên chất nổ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, tác giả trái bom “nhiệt áp” đã nói rằng, là một người tỵ nạn chiến tranh, bà “không bao giờ quên được hình ảnh người lính Hoa Kỳ và VNCH đã từng bảo vệ cho bà có một cuộc sống an toàn ở miền Nam trước đây.” Chúng ta cũng hiểu rằng người lính VNCH thiệt thòi hơn cả sau chiến tranh chính là người thương phế binh hôm nay.
Cô Liên Hương, một bác sĩ trong nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở San Jose, cũng như chúng ta đã có mặt tại Hoa Kỳ tự do, no ấm hôm nay sau những ngày đã hoạt động để cứu giúp “những người bị lãng quên,” vì cô nghĩ rằng cô đã mang ơn những người này, người thương phế binh VNCH.
- “Tôi viết thư cho anh hôm nay, không phải như một người Việt Kiều xa xứ được ưu đãi trong một đời sống an lành, và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần đang nghiêng mình xuống với người đồng loại bất hạnh, nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Sài Gòn, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hằng đêm vẫn vọng về từ một chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả một thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó vẫn có biết bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng chiến đấu đơn độc với những giờ phút chót, để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.”
“Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh, cho các bạn của anh, những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 48 năm qua, để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí hay vô ích.
Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa. Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết một phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, và những người Việt tỵ nạn như tôi cũng đã mất hết một nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Có một điều ngày hôm nay tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau, để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi và cô độc.”
“Cuối cùng dù tôi không thể gởi nguyên một bài hát về cũng xin cho tôi được tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát ‘You Are My Heroes’, bởi vì cuối cùng trong cuộc đời này không có điều gì anh hùng và cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được quyền sống.
Trong mắt tôi mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những con người trai anh hùng một thời chọn cho mình con đường đi và và sống đích thực có ý nghĩa nhất”.
Những dòng chữ trên đây của một người con gái, một đứa em hậu phương cũng như tất cả chúng ta đã mang một món nợ không bao giờ trả nổi, món nợ xương máu mà chúng ta đã nương nhờ, vay mượn từ lúc chúng ta được yên ổn ở hậu phương, rất xa mặt trận, và cả đến lúc chúng ta ngoảnh mặt rời quê hương ra đi.
Những năm trước, bức thư này đọc trên đài phát thanh ở Bắc California đã làm rơi lệ hằng nghìn người nghe ở hải ngoại, nhưng rồi cơm áo đa đoan, cuộc sống bề bộn, nhiều lúc chúng ta đã quên hẳn hình ảnh người thương phế binh Việt Nam một cách phụ bạc, nhẫn tâm mà đáng ra phải canh cánh ghi nhớ trong lòng.
Ở hải ngoại từ trước đến nay, những quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh được đưa xuống hàng thứ yếu sau những chiến dịch dai dẳng cho người nghèo, cho trẻ thất học, cho chùa chiền, thánh thất, cho mổ mắt vá môi… Nếu có lòng, thì cũng với những hoạt động lẻ tẻ do một nhóm người, một tổ chức quy tụ một số thân hữu giúp cho năm bảy gia đình, hay khá hơn là vài trăm thương binh. Chúng ta chưa có được một ngày dành cho thương binh, một chiến dịch rộng lớn như những ngày chúng ta đóng góp cho quỹ kháng chiến, để rồi cuối cùng sự việc chẳng đi tới đâu, khiến lòng tin của hải ngoại mỗi ngày một suy kiệt.
Ẩn mình từ trong những xóm làng xa xôi sống nhờ trên mảnh đất khô cằn khoai sắn, hay bầm dập giữa phố thị với xấp vé số trên tay, thậm chí còn trở thành kẻ hành khất kêu gọi tình thương của người qua đường đâu đó. Nỗi xót xa, tủi nhục ấy bao giờ tiêu tan được, cũng như những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn họ không bao giờ hết, trong khi qua thời gian làn da nơi chân tay què cụt đã chai đá, những vết thương đã lành. Lớn hơn hết là những người thương phế binh này đã mang mặc cảm là “người đã bị bỏ quên” trên quê hương, nơi mà thù hận chưa nguôi, đối xử vẫn còn phân biệt như những người lính lạc đơn vị bị bỏ lại trên đất địch.
Ôi những vòng hoa chiến thắng ngày nào, những câu hát từ người em gái hậu phương, những mỹ từ và lời xưng tụng người ta đã dành cho anh. Số phận của người lính thất trận đã đổ nhào thêm lên tấm thân cụt què, yếu đuối. Họ sống cuộc đời cay đắng ấy (nếu còn có thể gọi đó là cuộc đời), có người mới hơn 30 năm, có người đã gần hết cuộc đời, thế giới ngày nay của họ có thể là một chiếc giường tre của người bị bại liệt, trên chiếc xe lăn của người què cụt lê lết hay ốm đau, già nua quanh quẩn trên sân nhà, mà thời gian còn lại của các anh chỉ đếm bằng giây, phút.
Thế giới hôm nay của chúng ta so với đời sống thương phế binh ở quê nhà là thiên đường và địa ngục, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Dù có san sẻ tới mức nào cũng không lấp đầy nỗi thống khổ, dù bù đắp tới mức độ nào cũng không xứng đáng với sự hy sinh. Anh, người thương phế binh, tôi vẫn còn nợ anh mối ân tình của sự HY SINH.
Huy Phương

Wednesday, February 22, 2023

 


Cái mà người dân Miền Nam muốn là trả lại đường Gia Long, Võ Tánh, Hiền Vương, Phan Thanh Giản, Petrus Ký, Đoàn Thị Điểm, Yên Đỗ... ở Sài Gòn chứ không phải "sửa" tên đường kiểu tôn hay tông

Một vấn đề cực kỳ dễ hiểu, đơn giản và không cần hội thảo gì dài dòng. Vấn đề không phải là "Lê Thánh Tôn" hay "Lê Thánh Tông". Hà Tôn Quyền hay Hà Tông Quyền? Không phải là Lương Nhữ Học hay Lương Nhữ Hộc
Mà Lương Nhữ Học, cái chữ Hộc sẽ bị nghĩ là hộc máu. Chắc chắn 100% là dân Miền Nam sẽ nghĩ hộc là hộc máu
Tại vì Tôn là cách Miền Nam viết, Tông là cách Miền Bắc XHCN viết, còn dấu nặng hay dấu ô chỉ là kỹ thuật. Nhân vật lịch sử đó vẫn là ông đó, bà đó, chẳng ai có thể mạo danh vị đó
Người MB bất tuân kị húy nhà Nguyễn thì cứ Phúc này Phúc nọ, Tông này Tông kia, Thì này Thì nọ, Nhậm này Nhậm kia. Nhưng dân Miền Nam, dân Sài Gòn kêu Phước và Tôn, Thời và Nhiệm thì làm gì được nhau?
Nghĩ cũng tức cười. Đề nghị đổi Lê Thánh Tôn thành Lê Thánh Tông, Hà Tôn Quyền thành Hà Tông Quyền. Nhưng cũng đề nghị đổi "Nguyễn Duy Dương" thành "Võ Duy Dương". Thành Vũ Duy Dương mới có logic chuẩn Bắc chứ!
Người dân Miền Nam, dân Sài Gòn muốn là:
1/ Đó là phải trả lại tên đường mà sau 1975 đã xóa tên không thương tiếc
- Trả lại tên đường Triệu Đà, vị Hoàng Đế lừng lẫy, tiên khởi của nhà Việt Nam. Sau 1975 đường Triệu Đà bị xóa, là khúc Ngô Quyền quận 10 ngày nay
Nguyễn Trãi khẳng định rõ ràng, sát rạt:
自趙丁李陳之肇造我國
與漢唐宋元而各帝一方
“Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc
Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhứt phương”
- Trả lại tên đường Võ Tánh
Hoài Quốc Công Võ Tánh (1768 - 1801) là một nhân vật lịch sử lừng lẫy Nam Kỳ, là đệ nhứt công thần trung hưng nhà Nguyễn. Có công rất lớn trong việc giữ gìn Miền Nam chống lại sự tàn sát, tàn phá của quân Tây Sơn
Ông nổi danh từ đất Ba Giồng, đất Thập Bát Phù Lưu Viên (18 Thôn Vườn Trầu)
Sau cùng đất Giồng Tre Gò Công là đại bản doanh của ông. Ngọn cờ “Khổng Tước Nguyên Võ” một thời tung bay, đạo quân này đã tập kích Tây Sơn nhiều trận khiến họ phải kinh khiếp. Võ Tánh là “Gia Định Tam Hùng
"Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!"
Người đời sau ca ngợi tướng Võ Tánh là “Quận Trung tiết anh
hùng”. Đường Võ Tánh Sài Gòn từ ngã sáu Gia Long chạy dọc trổ dài xuống đi ngang nhà thờ Huyện Sĩ
Sau 1975 đường Võ Tánh ở Nam Kỳ bị xóa sạch sẽ. Sài Gòn bị xóa. Ngày nay chỉ còn Mỹ Tho là còn đường Võ Tánh
(Tôi xếp Võ Tánh trên đường Gia Long là vì nếu không có Võ Tánh xuất hiện thì chưa chắc có vua Gia Long trung hưng thành công sau này)
- Trả lại tên đường Gia Long (Lý Tự Trọng)
Đã gượng trả tên đường Lê Văn Duyệt cho Đức Tả Quân ở Bình Hòa thì phải trả tên đường Gia Long lại vì vua không sáng thì đố quan hiền, dám làm
Nhơn vật có công với Miền Nam, từng chủ ý coi Sài Gòn là căn cứ, phên dậu của mình và góp công sức xây dựng nó là chúa Nguyễn Phước Ánh (Vua Gia Long sau này)
Sài Gòn có vị thế ngày hôm nay là công lao của chúa Nguyễn Phước Ánh
Nguyễn Huệ chẳng có công gì với Sài Gòn
Tây Sơn từng chiếm Gia Đinh hơn chục lần, nhưng vì lòng dân không theo nên năm lần bảy lượt họ vô rồi họ lại co giò chạy ra khỏi Sài Gòn, Tây Sơn chưa bao giờ giữ được Gia Định dù họ rất muốn
Tháng 2 năm 1790 sau khi chiếm lại được Gia Định và nhắm có thể giữ vững trước quân Tây Sơn nên chúa Nguyễn Ánh đã chọn vùng Gia Định làm kinh đô “tạm” gọi là Gia Định kinh, bắt tay vào xây kinh thành, kinh tế và tổ chức thi cử chọn hiền tài
Chúa Nguyễn Ánh đã tổ chức hai khoa thi năm Tân Hợi 1791 và Bính Thìn 1796 tại Gia Định lấy hiền tài
Năm đầu tiên Tân Hợi 1791 đậu hạng ưu có Ngô Tòng Châu và Nguyễn Hoài Quỳnh đều là dân Gò Công
Khoa thi Bính Thìn 1796 đậu thủ khoa là một người Gò Công nữa là ông Phạm Đăng Hưng, ông Hưng chính là con trai Phạm Đăng Long ở giồng Sơn Qui
Sau khi thi đậu ông Phạm Đăng Hưng làm "Lễ sanh nội phủ" rồi từ từ lên cao
Lễ Bộ Thương Thơ-Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng rạng danh là nhờ con gái là bà Từ Dũ là mẹ vua Tự Đức, họ Phạm Đăng vang danh là nhờ làm bên ngoại vua Tự Đức sau này
Sài Gòn là thành đô từ năm 1790 là cái sự sắp đặp hợp lý của lịch sử Việt Nam, cũng là số Trời
-Trả lại đường Trương Minh Giảng và Trương Minh Ký (Trần Quốc Thảo và Lê Văn Sỹ)
Quan bảo hộ Cao Miên, Trấn Tây Thành tướng quân Trương Minh Giảng (1792-1841) là một người Sài Gòn có công với đất này lớn lao vô cùng
Tổng đốc Trương Minh Giảng là con trai của Lễ bộ Thượng thơ Trương Minh Thành, người huyện Bình Dương, trấn Gia Định
Tướng Trương Minh Giảng -một người văn võ song toàn, là công thần bậc nhứt của nhà Nguyễn, quan bảo hộ Trấn Tây Thành, là tổng tài quốc sử giám
“…Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do”
( Đêm nhớ trăng Sài Gòn-Du Tử Lê)
Trước 1975 đi đường Trương Minh Giảng qua bên kia, khi qua khỏi Cầu Mới, bên tay mặt, đâm ra một con đường tên Trương Tấn Bửu (Trần Huy Liệu sau 1975)
Trương Tấn Bửu là phó tổng trấn Gia Định thành
Bên phía tay mặt là một xóm nhà lá khá sầm uất, có cả một cái chợ chồm hổm nơi đó, tục gọi là chợ Bà Y
Qua cầu, tiếp Trương Minh Giảng là đường Trương Minh Ký bắt đầu tại chợ Vườn Xoài
Thế Tải Trương Minh Ký (1855 – 1900) là một trong ba nhà học giả nổi tiếng đi tiên phong về chữ Quốc Ngữ của xứ Nam Kỳ
Đọc cuốn “Sài Gòn Năm Xưa” của học giả Vương Hồng Sển, ta sẽ thấy ông Sển khâm phục ba ông học giả xuất sắc này là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của
Thế Tải Trương Minh Ký là cháu của tướng Trương Minh Giảng, là học trò của Trương Vĩnh Ký, ông là nhà báo, nhà giáo, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, đóng góp trong việc truyền bá và phát triển văn học Quốc Ngữ Việt Nam
Thế Tải Trương Minh Ký viết rất nhiều sách từ dịch từ Hán, Nôm, Pháp qua Quốc Ngữ và tự điển, văn học, sưu tầm, làm thơ và cả viết tuồng
Trương Minh Ký dịch thơ ngụ ngôn Lafontaine ra Quốc Ngữ trước Nguyễn Văn Vĩnh 34 năm
“Con ve mùa hạ ngân nga
Sang đông không có đồ mà dưỡng thân
Than van với kiến ở gần
Xin giùm ít hột đỡ thân cơ hàn
Đến mùa bổn lợi lại hoàn
Lòng đâu có dám tính đàng sai ngoa”
- Khôi phục và trả lại đường Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch)
Đường Duy Tân nằm ở ngay Hồ Con Rùa, sau lưng nhà thờ Đức Bà. Sau 1975 bị cắt hộ khẩu thẳng
“Trả lại em yêu, khung trời Đại Học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt“
Duy Tân là con đường của sinh viên Sài Gòn
- Trả lại đường Nguyễn Hoàng (Trần Phú) vị chúa Nguyễn đầu tiên có công khai phá và phát triển Miền Nam
- Trả lại đường Hiền Vương (Võ Thị Sáu)
Đại lộ Hiền Vương là một đại lộ nằm ở quận 3
Hiền Vương Nguyễn Phước Tần là vị chúa Nguyễn giỏi khi còn thế tử ông đã đánh tan một một đội hải quân Hòa Lan
Quân Nguyễn thời chúa Hiền nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đất Ðàng Ngoài. Năm 1656, sau hai năm tấn công ra Bắc, quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện của Nghệ An
Năm 1653 chúa sai một cai cơ mang 3000 quân đánh Chàm chiếm vùng đất từ Nha Trang tới sông Dinh Phan Rang bắt vua Po Romé đóng củi áp giải về Phú Xuân
Tức là lấy đất Kauthara lập dinh Thái Khang chia làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh
Năm 1679 tướng Dương Ngạn Địch trốn nhà Thanh, đem 3000 quân cùng 50 tàu chiến sang nước ta làm dân xứ Việt được chúa Nguyễn Phước Tần cho định cư tại thôn Mỹ Chánh (Mỹ Tho). Nhớ đó đã tạo nền tảng lập ra một thành phố Mỹ Tho sầm uất bậc nhứt lúc đó có mỹ tự là " Mỹ Tho đại phố"
Trần Thượng Xuyên thì về Bàng Lân Biên Hòa
Hiền Vương là vị chúa có công với Miền Nam
- Trả lại đường Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ)
Lương Khê Phan Thanh Giản ( 1796 - 1867 )là một nhân vật lịch sử mà người Lục Tỉnh nào cũng thương mến vì đức độ và tấm lòng của ông với quê hương
Sau khi Pháp lấy thành Vĩnh Long ông tuyệt thực 17 ngày. Trước đó ông ngoái về Huế lạy mấy lạy, thảo một tờ sớ gửi vua Tự Đức, gửi lại ấn tín, áo mão trả về Huế, một lời tạ từ cuối cùng
Tướng De la Grandière rất kính ông nên sai đem đồ ăn thức uống, thuốc bổ lại thuyết phục ông ăn uống lại, ông biểu đem về
Rủi, nhịn ăn không chết, ông bèn uống thuốc phiện với dấm thanh. Ngày 4-8-1867 ông qua đời
Đại lộ Phan Thanh Giản cắt nhau với hai đường nhỏ mang tên hai con trai quan Phan là Phan Liêm, Phân Tôn ở gần đó
Đại lộ Phan Thanh Giản từ cái cầu cùng tên trổ ra cầu Sài Gòn là xa lộ
Sau 1975 Phan Thanh Giản bị xóa tên đường và kết án triền miên, Điện Biên Phủ lên thay thế
-Trả lại đường Petrus Ký (Lê Hồng Phong)
Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là một nhà ngôn ngữ, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa, một học giả tiêu biểu của Miền Nam
Học giả Trương Vĩnh Ký là ông tổ truyền bá chữ Quốc Ngữ, là thầy dạy chữ Quốc Ngữ đầu tiên, viết sách đầu tiên, được coi là “ông tổ nghề báo Việt Nam”
Đại lộ Pétrus Ký là một con lộ rất lớn kéo dài từ đại lộ Trần Quốc Toản (3 T2) tới đại lộ Trần Hưng Đạo, tức là kéo dài tới làng Chợ Quán là nơi có nhà mồ của học giả Petrus Ký
“Chánh ý bày hay mong đổi tục
Đại bằng giữ trọn ít ai thường”
Đọc cuốn “Sài Gòn Năm Xưa” của học giả Vương Hồng Sển, ta sẽ thấy ông Sển khâm phục ba ông học giả xuất sắc là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của
Vương Hồng Sển viết:
“Ba ông minh triết bảo thân, gần bùn chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo cò” như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hớn, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng.
Nghĩ cho tay dao tay súng làm nên sự nghiệp như những nhà kia, nhưng khi nhắm mắt, sự nghiệp hoen ố lụn bại, sao bằng một ngòi bút, một nghiên mực, sự nghiệp văn chương trường cửu của ba ông tiền bối này mới thật quý và thơm”
- Trả lại tên đường Yên Đỗ cho Nguyễn Khuyến
Công trạng của Nguyễn Khuyến không bằng Lý Chính Thắng sao mà xóa tên đường cụ Tam Nguyên Yên Đỗ?
Sài Gòn có đường Yên Đỗ kéo dài từ ngã sáu Dân Chủ tới Hai Bà Trưng
Đường Yên Đỗ xưa là một đường xe ngựa làng. Xưa đường này có bến tắm ngựa nằm dựa vô kinh Nhiêu Lộc phía trước đình Xuân Hòa, kéo dài từ ngã tư Yên Đỗ - Trương Minh Giảng đến ngã tư Yên Đỗ - Công Lý
Trên đường có một cư xá tên là "cư xá Yên Đỗ"
Pháp đặt tên là Champagne, VNCH đặt là Yên Đỗ
Tam nguyên Yên Đỗ là ông Nguyễn Khuyến
Cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến (1835-1909) là dân Bắc chánh cống nhưng làm quan nhà Nguyễn tới án sát, bố chánh không biết có "thù" gì mà sau 1975 bị xóa đường Yên Đỗ thay bằng Lý Chính Thắng
Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến là một vị quan hiền lành, thanh liêm, sống một cuộc đời đầy tiếng thơm dù thời cuộc vô cùng lộn xộn
Sanh thời Nguyễn Khuyến có vô số giai thoại vui
-Trả lại đường Đoàn Thị Điểm
VNCH đặt tên đường Trương Công Định từ Lê Lai đi qua giữa vườn Tao Đàn tới Hồng Thập Tự là hết
Ra khỏi vườn Tao Đàn bên kia là đường Đoàn Thị Điểm chạy thẳng ra bờ kinh Nhiêu Lộc, mé Nguyễn Du có cái đường song song là Đặng Trần Côn
Đoàn Thị Điểm là nữ văn sĩ thời Lê Trung Hưng, hiệu Hồng Hà nữ sĩ là người xứ Kinh Bắc
Đoàn Thị Điểm là nữ văn sĩ đã dịch "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn từ Hán ra chữ Việt cực kỳ hay, góp phần trau chuốt câu chữ của bài thơ dài này
"Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh"
Ai mà dè, sau 1975 không biết bà nữ sĩ kiếp trước có thù oán gì hậu sanh không mà bị xóa tên đường
Chánh quyền nhập cả hai đường Trương Công Định và Đoàn Thị Điểm chung một tên là đường Trương Định
Bà Đoàn Thị Điểm bị xóa tên đường, kéo dài Trương Công Định qua thế
Lựu đạn nữa là xóa chữ Công của Quản Định, từ Trương Công Định thành Trương Định
Còn rất nhiều nhân vật nữa phải trả lại tên đường cho họ
2. Cần trả lại tên đường Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức, Trương Tấn Bửu, Ngô Tùng Châu, Võ Di Nguy, Hồ Văn Ngà, Tạ Thu Thâu ....
3. Đặt tên đường ở Sài Gòn và các đô thị Miền Nam phải đặt tên làng cũ, địa danh Nam Kỳ xưa từ thời mở đất
-Tại sao lại xóa đường Đồn Đất?
Sài Gòn thời Pháp có nhà thương của quân y (bịnh viện) Grall mà dân Sài Gòn kêu là nhà thương Đồn Đất. Con đường dẫn vào bịnh viện là đường Đồn Đất
Đồn Đất là địa danh của khu này, dân Sài Gòn vẫn gọi đây là khu Đồn Đất
Năm 1985, đường Alexandre De Rhodes trước dinh Độc Lập vì những lý do "dốt sử" nên bị xóa tên và đổi tên thành đường Thái Văn Lung
Rồi tới năm 1995 sau 10 năm "học tập" biết sự vụ nên chánh quyền thành phố trả lại tên cũ Alexandre De Rhodes
Chưa hết, đem Thái Văn Lung nhét qua đường Đồn Đất. Vậy là xóa tên địa danh trăm năm Đồn Đất. Cực kỳ nhanh gọn và quyết đoán
Trong một ngày một địa danh yêu thương của Sài Gòn có hàng trăm năm đã thành dĩ vãng
4/ Có nên đổi Ký Hòa thành Chí Hòa không?
Người Pháp phiên âm sai rất nhều địa danh Việt, thí dụ Đất Hộ thành Đa Kao, rồi Thủ Dầu Một thành Fuo Yen Mot, Chí Hòa thành Ky Hoa rồi tha hồ đọc thành Kỳ Hòa hay Ký Hòa
Thành phố Chợ Lớn đặt đường Ký Hòa cho khúc hông ĐH y khoa
Thiệt ra không cần sửa. Tại vì ai chả biết Ký Hòa là Chí Hòa. Nhưng muốn sửa thì cũng là chánh đáng
Lật lịch sử ra mà xét thì cần đổi tên nhiều đường lắm
Miệt Chợ Rẫy xưa có đường Rue de Tong-Kéou nay là Thuận Kiều. Tong-Kéou dịch sát ra là 东口 Đông Khẩu
Tuy nhiên trong lịch sử Việt Nam thì Tong-Kéou được người Pháp mặc nhiên ghi cho tên làng Thuận Kiều
Trong cuốn”Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ, năm 1861” Leópold Pallu có chép về vùng Thuận Kiều mà ông này ghi phiên âm ra là Tong-Kéou
(Trích)
”Giữa Tong-kéou và thành Ky Hoa là một vùng đồng ruộng minh mông, thỉnh thoảng mới thấy vài khu vườn trồng thuốc lá”
Mà làng Thuận Kiều xưa nằm ở khúc đường Lê Văn Duyệt, tức CMT 8 ngày nay chớ đâu phải ở miệt Chợ Rẫy. Vậy xét lý lịch phải đem Thuận Kiều về CMT8
5/ Điều cuối cùng muốn nói
Là hãy tôn trọng và ưu tiên đặt tên đường người lập làng, dựng làng, giữ đất, tên danh nhân Miền Nam ở Sài Gòn và các đô thị Miền Nam
Tình trạng đi đâu, từ thành phố, thị xã, thị trấn ở Miền Nam, có khi các đô thị sát nhau, cách nhau hai ba chục cây số mà cứ đụng Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai...hơi bị ngán và khó chịu
Bộ hết người hay sao
Chúa Minh Vương Nguyễn Phước Chu năm 1708 dùng Mạc Cửu làm tổng binh trấn Hà Tiên, đặt phủ Bình Thuận năm Ðinh Sửu (1697) gồm các đất Phan Rang, Phan Rí trở về Tây, chia làm hai huyện An Phúc và Hoà Ða , đặt phủ Gia Ðịnh: chia đất Ðông Phố, lấy xứ Ðồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng Phiên Trấn, lập xã Minh Hương...
Chúa Nguyễn Phước Chu xứng đáng được đặt tên ở các thành phố Miền Nam. Các chúa Nguyễn đều xứng đáng
Cũng như Hà Tiên có đường Mạc Cửu và con cháu họ Mạc. Mỹ Tho giữ đường Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Phan Hiển Đạo, Thủ Khoa Huân
Trà Ôn giữ đường Thống Chế Điều Bát, Đốc Phủ Chỉ, Đốc Phủ Yên là những người trực tiếp góp công, góp của gầy dựng Trà Ôn
Người Miền Nam kêu lĩnh thành lãnh. Nên Sài Gòn có cầu Ông Lãnh, đường Lãnh Binh Thăng. Trảng Bàng có đường Lãnh Binh Tòng, Cần Giuộc có Lãnh Binh Thái
Hãy tri ơn và trân trọng Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực và cả Tôn Thọ Tường
"Muôn việc cho hay số bởi Trời
Chiếc thân hồ hởi biết đâu nơi
Mấy hồi tên đạn ra tay thử
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi
Chén rượu tiền đình nào luận tiệc
Vần thơ cố quốc chẳng ra lời
Cương thường bởi biết mang nên nặng
Kẻ đứng làm trai chắc nợ đời."
(Thủ Khoa Huân)
Hãy trân trọng những người đã bỏ mình bảo vệ đất Miền Nam này
"Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân
Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ"
Hãy trân trọng Petrus Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu…
Hãy trân trọng Rạch Miễu, Rạch Kiến, Rạch Gốc, Rạch Vẹm, Rạch Chiếc, Rạch Hào ... Thắng Nhứt, Thắng Nhì, Thắng Tam...Tân Sơn Nhứt, Tân Sơn Nhì....Quơn Long, Bình Phục Nhứt, Long Kiểng, Kiểng Phước, Hựu Thành, Vĩnh Nguơn,Vĩnh Tế....Thiềng Đức...những cái tên của ông bà tổ tiên lưu dân Miền Nam đặt ra
“Cất tiếng kêu cô mỹ nữ
Đứng giữ tảng đá, chuông đồng
Lòng cô muốn đi tu phải thối của cho chồng
Ông thôn nhận mộc
Ông cả đứng thị thiềng
Bao nhiêu tiền của phải thối liền cho anh”
Thương lắm những cái tên thân thương như Bình Quới, Quới Hiệp, Tân Quới!
"Chợ nào nhiều rau bằng chợ Thầy Phó
Chợ nào đánh võ bằng chợ Nhà Đài
Chợ Tân Quới mua bán nhiều khoai
Chợ Mỹ Tho đem cả ghe chài đến mua"
Hãy trân trọng những ông tổng, ông làng, ông cả, ông bá hộ, bà cả đã có công lập làng, xây đường cho dân Miền Nam đi
Tại Gò Công có Bá Hộ Mưu (Trương Văn Mưu) của làng Thành Phố xưa -tiền thân của thị xã Gò Công nay
Được biết trước 1975 con đường phía trước nhà ông Bá Hộ được đặt tên là đường Hộ Mưu do khi xưa đây là ruộng, ông bá hộ Mưu đã cho đắp thành đường, cũng gần đó có một cái ao nước ngọt tên là ao Ông Hộ. Rồi sau 1975 đường Hộ Mưu bị đổi tên thành đường Nguyễn Văn Côn
Tại Tân An có cái cầu Tổng Huẩn trên đường về Tân Trụ mà sau 1975 bị ghi sai là cầu Tổng Uẩn
Trong cuốn”Tân An xưa “của Đào Văn Hội có chép về cây cầu này:
“Cách cầu xe lửa độ vài cây số hướng về Sài Gòn, con đường làng nho nhỏ Lộ Tổng Huẩn đưa du khách đến cầu Tổng Huẩn bắc trên Rạch Bà Rịa do ông Cai Tổng Huẩn lúc sanh tiền đắp con đường và bắc cây cầu ấy”
Như vậy ghi tên cầu “Tổng Uẩn” là sai, chính xác phải là cầu “Tổng Huẩn” vì do cai tổng Huẩn lập ra mà có tên. Rồi Lộ Tổng Huẩn nữa
Những tiền hiền lập làng, làm cầu, đắp lộ có công thì con cháu phải tri ơn
Có những người lạ hoắc lạ huơ, chẳng biết ở đâu xổ ra, họ có công gì mà phải lấy tên họ đăt cho đường xá
Lịch sử Sài Gòn đã có từ 300 năm trước chứ đâu phải chỉ có từ năm gần trổ lại đây. Đó mới là chuyện đáng nói.
Kết luận:
Những đô thị của Miền Nam ta xưa đều có dính líu với những ông tướng, ông quan của phe chúa Nguyễn Ánh. Cái công khai ấp định làng, giữ gìn, trị an và phát triển thì có tên đường là đương nhiên
Tây Sơn tàn sát Miền Nam, phá tan nát còn có tên đường Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Thời Nhiệm
Vậy mà những người bảo vệ, trị an, gìn giữ, phát triển Sài Gòn, Miền Nam như Gia Long, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh, Châu Văn Tiếp, Trương Tấn Bửu, Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy ....sao lại bị xóa tên đường giữa Sài Gòn? Các chúa Nguyễn như Hiền Vương có công phát triển Miền Nam, định hình Miền Nam sao bị xóa tên đường?
Con đường hàng ngày thân quen đã hằn ghi vào tâm trí bao thế hệ người Sài Gòn, phù hợp với lòng người
"Đường chẳng riêng hai chúng mình
Nên khi vắng anh đường đã thay tên, còn chăng kỷ niệm
Lạnh đầy theo tiếng bước ưu tư đi tìm"
Người Miền Nam ghi nhớ và ý thức dữ lắm. Họ tìm cách tiếp cận sự thực lịch sử Miền Nam vì bản thân họ không muốn là tội đồ kiểu mả cha không khóc mà đi khóc đống gì đó
Chúng ta là trí thức thì nhìn sử, đọc sử cũng đòi hỏi một mức độ văn minh nhứt định đối với những nhân vật lịch sử
Những nhân vật lịch sử đều phải được đối xử ở mức độ lịch sự, có văn hóa, đó cũng là tôn trọng người khác và tôn trọng chính người viết
Bình luận về nhân vật lịch sử phải thông đạt chánh trị nhân tình, công bằng, nhìn sự thực
Và luôn biết đặt con người vào trong hoàn cảnh cá nhân cụ thể cùng với những mối tương tác nhân quả trùng trùng duyên khởi của các sự kiện chi phối bên ngoài. Từ đó có được quan điểm phóng khoáng khoan dung, biết hòa giải với quá khứ trong tinh thần cởi mở để hướng đến hiện tại và tương lai. Chứ không nên chỉ chuyên moi móc quá khứ với các kiểu thái độ đảng phái nhỏ nhen, thách thức vùng miền, cực đoan, phiến diện, căm thù. Nó chỉ gây thêm mầm mống chia rẽ trong lòng dân tộc, và vì thế cũng không thể đạt được sự hòa giải đích thực trong hiện tại được
Xin hãy cố gắng tôn trọng văn hóa tối thiểu của Miền Nam. Đừng cố công thay đổi âm Miền Nam cho "chuẩn" nữa
Tại Long An khu di tích, đền thờ Nguyễn Trung Trực ghi rành vành là "vàm Nhựt Tảo", còn đó đình thần Nhựt Tảo nhưng sách báo sau 1975 lại ghi là "vàm Nhật Tảo"
Thành đô Sài Gòn trước 1975 có đường Nhựt Tảo, chợ Nhựt Tảo. VNCH có một chiến hạm tên là Nhựt Tảo. Sau 1975 sửa thành đường Nhật Tảo, chợ Nhật Tảo
Đánh trống, đánh chiêng học lại lịch sử Sài Gòn.
Hình: Đại Lộ Võ Tánh ở Phú Nhuận, Gia Định. Nay là đường Hoàng Văn Thụ.
Fb Nguyễn Gia Việt

https://www.facebook.com/photo?fbid=1844211195950305&set=a.126546577716784

Saturday, November 5, 2022

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ BÌNH MINH HUY HOÀNG CỦA CỘNG HÒA VIỆT NAM


           Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Con đường tới Điện Biên Phủ trên vùng thượng du Bắc Việt lại nối dài sang tới tận Geneva bên Thụy Sĩ. Sau khi Pháp thất trận ngày 7 Tháng Năm, 1954, Mỹ khuyên Pháp chớ có điều đình trong chiến bại. Pháp không nghe, nhất định đưa vấn đề Đông Dương ra thương thuyết tại Hội Nghị Geneva (nhóm họp với mục đích giải quyết vấn đề Triều Tiên). Thấy khả năng phân chia lãnh thổ Việt Nam là cao, Quốc Trưởng Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm từ tu viện Công Giáo Maryknoll, Lakewood, New Jersey, sang thẩm vấn.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm (hàng đầu, trái) duyệt hàng quân danh dự bên ngoài Ngũ Giác Đài, Virginia, Hoa Kỳ, ngày 16 Tháng Năm, 1957. (Hình minh họa: Keystone/Getty Images)

Trong quá vãng, ông Bảo Đại đã mời ông Diệm làm thủ tướng tới ba lần. Lần thứ nhất là vào năm 1949. Sau khi ông Diệm đóng góp vào việc đưa ông Bảo Đại từ Hồng Kông về làm quốc trưởng, ông được mời làm thủ tướng. Hai lần sau là vào năm 1951 khi ông Diệm còn đang ở Mỹ. Cả ba lần ông Diệm đều từ chối cho rằng ông không thể làm được việc gì khi người Pháp còn dính líu vào chính trị Việt Nam.

Bây giờ, vì Quốc Hội Pháp đã thông qua Hiệp Ước Độc Lập (Treaty of Independence) ngày 4 Tháng Sáu, 1954, ông Bảo Đại hy vọng ông Diệm sẽ thay đổi thái độ.

Trong hồi ký Con Rồng Việt Nam, ông Bảo Đại ghi lại bối cảnh và lý do chỉ định ông Diệm làm thủ tướng như sau:

“Trước đây đã dùng Diệm, tôi biết ông ta vốn khó tính. Tôi cũng biết ông ta rất cuồng tín, và tin vào đấng Cứu Thế. Nhưng trong tình thế này, không còn có thể chọn ai hơn. Thật vậy, từ nhiều năm qua, người Mỹ đã biết ông, và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Trước mắt họ, ông là nhân vật đủ khả năng đối phó được với tình thế, vì vậy Washington sẵn sàng hỗ trợ ông ta. Nhờ thành tích cũ, và nhờ sự có mặt của em ông (là Ngô Đình Nhu) đang đứng đầu Mặt Trận Đoàn Kết Cứu Quốc, ông lại được nhiều nhà quốc gia cuồng nhiệt ủng hộ, các vị này từng làm đổ chính phủ (Nguyễn Văn) Tâm và chính phủ Bửu Lộc.”

Ngày 16 Tháng Sáu, 1954 khi chỉ định ông Diệm, thoạt đầu thì ông Diệm đã từ chối. Ông Bảo Đại viết về câu chuyện này:

-“Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ,” Quốc Trưởng Bảo Đại nói với ông Ngô Đình Diệm

-“Thưa hoàng thượng, không thể được ạ,” ông Diệm đáp. “Tôi xin trình ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu…”

-“Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.”

Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông đáp:

-“Thưa hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà ngài trao phó.”

Như vậy, giây phút ấy – ngày 16 Tháng Sáu, 1954 – là giây phút quyết định số mệnh của ông Ngô Đình Diệm. Ông muốn từ quan – không phải là để “lên non tìm động hoa vàng” – nhưng là…để đi tu. Khi Quốc Trưởng Bảo Đại nại đến sự tồn vong của đất nước và không cho ông được phép từ quan, ông mới lĩnh nhận sứ mạng, một sứ mạng đưa đến cho ông bao nhiêu nguy hiểm, gian lao ngay từ đầu, để rồi tiếp tục cuộc hành trình chông gai đi tới cuối đường, nơi tử thần đứng sẵn để chờ đợi ông.

Bước gian truân ban đầu

Khi chỉ định ông Diệm, Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ hỏi ý kiến Ngoại Trưởng Foster Dulles của Mỹ, chứ không phải là “Mỹ đưa ông Diệm về Việt Nam làm thủ tướng” như dư luận hay nói đến. Vì biết rõ uy tín của ông Diệm ở Việt Nam nên Mỹ rất ủng hộ ý kiến của ông Bảo Đại.

Nhưng sự ủng hộ cũng không kéo dài được bao lâu. Chỉ nội trong 10 tháng, Thủ Tướng Diệm cố gắng để thành lập một chính phủ trong hoàn cảnh rối ren 1954 của Sài Gòn, Mỹ đã muốn thay thế ông. Lý do chính yếu là sự vận động thành công của Pháp để loại trừ ông vì biết thành tích chống Pháp của gia đình Ngô Đình Khả.

Mỹ đã nghe những lời khuyến dụ của Tướng Paul Ely (tư lệnh Pháp ở Đông Dương) đánh giá ông Diệm không đủ khả năng lãnh đạo và không được dân chúng miền Nam ủng hộ. Ely lại là bạn đồng liêu của Tướng John Collins của Mỹ trong Thế Chiến II. Bây giờ ông Collins là đặc ủy (rồi đại sứ) của Tổng Thống Dwight Eisenhower tại miền Nam. Đầu Tháng Tư, 1955, Tướng Collins đề nghị rõ ràng về năm bước để loại bỏ ông Diệm (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 11).

Và ông Collins đã thành công. Cuối Tháng Tư, 1955, Washington có chỉ thị tối mật: Thay thế Thủ Tướng Diệm. Nhưng nhờ cơ may, ông Diệm lật ngược được thế cờ trong khoảnh khắc và Washington hủy mật lệnh này.

Với cái thế mạnh sau Tháng Tư, 1955, Thủ Tướng Diệm đẩy được người Pháp ra khỏi Việt Nam, thu hồi được độc lập cả về chính trị, quân sự lẫn kinh tế, tài chánh, hoàn thành được giấc mộng mà gia đình Ngô Đình Khả nuôi dưỡng từ khi còn làm quan triều Nguyễn.

Hiệp Định Geneva (Tháng Bảy, 1954) chỉ là để phân chia ranh giới rút quân. Quân đội Liên Hiệp Pháp rút về bên dưới vĩ tuyến 17 chứ không phải là rút khỏi Việt Nam.

Ngày 20 Tháng Năm, 1955 là cái mốc lịch sử vì hôm đó quân đội Pháp rút khỏi khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn. Tới Tháng Bảy, số quân đội Pháp từ 175,000 xuống chỉ còn 30,000. Ông Diệm yêu cầu là cả quân đội lẫn huấn luyện viên người Pháp đều bắt buộc phải rời khỏi miền Nam vào mùa Xuân, 1956.

Ông Diệm đã thật vất vả và chấp nhận nhiều nguy hiểm khi đi tới quyết định này. Sau cùng, vào Tháng Tám, 1955, Pháp đồng ý đóng cửa cơ quan quản lý thuộc địa, gọi là “Bộ Các Quốc Gia Liên Kết.”

Về phía Mỹ thì Đại Sứ Collins, người nghe lời Tướng Pháp Paul Ely vốn đã muốn lật đổ Thủ Tướng Diệm, cũng bị thuyên chuyển. Ngày 14 Tháng Năm, 1955, ông rời Việt Nam sang nhận trách nhiệm mới tại NATO. Đại Sứ G. Frederick Reinhardt sang thay ông Collins. Tân đại sứ liền tuyên bố ngày 27 Tháng Năm: “Tôi tới đây với chỉ thị là thi hành chính sách của Hoa Kỳ ủng hộ chính phủ hợp pháp của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.”

Sang mùa Thu 1955 uy tín của Thủ Tướng Diệm lên cao. Đối nội, ông nối kết lại được một quốc gia đang bị phân tán nặng nề, khuất phục được sự chống đối của Tổng Tham Mưu Quân Đội (thân Pháp) Nguyễn Văn Hinh, chấm dứt được sự đe dọa của cảnh sát, quân đội quốc gia đã tuân lệnh ông quét sạch lực lượng Bình Xuyên rồi được đại hội các đoàn thể chính đảng nhất mực ủng hộ. Thêm nữa, ông có hậu thuẫn mạnh mẽ của gần 1 triệu người di cư.

Đối ngoại thì ông Diệm cương quyết chống trả và khuất phục được mưu đồ của Pháp và kế hoạch dẹp tiệm của cặp Ely-Collins, bây giờ lại được Washington nhất mực ủng hộ. Nhiều nhà quan sát quốc tế bình luận: “Ông Diệm đã làm được những việc như phép lạ.”

Với cái thế ấy, ngày 26 Tháng Mười, 1955, Thủ Tướng Diệm tuyên bố thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa, và trở thành tổng thống đầu tiên. Tên chính thức của nước Việt Nam đổi từ “Quốc Gia Việt Nam” sang “Việt Nam Cộng Hòa,” nhưng bài quốc ca và quốc kỳ không thay đổi.

Quốc Hội đầu tiên: Tháng Ba, 1956

Ngày 4 Tháng Ba, 1956, cột trụ của chính thể cộng hòa được xây dựng. Nhân dân miền Nam đi bầu một Quốc Hội Lập Hiến. Với dân số là 12 triệu người, gần 80% số người được đi bầu đã thực sự tham gia để chọn 123 Dân Biểu trong số 405 ứng cử viên. Dù tới gần một phần ba số ứng cử viên được chính phủ đề cử không trúng cử, đa số những người được bầu là “thân chính.”

Tuy không phải là một cuộc bầu cử lý tưởng, vì chắc chắn đã có những vận động, sắp xếp không chính đáng, hoặc gian lận, như các phe đối lập tố cáo, nó cũng là bước đi đầu tiên của một hành trình lâu dài để xây dựng nền cộng hòa. “Res Publica,” quan niệm của nhà triết học Plato từ thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, có nghĩa là “sự việc hay cơ chế của nhân dân,” chúng ta dịch là “Cộng Hòa.” Nòng cốt của cơ chế này là một thể chế đại diện cho nhân dân để làm ra luật pháp. Mục đích của Quốc Hội năm 1956 là soạn thảo một hiến pháp. Với sự cố vấn của ông J.A.C. Grant, một chuyên gia hiến pháp người Mỹ, một hiến pháp thành hình, đặt nặng nguyên tắc phân quyền giữa hành pháp, lập pháp, và tư pháp giống như Hiến Pháp Hoa Kỳ, ít nhất là về mặt lý thuyết.

Bầu xong Quốc Hội Lập Hiến, vào mùa Hè 1956, bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ gửi một Bản Ghi Nhớ cho tổng tham mưu liên quân thông báo “ý định của Tổng Thống Dwight Eisenhower, các cơ quan có thẩm quyền về quân sự phải cổ võ giới quân sự Việt Nam để làm một kế hoạch song song và phù hợp với kế hoạch dựa trên căn bản chính sách của Hoa Kỳ để đối phó với những tấn công của Cộng sản. Và một cách kín đáo, phải thông báo cho họ biết rằng Hoa Kỳ sẽ yểm trợ nước Việt Nam tự do để đương đầu với bất cứ sự tấn công nào từ bên ngoài vào.”

Tổng Thống Eisenhower hết mực ủng hộ. Riêng đối với Ngoại Trưởng Dulles thì sau chuyến viếng thăm Tổng Thống Diệm vào ngày 14 Tháng Năm, 1956, ông lại càng thêm tin tưởng. Điều trần tại một ủy ban Thượng Viện Hoa Kỳ sau ngày trưng cầu dân ý, ông Dulles khẳng định:

“Ông Diệm đã làm được một việc quá tốt đẹp, dĩ nhiên là với sự yểm trợ của chúng ta, là quét sạch được các lực lượng phe phái…và quyền bính của ông bây giờ được đại chúng chấp nhận. Ông được Hoa Kỳ yểm trợ để đào tạo và võ trang một quân đội quốc gia, và quân đội ấy đã chiến đấu một cách trung thành và hữu hiệu, mang được quyền bính của trung ương tới mọi nơi trong nước tới mức độ thật ngạc nhiên…

“Nhân dân miền Nam đã có được một cuộc trưng cầu dân ý khoáng đại. Ngày tôi rời Việt Nam, họ bắt đầu có những cuộc họp để sửa soạn cho bầu cử  một quốc hội đầu tiên, như vậy nền móng đã được đặt xuống để xây dựng một chính phủ đại diện cho quốc dân.

“Ông Bảo Đại đã bị loại bỏ đi rồi và nhân dân Việt Nam hiện có khả năng xây dựng một chính thể chống cộng mạnh mẽ và hữu hiệu tại một nơi mà đã có lúc coi như sắp bị tan rã vì hai lý do: Hậu quả của việc Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, và những điều khoản bất lợi của một hiệp định đình chiến (Hiệp Định Geneva).”

Ngày 26 Tháng Mười, 1956 Quốc Hội Lập Hiến trở thành Quốc Hội Lập Pháp sau khi Hiến Pháp được ban hành (và năm 1959, Quốc Hội được bầu lại lần thứ hai).

“Một quốc gia tự do vừa ra đời”

Tháng Năm, 1957, Tổng Thống Eisenhower mời tân tổng thống nước Cộng Hòa Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ ba tuần. Ông gửi máy bay riêng Columbine III sang tận Honolulu, Hawaii, để chở Tổng Thống Diệm tới Washington, DC, một hành động rất hãn hữu. Khi máy bay hạ cánh xuống phi trường National Airport (bây giờ là phi trường Ronald Reagan Washington National Airport) thì chính Tổng Thống Eisenhower có mặt để đón chào. Đây là lần thứ hai trong suốt hai nhiệm kỳ tổng thống mà ông Eisenhower đích thân ra tận phi trường để đón quốc khách. Lần đầu là đón Quốc Vương Saud của Saudi Arabia.

Sau khi trao đổi với Tổng Thống Eisenhower và Ngoại Trưởng Dulles tại Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Diệm được cả Thượng Viện và Hạ Viện Hoa Kỳ mời tới Quốc Hội để diễn thuyết. Thượng nghị sĩ, dân biểu cả lưỡng đảng đều có mặt đầy đủ. Cho tới lúc ấy thì chưa có lãnh đạo Á Đông nào có cái vinh dự này. Những tràng pháo tay nổ ran khi ông Diệm nói tới “ước nguyện của nhân dân Việt Nam chỉ là được sống trong hòa bình, tự do và họ sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ tự do và độc lập của mình, chỉ yêu cầu nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ cho họ về phương tiện và vật chất.” Một cách gián tiếp, ông muốn gửi thông điệp là chúng tôi chỉ cần sự yểm trợ vật chất, các ông chớ có mang quân vào Việt Nam.

Rồi ông nhấn mạnh đến quyền lợi hỗ tương của cả hai nước dựa trên căn bản miền Nam là tiền đồn của thế giới tự do. Ông nói thẳng bằng tiếng Anh chứ không qua thông dịch viên. Theo một người bạn chúng tôi lúc ấy làm ở đài VOA (bác Trịnh Văn Chẩn) được cử đi làm phóng sự, ông Diệm nói với âm hưởng Huế, có câu các dân biểu, thượng nghị sĩ không hiểu rõ, nhưng cứ đứng lên vỗ tay vang vang thật lâu, và đứng lên nhiều lần.

Tại New York, Thị Trưởng Robert Wagner tổ chức một cuộc diễn hành để chào mừng vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam. Ít quốc khách nào được đón tiếp như vậy. Dù ít người ở thành phố này biết ông Diệm, nhưng dân chúng đổ xô ra đường phố để hoan hô. Từ các cao ốc, những cánh hoa đủ mầu sắc được rắc xuống chiếc xe limousine mở mui chở ông Diệm đi qua. Báo chí đồng loạt ca tụng, nói đến “Một quốc gia tự do vừa ra đời.” Nhật báo New York Times gọi Tổng Thống Diệm là “một người giải phóng Á Châu,” tuần báo Life: “Con người cứng rắn và như phép lạ của Việt Nam” (A tough miracle man of Vietnam). Sau này Phó Tổng Thống Lyndon Johnson (thời Tổng Thống John Kennedy) còn gọi ông Diệm là “Churchill của Á Châu.”

Phản ứng tại Quốc Hội Mỹ hết sức thuận lợi. Các nhà lập pháp thay nhau khen ngợi. Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits (Cộng Hòa-New York) tuyên bố: “Ông là một trong những anh hùng của thế giới tự do.” Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield (Dân Chủ-Montana), người ủng hộ ông Diệm trong những giờ phút nguy hiểm, giờ đây hết sức vui mừng, ca ngợi Tổng Thống Diệm là con người có quyết tâm, can đảm, trong sạch và chính trực, “một người đã chứng tỏ khả năng rất cao trước những khó khăn thật là to lớn.” Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy (Dân Chủ-Massachusset), tổng thống tương lai của Mỹ lúc đó, còn tuyên dương Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Diệm: “Việt Nam là nền tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á, là đỉnh vòm của vòng cung (keystone to the arch), là ngón tay trên con đê (finger in the dyke).”

Cuối mùa Hè 1957, những hình ảnh tiếp đón Tổng Thống Diệm linh đình tại thành phố New York và thủ đô Washington, DC được chiếu thật lớn trên màn ảnh tại các rạp chiếu bóng ở Sàigòn cũng như các đô thị, sau phần tin tức nhộn nhịp về thể thao. Bầu không khí lúc ấy thật là phấn khởi. Sinh viên, học sinh chúng tôi hết sức vui vẻ “xuống đường” liên tục, chăng biểu ngữ đi tuần hành để “chào mừng tổng thống đầu tiên, ủng hộ Quốc Hội Lập Hiến.”

Mỗi buổi sáng, tiếng kèn trống của ban quân nhạc oang oang trên đài phát thanh cử hành lễ chào cờ, tiếp theo là bài tung hô Ngô Tổng Thống: “Bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người….”

Ngày 28 Tháng Tư, 1956, những người lính Pháp cuối cùng rời Việt Nam.

Sự chiếm đóng của quân lực Pháp từ Hiệp Ước Patenotre do triều đình Huế ký với Pháp năm 1884 tới đây đã hoàn toàn chấm dứt trên thực tế.

Buổi bình minh của nền Cộng Hòa thực là huy hoàng rực rỡ. [đ.d.]


https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/tt-ngo-dinh-diem-va-binh-minh-huy-hoang-cua-cong-hoa-viet-nam/

Wednesday, September 7, 2022

NGÔN NGỮ NAM KỲ BỊ MẤT TỪ TỪ.

 

Bàn về cái sân bay Tân Sơn Nhứt thiệt nhức đầu!

Năm 1920 Pháp giải tỏa gần hết cái làng Tân Sơn Nhứt, thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định làm sân bay, phần đất còn lại không đủ tiêu chuẩn lập làng riêng, nên hiệp với làng Chí Hòa thành làng Tân Sơn Hòa.
Cái thuở đó tên sân bay tiếng Pháp là aérodrome. Tân Sơn Nhứt là sân bay duy nhứt và đầu tiên ở Việt Nam và Đông Dương thời đó.
Người Nam Kỳ mình gọi tên tục là “sân bay” và “máy bay”. Cái gì vù lên trời là bay hết, thí dụ chim bay.
Do người Tàu kêu sân bay là 機場 (cơ trường) nên người Nam Kỳ khai sanh chánh thức sân bay là phi trường, máy bay là phi cơ.
Nhắc lại tập tánh dân Nam Kỳ mình nè.
Xưa nay cái gì chạy dưới nước kêu là tàu, cái nào chạy trên lộ (đường) là xe, cái gì bay trên trời là máy bay (phi cơ, phi thuyền).
Trước 1975 tên sân bay Tân Sơn Nhứt là “Phi cảng Tân Sơn Nhứt” mà không là “Phi trường Tân Sơn Nhứt”.
Cảng trong văn hóa Việt xưa rày là 港 (cảng) là cửa sông, cửa biển, nhánh sông cho tàu bè đậu, như: “hải cảng” 海港, “thương cảng” 商港, “quân cảng” 軍港...
 Tỉ dụ như Hương Cảng 香港 là cảng thơm (Hongkong).
Vì sao ở miền Nam trước 1975 tên sân bay Tân Sơn Nhứt là “Phi cảng Tân Sơn Nhứt” mà không là “Phi trường Tân Sơn Nhứt”?
Cũng là những người Bắc Kỳ 54 trong chánh quyền VNCH cố tình sửa chữ “áp đặt” Nam Kỳ, còn các quan Nam Kỳ thì quá hời hợt, ai làm gì cũng im re, nín khe.
Sau 1975 cộng sản Bắc Việt vô chiếm Miền Nam thì áp đặt thô bạo luôn, họ sửa luôn tên làng Tân Sơn Nhứt thành Tân Sơn Nhất.
“Phi cảng Tân Sơn Nhứt” thành “Cảng hàng không Tân Sơn Nhất”.
Cảng của tàu, ghe, thuyền giờ qua tới cảng… máy bay???
Vui và ngộ, tức cười cái là máy bay, phi cơ 飛機 biến thành “Tàu bay”, lên máy bay nghe mấy cô tiếp viên Bắc kỳ “Mời anh lên tàu bay” mà thấy quê mùa thịt chó mắm tôm gì đâu á!
Cái này trong văn hóa Miền Bắc nhà quê từ xưa lận.
Người Bắc Kỳ khá ngược ngạo khi kêu cái hỏa xa (火車) là tàu hỏa trong khi dân Nam Kỳ kêu là xe lửa.
Nên nhớ xe lửa Saigon-Mỹ Tho là có đầu tiên ở Nam Kỳ nha!
Tại sao tàu thuyền lại chạy trên mặt đất?
Họ kêu máy bay là tàu bay, kêu phi thuyền là “tàu vũ trụ”, nghe “Phở tàu bay” là biết của ai bán rồi hén?
Nhiều người lý giải rằng chữ “cảng hàng không” là dịch từ chữ airport (Anh), aéroport (Pháp), có chữ port là cảng hết ráo.
Rồi airship là khí cầu, có chữ ship là... tàu hết ráo.
Nói như vầy là đánh tráo khái niệm.
Vậy chứ cái xe lửa tiếng Anh, Pháp là train có chữ ship hay port nào đâu mà Bắc Kỳ cũng kêu là “tàu hỏa” đó.
Hán Việt nó có quy tắc của nó, người Nam Kỳ xài chính xác, từ rất đẹp không có gì phải sửa tùm lum, rồi xọ từa lưa.
Chữ 艚 (Tào) người Nam Kỳ đọc là Tàu có nghĩa là “thuyền”, còn chữ 漕 tào này cũng là vận tải đường thuỷ mà thôi.
Tỉ dụ như bài thơ:
“Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen”
Nếu đổi lại thành “Tàu bay đáp xuống một chiều” thì... coi như đem quăng vô thùng rác nguyên bài thơ.
“Tàu bay” là một từ nhà quê, của những người trong hốc bà tó người ta nói mà thôi.
Người Bắc toàn sanh sau đẻ muộn thời hiện đại ở Việt Nam nhưng bản chất thích sửa lưng và áp đặt.
Rõ ràng là “anh cả” Bắc Kỳ cố tình sửa chữ ép “em út” Nam Kỳ khi cho ngôn ngữ mình là chánh thống, đúng tiêu chuẩn thống nhứt chung.
Đây là ý đồ chánh trị rõ ràng.
Nhưng Bắc Kỳ cũng không thống nhứt chữ “tàu bay” và “cảng hàng không”.
Thí dụ bài nhạc “Chiều trên bến cảng” của một nhạc sĩ Miền Bắc có câu:
“Một chiều mùa hè gặp nhau trên bến cảng
Ta chia tay nhau
Trong lòng bao lưu luyến
Anh đi ra khơi theo mùa cá biển”
Và:
“Khi chia tay anh dạo trên bến cảng
Biển một bên và em một bên”
Đọc xong ai cũng biết mặc định cảng là phải có sông hoặc biển.
Rồi mới đây vụ rớt phi cơ chiến đấu thì báo chí Việt Nam ghi là “Máy bay Su 22 gặp nạn: Các anh đều là phi công giỏi”.
Ngộ ta? Sao không ghi là “tàu bay Su 22” và có hai “tàu công” hy sanh?
 
Nguyễn Gia Việt

July 29, 2018

Nguồn: https://www.facebook.com/conduongthienly/posts/642034856167951