Wednesday, April 6, 2022

TỪ HÀ NỘI ĐẾN SÀI GÒN - TỪ DI CƯ 1954 ĐẾN DI TẢN 1975 TRỐN CHẠY CỘNG SẢN...

 

image

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt vô cùng lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

 

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

 

image

Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

 

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

image

Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

 

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

 

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

 

image

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

 

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

 

image

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

 

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

 

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

 

image

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

 

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

 

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

 

image

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

 

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

 

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

 

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

 

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

 

image

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

 

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

 

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

 

image

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

 

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

 

image

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

 

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vàoNam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

image

Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam.

 

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

 

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

 

image

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

 

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

 

image

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

 

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

 

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

 

image

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

 

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

 

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

image

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

 

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

 

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

 

image

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

 

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

 

image

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

 

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

 

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

 

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

 

image

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư.

 

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

 

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

 

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

 

image

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

 

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

 

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

 

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

image

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

 

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nambị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

 

image

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

 

Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.

 

image

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

 

Lữ Tuấn

 Nguồn : http://www.vietlist.us/SUB_VietHistory/lichsu1402260421.shtml

Monday, February 28, 2022

NHỮNG CUỘC THANH TRỪNG TRONG CÁC ĐẢNG CỘNG SẢN

Trúc Giang MN

Tìm hiểu

Daikyniem
Đài tưởng niệm nạn nhân Cộng sản gần thị trấn Donetsk, Ukraine.


Mở bài

Mục đích tối hậu của người làm chính trị là nắm lấy quyền lực. Ở những nước dân chủ thì quyền lực được nhân dân trao cho một cách hợp pháp, có giới hạn bằng những nhiệm kỳ, qua những cuộc bầu cử công bằng. Đó là sinh hoạt của xã hội văn minh. Trái lại, bọn lưu manh thì dùng thủ đoạn và bạo lực để cướp chính quyền. Khi đã nắm được chính quyền rồi, thì dùng những thủ đoạn gian manh, lừa bịp để bảo vệ và duy trì quyền lực.

Mao Trạch Đông đã từng nói: “Súng đẻ ra chính quyền”. Lịch sử của các đảng Cộng sản là lịch sử của những cuộc thanh trừng dã man, tàn bạo, điển hình là đảng CS Liên Xô, Trung Cộng và cả đảng CSVN nữa.

Tại sao các đồng chí lại phải thanh trừng lẫn nhau?

Lý do giản dị là, các đảng Cộng Sản (CS) là những tổ chức độc tài, không những độc tài với nhân dân, mà còn độc tài trong nội bộ đảng nữa. Không có dân chủ thì sinh ra tranh chấp. Tranh chấp sinh ra bè phái, phe nhóm. Sức mạnh là yếu tố chiến thắng trong mọi tranh chấp. Dùng sức mạnh để cai trị. Vì nạn bè phái, phe nhóm, cho nên những cuộc thanh trừng thường kéo theo rất nhiều người từ trung ương đến địa phương, và cuộc thanh trừng được tổ chức bằng những chiến dịch hoặc được gọi là cuộc cách mạng. Triệt hạ đối thủ chính trị bằng nhiều hình thức như đấu tố, bắt bớ giam cầm, ám sát, thủ tiêu, cô lập, quản chế…

Cuộc thanh trừng trong đảng Cộng Sản Liên Xô

Diễn tiến Đại Thanh Trừng

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSeKZTJwHDcDdfGu7lmRjNj4F37fLbKB1vTUFBXQ4VI2wepk_dm

Joseph Stalin. 

Đại Thanh Trừng là một chiến dịch thanh trừng đẫm máu diễn ra ở Liên Xô dưới sự chỉ đạo của Joseph Stalin vào thập niên 1930. Đó là một cuộc thanh trừng đẫm máu, tàn sát những người chống đối tư tưởng và chế độ của Stalin. Nạn nhân là những đảng viên cao cấp trong đảng Bolshevik (Đảng Cộng Sản Liên Xô). Nổi tiếng nhất là Leon Trotsky, bị tống ra khỏi đảng năm 1927, bị đày tới Kazakhstan năm 1928 và sau đó bị trục xuất ra khỏi Liên Xô năm 1929. Sau cùng, Stalin cho người ám sát Trotsky tại Mexico năm 1940.

Stalin đã hủy hoại về mặt tinh thần và thể xác những đối thủ chính trị, ngay cả những người từng là thân cận. Có đến hàng triệu người bị giam giữ trong các trại lao động cưỡng bách (Gulag), bị giết, như con trai của Trotsky là Lev Sedov.

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQuz-lRqHhvgbI1dCIhvfqsOB60ZMmgbOL1DPpKYfxTcVVbwET4  https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQzm4tnkIlDVldzaHiXd4agOswbUT7H20EqGV84X9qSi_04SjBzRQ Gulag- Lịch sử trại cải tạo lao động Xôviết- Phần 2 | Nghiên Cứu Lịch Sử

       Trại lao động khổ sai Gulag.

Hai năm 1936, 1937 là thời gian kinh hoàng nhất đã bao trùm trên Liên Xô, gọi là “Nỗi khiếp sợ vĩ đại”. Chính tay Stalin đã ký 40,000 giấy cho phép xử bắn những người tình nghi là đối thủ chính trị của ông ta. Ngoài ra, hàng loạt người bị bắt giữ, tra tấn và hành quyết mà không cần toà án.

Theo tài liêu được giải mật, chỉ riêng 2 năm 1937, 1938 đã có 681,692 người bị xử bắn. Các nhà sử học cho rằng con số nầy đã bị nhà nước Liên Xô giảm xuống. Thật ra, con số thật sự khoảng 1,548,367 người bị xử bắn. Tính ra, trung bình có hơn 1,000 người bị giết mỗi ngày. Hàng triệu người được chuyển tới những trại lao động cưỡng bách.

Trong các cuộc điều tra của Bộ An Ninh thì có:

– 1,710,000 người bị bắt giữ.

– Có ít nhất là 2,000,000 người bị kết vào những tội dân sự.

Tới lượt Joseph Stalin bị thanh trừng

Tên Nga là Iosif Vissarionovich Stalin, sinh ngày 18/12/1878. Quân hàm Đại nguyên soái, Tổng tư lịnh Quân Đội Liên Xô.

Ngày 1/3/1953, sau khi ăn tối với Bộ trưởng Nội vụ là Beria (Giám đốc KGB) và 3 ứng viên có khả năng làm thủ tướng tương lai, là Georgi M. Malenkov, Nikolai A. Bulganin và Nikita S. Khrushchev, ở Moskva, thì Stalin bị ngã quỵ trong phòng rồi nằm liệt giường. Đám cận vệ lấy làm lạ là không thấy ông thức dậy vào buổi sáng hôm sau, nhưng họ có lịnh của Beria là không được quấy rầy Stalin, cho nên đến tối hôm đó, mới phát hiện Stalin đã chết.

Có nguồn tin cho rằng Beria đã đầu độc Stalin để chiếm đoạt chức vụ. Và Beria là người thay thế Stalin liền ngay sau đó. Stalin được tuyên bố là đã qua đời vào ngày 5/3/1953 (74 tuổi). Thi hài được giữ trong Lăng Lênin cho mãi tới ngày 31/10/1961 thì mới được mang ra khỏi Lăng và chôn bên cạnh tường của Điện Kremlin.

Beria, tên đao phủ của Stalin

http://i50.tinypic.com/22z28n.jpg  https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTqeubi2IA7-j1ShwbsGY-nIm--0UxhjX0141ElS0yDFKFRtjoA2g

                                     Lavrentiy Pavlovich Beria.

Lavrentiy Pavlovich Beria (29/3/1899 – 23/12/1953) là đại tướng 4 sao, trùm mật vụ KGB, tên đồ tể thi hành những vụ bắt bớ giam cầm, ám sát và thủ tiêu những đối thủ chính trị của Stalin.

15 thành viên của chính quyền Bolshevik đầu tiên, ngoại trừ Stalin, thì 14 người còn lại đã bị Beria xử bắn 10 người, và thủ tiêu 4 người. Beria cũng ra lịnh cho Ramon Mercader ám sát Trotsky tại Mexico ngày 20-8-1940.

Beria tiến hành thanh trừng trong quân đội.

– 3 trong 5 Nguyên soái bị tử hình.

– 3 trong 5 Tổng tư lịnh Quân Đoàn bị tử hình.

– 10 Phó tổng tư lịnh QĐ bị tử hình

– 57 trong 85 Tư lịnh Quân đoàn bị tử hình

– 110 trong 195 tư lịnh sư đoàn bị tử hình.

Beria, Giám đốc KGB, có thể bắt giữ và giết chết bất cứ ai, thường bắt gái đẹp ngoài phố đưa về văn phòng hãm hiếp. Sau khi Stalin chết, Beria lên thay thế nhưng liền sau đó bị nhóm của Nikita Khrushchev, gồm Molotov và Malenkov bắt giam cùng với bè đảng hàng chục người.

Một toà án đặc biệt do nguyên soái Ivan Konev lãnh đạo, đã bí mật xét xử từ ngày 16 đến 23/12/1953. Khi quyết định của toà án đưa ra thì Beria đã bị xử bắn tại phòng giam của cơ quan Phòng không. Có nghĩa là, Beria đã bị giết chết trước khi toà án được thành lập.

Stalin đã tạo ra chính sách Tôn sùng cá nhân để tự tôn sùng mình. Nhiều nhà báo cho rằng Stalin tàn bạo hơn Hitler, ở chỗ Stalin tàn sát đồng bào của hắn bằng chính sách khủng bố nhà nước.

Đảng Cộng Sản Việt Nam “nâng bi” Stalin

Stalin là tên đồ tể của đảng CS Liên Xô (Bolshevik). Các khuôn mẫu về tàn sát đồng bào của Stalin đã được thi hành rập khuôn bởi những tên đồ tể như Mao Trạch Đông, Pol Pot và cả Hồ Chí Minh nữa. Sự thật còn chứng cớ ràng ràng không thể chối cãi được.

Tại Đại Hội II ở Việt Bắc vào tháng 2 năm 1951, Hồ Chí Minh lên tiếng hỏi: “Các cô các chú có biết vì sao ta đổi tên đảng Lao Động thành đảng Cộng Sản không?” Cả hội trường đồng thanh đáp vang “Dạ không ạ!” Ông Hồ nghiêm nghị nói: “Bác đã xin ý kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi. Các cô các chú nên biết rằng, ai đó có thể sai, chứ hai vị lãnh tụ nầy của chúng ta không bao giờ phạm sai lầm, bác có thể bảo đảm chắc chắn như thế”.

Bức thơ Hồ Chí Minh gởi cho Stalin

Đồng chí I.V. Stalin thân mến,

Tôi gửi đồng chí chương trình Cải Cách Ruộng Đất của Đảng Lao Động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang.

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

Hồ Chí Minh xin chỉ thị của tên đồ tể Stalin về việc giết đồng bào trong Cải Cách Ruông Đất.

Tố Hữu ca ngợi Stalin như sau:

https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRtHbGyLe5SV-sk2wswrsDmfxfqjOsdrA66JmSicCdCPtep5QFO

Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!

Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng lúa tốt thuế mau xong

Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh

Ông Xít ta lin bên cạnh nhi đồng

Áo ông “thấm đỏ máu hồng” (Áo ông trắng giữa mây hồng)

Mắt ông hiền hậu, miệng ông mĩm cười.

[…]

Ông Xit ta lin! ông Xít ta lin!

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười!

Thật là nâng bi trâng tráo quá cở thợ mộc. Nâng bi tập thể, nâng bi có kế hoạch. Nâng bi tội ác! Vậy ai là tay sai đế quốc đây?

Ngày 30/10/2009, Tổng thống Nga Dmitry Atolyevich Medvedev đã viết trên trang Blog của ông như sau:

“Hàng triệu người đã chết vì khủng bố do những cáo buộc dối trá. Không có sự phát triển nào gọi là thành công, bằng cái giá của hàng triệu sinh mạng của đồng bào mình. Không gì có thể đặt trên sự sống của con người cả. Hành động giết hàng loạt nhân dân mình của Stalin, không có lời giải thích nào thoả đáng cả”.

Trong một bài diễn văn có tên là “Bài diễn văn bí mật” được đọc vào lúc nửa đêm ngày 5/3/1956, Khrushchev đã tố cáo tội ác của Stalin: Tôn sùng cá nhân, vi phạm nội quy đảng về lãnh đạo tập thể, là một kẻ sát nhân và tra tấn, chụp mũ giết hại đảng viên lão thành Bolshevik.

Kết quả, hạ bệ Stalin, mang xác Stalin ra khỏi Lăng Lênin.

Hari Ini dalam Sejarah: Jasad Stalin Dipindahkan dari Makam Lenin Halaman  all - Kompas.com Pho tượng đồng khổng lồ nhà độc tài Stalin với chiều cao 18m bị nhân dân Hungary lật đổ trong cuộc cách mạng dân chủ mùa thu năm 1956. Budapest, ngày 23-10-1956 - Ảnh tư liệu

                                  Stalin bị hạ bệ theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Thanh trừng trong đảng Cộng sản Trung Quốc

Lưu Thiếu Kỳ – Phan Ba's Blog

                 Lưu Thiếu Kỳ.

Thất bại của “Đai Nhảy Vọt” – Mao Trạch Đông xung đột với Lưu Thiếu Kỳ

Mao Trạch Đông muốn nhảy từ nông nghiệp lạc hậu thẳng lên công nghiệp để trở thành một siêu cường quốc giàu nhất, mạnh nhất thế giới trong vòng 10 năm. Sáng kiến xây dựng lò cao luyện thép ở sân nhà của nông dân. Thế là đã có trên một triệu lò cao được xây dựng.

Phát động chiến dịch thi đua đi tìm “quặng”. Già trẻ bé lớn đều phải tham gia. Đinh vít, dao búa, bản lề, cuốc xẻng và ngay cả kẹp tóc, kim khâu cũng bị thu nhặt đưa vào lò. Khẩu hiệu “Một cục sắt là một tên đế quốc bị tiêu diệt”. Nông dân bỏ mùa màng, hoa màu không ai gặt, vào thi đua luyện thép. Thiếu than đốt lò. Cột nhà, mái rạ, bàn ghế, cây cối trong vườn, ngoài rừng ra tro hết.

Thu được một triệu tấn kim loại, nhưng phân nửa là vô dụng.

Thất bại là do cái tối tâm dốt nát của một nông dân thất học Mao Trạch Đông mà ra. Bành Đức Hoài lớn tiếng chỉ trích. Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình thì làm ngược lại những nguyên tắc của Mao. Thế là mâu thuẩn phát sinh, đưa đến thanh trừng.

Lưu Thiếu Kỳ thì bị loại trừ ra khỏi đảng, bỏ tù và hành hạ cho đến chết. Vợ của Lưu Thiếu Kỳ là Vương Quang Mỹ, bị Giang Thanh sai Hồng Vệ Binh đem ra đấu tố ngoài đường phố. Buộc Vương phải mặc váy dơ bẩn, cổ mang vòng hạt ngọc giả làm bằng nhựa, to bằng quả bóng bàn. Bọn sinh viên Hồng Vệ Binh đánh đập, đá, bắt phải quỳ, cúi đầu xuống, nhưng Vương vẫn ngẩng đầu lên và đứng dậy.

Mao Trạch Đông dở trò độc ác, tách riêng vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ (LTK) ra mỗi người một nơi để đấu tố, tránh trường hợp Lưu phát biểu, tố cáo tội ác của Mao trước công chúng. Hàng trăm người liên hệ xa gần với vợ chồng LTK đều bị bắt giữ, tra tấn, đe dọa, mớm cung, bịa chuyện để bắt tội LTK. Vương Quang Mỹ, vợ của LTK bị giam 12 năm và sau đó bà chết lặng lẽ ngày 13/10/2006.

cif7x6-20161001-bi-kich-cuoi-doi-cua-tuong-banh-duc-hoai-nguoi-dam-lam-phat-y-mao-trach-dong  Bành Đức Hoài – Wikipedia tiếng Việt

                                                                   Bành Đức Hoài.

Bành Đức Hoài cũng vậy, bị giam cho đến chết trong tù năm 1976. Số của Bành Đức Hoài (BĐH) rất bi đát. Bị quản chế ở vùng núi Tứ Xuyên năm 1957. Năm 1961 được cho về thăm quê nhà ở Hồ Nam. Năm 1966, Mao sai một viên tướng đi giải BĐH về Bắc Kinh. Viên tướng cảm phục và xin tha tội cho Bành, thì bị Mao bỏ tù luôn. Mao cho thuộc hạ hành hạ Bành Đức Hoài một cách tàn nhẫn. Đánh đập bằng gậy, mang giày da đá và đạp làm cho Bành bị gãy 2 xương sườn, chết đi sống lại. Bị hỏi cung 260 lần để tìm người cùng phe nhóm. BĐH ở tù 15 năm, chết được chôn dưới một bí danh. Sau khi Mao chết, ngày chết của BĐH mới được các cháu chắt biết ngày làm giỗ. Bành Đức Hoài chết chỉ vì dám phê bình Mao Trạch Đông.

Mao Trạch Đông giết Lâm Bưu

blank Lâm Bưu không biết giữ trái tim phụ nữ - VietNamNet

                                                         Lâm Bưu và cô vợ.

Lâm Bưu là thuộc cấp của Bành Đức Hoài, lừa thầy phản bạn, được Mao cho Lâm Bưu thay thế BĐH ở chức vụ Bộ trưởng Quốc Phòng, rồi làm Phó chủ tịch đảng, là nhân vật số hai, và được chọn làm người kế vị Mao. Lâm Bưu là “Kiến trúc sư” của cuộc Cách mạng Văn hoá. Mao còn cho vợ của Lâm Bưu (LB) vào Bộ Chính Trị. Bà nầy không có tài, mà còn nổi tiếng là đa dâm. Ở Nga, là bồ bịch với nhiều sĩ quan Nga, về nước thì quan hệ tình dục buông thả, vì Lâm Bưu bất lực, tạng yếu, sợ nước, sợ gió và tiếng động. Mật vụ của Mao còn ghi âm những cuộc trao đổi tình ái mùi mẫn trên điện thoại với viên Tổng tham mưu trưởng họ Hoàng.

Lòng tham quyền lực của Lâm Bưu không có giới hạn. LB muốn nắm lấy cái ghế Chủ tịch nước, thay thế Lưu Thiếu Kỳ. Trái lại, Mao Trạch Đông thì muốn bãi bỏ chức vụ đó, vì muốn trong nước chỉ có một chủ tịch, là chủ tịch đảng của Mao mà thôi.

Âm mưu bị phát hiện. Mao là người nham hiểm, ra tay triệt hạ những thủ hạ thân cận của LB. LB biết không chống lại nổi Mao, cho nên có ý định đưa vợ con chạy trốn. Kế hoạch đã vạch ra nhưng chưa biết sẽ chạy trốn ở đâu, Hồng Kông, Nga, hay Đài Loan. Lâm Bưu, vợ là Diệp Quần và con trai là Lâm Lập Quả, có bí danh là Hổ. Lâm Lập Quả đã thiết lập một tổ chức bí mật trong Bộ Tham mưu Không quân. Tổ chức gián điệp nầy bao gồm nhiều đơn vị, với những mật danh như “Hạm Đội Liên Hợp”, “Nhóm Nhỏ Thượng Hải”, “Tiểu Đoàn Hướng Dẫn”, hoạt động bí mật nhằm cướp đoạt quyền hành từ tay Mao Trạch Đông.

Lâm Lập Quả âm mưu ám sát Mao nhưng không thực hiện được. Một sai lầm lớn của Hổ là viết thơ cho chị là Lâm Lập Hành, (Còn có tên là Lâm Đậu Đậu) bảo về nhà gấp để sáng sớm hôm sau cả nhà lên đường chạy trốn. Nhưng người chị ruột nầy là người mê muội, bị nhồi sọ, và là 1 người rất tích cực trong Cách mạng Văn Hoá, cho rằng chạy ra nước ngoài là một hành vi phản bội tổ quốc, cho nên đã mật báo với lực lượng bảo vệ. Tin tức nầy được thông báo ngay cho Chu Ân Lai, và Chu ra lịnh kiểm soát vị trí của tất cả những phi cơ, nhất là chiếc Trident mà Lâm Bưu thường dùng. Lâm Lập Quả (Hổ) được bạn bè báo tin về lịnh kiểm soát của Chu Ân Lai, cho nên phải chạy trốn ngay.

Lúc 23 giờ 50 ngày 13/9/1971, xe chở gia đình Lâm Bưu vào sân bay, nhưng xe không dừng ở trạm kiểm soát, mà chạy vượt qua cổng, làm cho viên quản lý thường đưa LB ra phi trường, biết rằng có việc chạy trốn, nên hô hoán lên, và nhảy ra khỏi xe. Có vài tiếng súng nổ. Chiếc Trident đang đổ xăng mới có 12 tấn rưởi, nhưng phải cất cánh ngay. Phi hành đoàn 9 người nhưng chỉ còn có 4. Lại thêm một người bạn của Hổ trên chuyến bay. Hai giờ sau, phi cơ đến Ngoại Mông, trên đường qua Liên Xô, thì kim báo nhiên liệu sắp hết và bị nổ tung lúc 2 giờ 30 ngày 13/9/1971. Không ai sống sót. Nguồn tin cho rằng phi cơ bị hoả tiển bắn hạ.

Mao Trạch Đông hạ bệ Đặng Tiểu Bình

       Đặng Tiểu Bình trong CT Biên giới 1979: "Việt Nam là c.ô.n đồ, phải dạy cho  Việt Nam bài học”

Năm 1966, Đặng Tiểu Bình (ĐTB) theo phe Lưu Thiếu Kỳ. Trong Cách mạng Văn Hoá, ĐTB bị cách hết các chức vụ. Từ năm 1969 đến 1972, vợ chồng ĐTB bị đưa về quản chế ở Giang Tây. Con cái tất cả đều bị đưa đi trại cải tạo.

Ngày 20/3/1973, ĐTB được phục hồi công tác, trở về Trung Nam Hải (Bắc Kinh). Giữ chức Phó chủ tịch đảng, phó thủ tướng cho Chu Ân Lai vì Chu Ân Lai làm ăn bết bát quá về kinh tế.

Năm 1976, sau khi Chu Ân Lai mất, Mao Trạch Đông lại cách chức ĐTB, chỉ còn danh hiệu đảng viên, và còn hộ khẩu ở Bắc Kinh. Bị quản chế 3 tháng.

Mao Trạch Đông chết ngày 9/9/1976.

Sau khi “Bè Lũ Bốn Tên” bị lật đổ – bốn tên gồm: Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diệu Văn Nguyên và Vương Hồng Vân, bè lũ 4 tên chủ trương và thực hiện cuộc Cách mạng Văn hóa –

Đặng Tiểu Bình lại được phục hồi chức vụ.

Cách Mạng Văn Hoá Vô Sản đã tàn sát gần 10 triệu người, chỉ là để thanh trừng phe nhóm Lưu Thiếu Kỳ, sau khi Mao Trạch Đông bị mất uy tín do thất bại của Bước Đại Nhảy Vọt. Lưu Thiếu Kỳ đã yêu cầu Mao hãy chấm dứt cuộc CMVH, đừng trừng phạt ai nữa, nếu cần, thì hãy trừng phạt Lưu nầy mà thôi. Qua cuộc Cách Mạng Văn Hoá, Mao Trạch Đông đã đạt được mục đích là cũng cố và duy trì quyền lực.

Nhìn lại sự kiện bi thảm nầy, không có một tí gì gọi là cách mạng cả, mà cực kỳ phản văn hoá, vô nhân đạo, và còn đày đoạ đến tận cùng giai cấp nghèo khổ, vô sản.

Đối với người Việt Nam, thì hầu như nhà nào ở miền Bắc cũng phải treo hình Mao Trạch Đông và Stalin. Biết bao nhiêu bài thơ ca ngợi Mao của Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư… Nào là: Mao Trạch Đông là mặt trời, là cứu tinh, là ngôi sao sáng nhất, là cây đại thọ, là ngọn hải đăng, là Ông hiền từ, là Bác Nhân ái, là vị lãnh tụ anh minh…

Những lời của Mao được xem là chân lý vĩnh cửu.

Những vụ thanh trừng trong đảng Cộng Sản Việt Nam

Hồ Chí Minh “đi dây”, giữ thăng bằng đối với hai nước Cộng Sản đàn anh là Liên Xô và Trung Cộng.

– Thời 1930, theo Đệ Tam quốc tế, tức là Liên Xô.

– Thời 1963, Lê Duẩn. Lê Đức Thọ chống chủ nghĩa Xét Lại của Nikia Khruchchev, chống Liên Xô, theo Mao Trạch Đông.

– Thời 1975, theo Liên Xô chống Trung Cộng. Năm 1978 đuổi 250,000 người Hoa về Trung Cộng, và tổ chức vượt biên bán chính thức bằng tàu, gây ra “Nạn Kiều”. Dẫn đến chiến tranh biên giới (17/2/1979 – 16/3/1979).

– Thời 1990, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đến Thành Đô, Tứ Xuyên, xin Giang Trạch Dân cho Việt Nam được làm một khu sắc tộc tự trị, trực thuộc chính quyền trung ương ở Bắc Kinh như Mãn, Tạng, Hồi, Mông…Từ đó có cờ 6 ngôi sao.

Cứ mỗi lần thay đổi 180 độ giữa Trung Cộng và Liên Xô, thì phe nào mạnh, đàn áp, thanh trừng phe yếu dưới nhiều hình thức. Bắt giam không xét xử, khai trừ ra khỏi Đảng, cô lập, giết nhau dưới nhiều hình thức.

Nguyên do Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp bị hạ bệ và bị tước hết quyền lực – Chủ nghĩa Xét lại của Nikita Khruchchev

Bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí TIME ra ngày 13/4/1998 Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, thọ 103 tuổi

                                               Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Năm 1953, Nikita Khruchchev được bầu vào chức vụ lãnh đạo Liên Xô. Ông chủ trương “Sống chung hòa bình” giữa chế độ Cộng Sản và Tư Bản, đứng đầu là Hoa Kỳ. Mao Trạch Đông của Trung Cộng phản đối quyết liệt. Lên án đó là Chủ nghĩa Xét Lại. Họ Mao chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang quyết liệt, không nhân nhượng để tiêu diệt chế độ Tư Bản. Thế là Cộng Sản thế giới chia làm hai phe. Một phe chủ hòa theo Liên Xô, và phe chủ chiến theo Mao Trạch Đông.

“Vụ án Xét lại Chống Đảng” năm 1967 trong đảng Cộng Sản Việt Nam

Tên chính thức của vụ án là “Vụ án Tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại, và làm tình báo cho nước ngoài”. Vụ án mang mã số X77, do Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ, và Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn trực tiếp chỉ đạo. Đưa đến việc bắt giữ không xét xử nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao động và Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ năm 1967, với cáo buộc những người nầy đi theo Chủ nghĩa Xét lại và làm gián điệp cho ngoại quốc. Vì gián điệp trong Sứ quán Liên Xô can thiệp, bảo vệ Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh.

Nhận xét về vai trò của Lê Đức Thọ:

“Nó nắm toàn quyền sinh sát, giải giới bất cứ thành viên nào trong Đảng và chính phủ…”

“Nó vượt trội tất cả các loại mafia ở xứ khác…”

“Chúng là những tên mafia được Thọ sáng tạo theo kiểu mới, siêu hơn cả mật vụ…”

“Thọ như con bạch tuộc, có trăm ngàn cái vòi, không chỉ cuộn chặt người trong nước…”

“Tôi còn để cái đầu ông Giáp trên cổ là đã may lắm rồi!”

Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước: “Đ. M. Tao cũng sợ nó”.

Việc thanh trừng trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nội bộ đảng Lao Động (Cộng Sản) cũng chia làm hai nhóm. Nhóm chủ trương “Sống chung hòa bình”, hòa hoãn của Nikita Khruchchev, được gọi nôm na là phe thân Liên Xô. Nhóm theo Mao Trạch Đông, cụ thể là dùng biện pháp vũ trang để đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Phe thân Liên Xô gồm có Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh. Phe nầy không muốn đấu tranh vũ trang đánh chiếm miền Nam, vì làm như thế để Mỹ có cớ nhảy vào miền Nam và cũng có thể nhảy ra Hà Nội. Phe chủ chiến gồm những người đang lãnh đạo và ủng hộ cuộc chiến đấu gọi là “Giải phóng miền Nam”, gồm có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Tố Hữu, Hoàng Tùng, Trần Quốc Hoàn…

Nhà nghiên cứu Sophie Quinn-Judge viết trên tạp chí Journal of Coldwar History hồi tháng 11 năm 2015 cho biết, trong vụ “Xét lại Chống Đảng” có 300 người bị bắt, trong đó có 30 nhân vật cao cấp”.

Những người bị bắt

Những người bị bắt giam không xét xử, gồm đa số là cán bộ lão thành, thân Liên Xô, và nhất là những tay chân bộ hạ trung thành với Võ Nguyên Giáp. Gồm có: Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Đại tá Lê Minh Nghĩa, Đại tá Đỗ Đức Kiên, Hoàng Thế Dũng, Nguyễn Kiên Giang, Minh Tranh, Trần Minh Việt, Phạm Hữu Viết, Phạm Kỳ Vân, Trần Thư, nhà báo Vũ Thư Hiên, nhà văn Bùi Ngọc Tấn…

Những người bị khai trừ ra khỏi Đảng

Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh, Thiếu tướng Đặng Kim Giang, ông Bùi Công Trừng, đều bị khai trừ ra khỏi đảng.

Theo Judith Stowe, thì Võ Nguyên Giáp là đối tượng chính của Chiến dịch “Bài trừ Khuynh hướng Xét lại”. Người anh hùng Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp, bị giam lỏng, tay chân bộ hạ trung thành bị đưa vào tù. Còn ông thì được cử vào chức vụ kế hoạch hóa gia đình, nôm na gọi là cai đẻ. Người dân có câu: “Ngày xưa Đại tướng cầm quân, Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em”.

Riêng Hồ Chí Minh thì bị khống chế, cách ly, tước đoạt mọi quyền lực, cho giữ chức vụ Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mac-Lênin.

Âm mưu tước đoạt quyền lực Hồ Chí Minh của hai tên họ Lê


News – Vinagéo   About Lê Đức Thọ: Vietnamese diplomat (1911 - 1990) | Biography, Facts,  Career, Wiki, Life

                              Lê Duẩn                                                        Lê Đức Thọ

Theo một tài liệu được tiết lộ hồi sau năm 1975, thì Lê Duẩn và Lê Đức Thọ âm mưu tước đoạt quyền lực của Hồ Chí Minh bằng con đường đầu độc, thông qua các bác sĩ trị liệu, rồi căn cứ vào đó gán cho ông Hồ chết vì bệnh nhồi máu cơ tim. Ông Hồ không chết, bịnh nặng nên được đưa sang Trung Quốc chữa trị.

Thế là quyền lực thuộc về tay Lê Duẩn, Bí Thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động. Với sự hỗ trợ của hai chức vụ quan trọng là Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn, và Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Lê Đức Thọ. Ban Tổ chức Trung ương trực thuộc Bộ Chính trị và Tổng Bí thư Đảng. Ban nầy quản lý cán bộ các cấp. Bổ nhiệm vào các chức vụ, thăng chức, thăng cấp bậc, thuyên chuyển, cách chức, khen thưởng, trừng phạt… Tóm lại, Ban nầy có quyền hạn rất lớn.

Chiến dịch hạ nhục Võ Nguyên Giáp

Đặng Đình Loan là bộ hạ của Lê Đức Anh, được giao nhiệm vụ đi thuyết trình từ Bắc tới Nam, mục đích hạ nhục Võ Nguyên Giáp. Ở Huế, Đặng Đình Loan tiết lộ những điều cơ mật về Võ Nguyên Giáp như sau:

– Võ Nguyên Giáp là con nuôi của trùm mật thám Pháp tên Marty. Giáp tiếm quyền Phùng Đức Kiên trong việc thành lập quân Giải phóng ở Tân Trào.

– Ở trận Điện Biên Phủ, Giáp sợ chết, cứ nằm lì dưới hầm suốt, may nhờ có Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái chỉ huy nên mới thắng lớn, rồi Giáp dành vinh quang cho mình. Giáp có tội theo phe Xét Lại Chống Đảng của Khrushchev, và thụt thò làm gián điệp cho Đại sứ Liên Xô Sherbacov. Giáp giỏi tài nịnh bợ ông Hồ.

– Sau Hiệp định Genève, Giáp cho phục viên 8 vạn quân, đưa 2 vạn ra nông trường. Đó là sai lầm về chiến lược. Khi quân Mỹ đánh, Giáp sợ chết, không dám vào miền Nam vì sợ Hoa Kỳ bỏ bom nguyên tử.

– Năm 1974, khi làm chiến lược, Giáp làm kế hoạch 4 năm nên bị Lê Duẩn bác bỏ. “Nếu 4 năm thì đừng đánh nữa!”

– Giáp bê bối, tằng tịu với vợ của nhà văn Đào Vũ, khi bà đến dạy piano ở nhà riêng. Lẽ ra, Giáp phải bị loại trừ từ lâu, nhưng vì sợ Liên Xô cúp viện trợ, nên loại ra khỏi Bộ Chính Trị năm 1981 ở Đại Hội V, loại trừ ra khỏi Trung Ương năm 1991 ở Đại Hội VII. (Đặng Đình Loan).

Võ Nguyên Giáp bị hạ nhục, nên nhiều cán bộ cho rằng Võ Nguyên Giáp hèn nhát.

Những tướng lãnh thân cận với Võ Nguyên Giáp bị thanh toán

 blank  Hoàng Văn Thái Whois

                       Lê Trọng Tấn                                           Hoàng Văn Thái

Theo lệnh của Lê Đức Thọ, Cục An ninh Bộ Nội Vụ đã cho mật vụ giết Đại Tướng Hoàng Văn Thái vào khoảng 1986, và năm sau lại giết Đại Tướng Lê Trọng Tấn, đồng thời bắt hàng loạt các sĩ quan cao cấp trong Bộ Quốc Phòng, là những người bị cho là trung thành với Võ Nguyên Giáp. Vụ 7 tướng lãnh cao cấp, thuộc hạ của Võ Nguyên Giáp, trong đó có Thượng tướng Đào Trọng Lịch, bị “chết tai nạn” trong chuyến bay công tác sang Lào.

Lê Duẩn âm mưu sát hại Hồ Chí Minh

Năm 1967. Khi cần phải có mặt Hồ Chí Minh làm bù nhìn để chủ trì Hội nghị Trung ương 14, và ký tên vào Nghị Quyết của Hội nghị, Lê Duẩn cho máy bay sang Bắc Kinh để rước ông Hồ về Hà Nội. Thời gian được tính toán là máy bay sẽ về Hà Nội vào ban đêm. Khi máy bay về đến Việt Nam, thì sân bay Nội Bài khi đó là sân bay quân sự, nên máy bay phải đáp xuống sân bay Gia Lâm vào đêm 23/12/1967. Phi công tên Thắng đối chiếu với những vị trí quen thuộc, như tháp điều khiển không lưu, thì thấy hai hàng đèn xác định đường băng đã lệch đi 15 độ. Không thể đáp xuống được, vì chắc chắn máy bay sẽ trượt ra ngoài đường băng, đâm thẳng đến Phố Nổi, gây tai nạn chết người. Phi công liên lạc vô tuyến với tháp điều khiển không lưu, thì không được trả lời, vì hệ thống vô tuyến bị cắt. Phi công Thắng trình bày vụ việc với ông Vũ Kỳ, thư ký của ông Hồ, xin được đáp xuống theo trí nhớ. Được ông Hồ chấp thuận, đáp theo trí nhớ được an toàn. Số mạng của ông Hồ chưa bị Ngọc Hoàng giũ sổ. Có lẽ ông Hồ nhận ra Lê Duẩn âm mưu hạ sát ông. Nếu còn quyền hành trong tay, thì ra lịnh điều tra vụ việc. Thế nhưng không. Im lặng trong tủi nhục.

Ra đón ông Hồ thì chỉ có hai tên họ Lê, và sau đó có Phạm Văn Đồng.

Hồ Chí Minh giết Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

Nguyễn Chí Thanh Đại tướng lội ruộng băng đồng - Đời sống - Việt Giải Trí

                     Nguyễn Chí Thanh.

Nguyễn Chí Thanh (1914-1967) Ủy viên Bộ Chính Trị, Chính ủy “Quân Giải Phóng Miền Nam” từ miền Nam về Hà Nội dự Hội nghị Trung ương 14. Người vợ của Nguyễn Chí Thanh tên Cúc thuật lại: “Chiều hôm đó anh Thanh vào ăn bữa tối với Bác Hồ. Mọi việc đều chuẩn bị sẵn sàng để sáng hôm sau anh về Nam thực hiện Nghị Quyết 14. Đến nửa đêm, anh Thanh choàng tỉnh dậy và nói: ‘Anh thấy trong người khó chịu lắm. Có cảm giác như nước chảy ào ào trong người’. Và ói ra máu. Bà Cúc kêu xe cứu cấp đưa Nguyễn Chí Thanh vào bịnh viện. Bà không được cho phép theo xe vào bịnh viện. Sau đó bác sĩ cho biết ông Thanh chết vì bịnh tim. Bà Cúc rất ngạc nhiên, vì chồng bà rất khỏe mạnh, không có triệu chứng nào về bịnh tim cả.

Những điều bất thường. Chiều hôm đó, khu vực Lý Nam Đế mất điện. Một khu vực đầu não của Hà Nội mà mất điện là một điều khó hiểu. Khó hiểu hơn nữa là bà Cúc không cho theo xe đưa chồng vào bịnh viện.

Hồ Chí Minh bị Lê Đức Thọ khống chế

Trong “Hồi Ký Viết cho Mẹ và Quốc Hội”, ông Nguyễn Văn Trấn, một đảng viên cao cấp gốc miền Nam, thuật lại việc Lê Đức Thọ khống chế Hồ Chí Minh trong hội nghị Trung Ương 14. Nguyễn Văn Trấn kể lại lời của Bùi Công Trừng nói với ông.

“Với cái giọng ‘mẹ đời’ Bùi Công Trừng nói với tôi: ‘Cái thằng Lê Đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi lại lại trong phòng, như thể đội truởng một tổ pháo, đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị. Thằng Thọ đến Nguyễn Khánh Toàn, Hà Huy Giáp, thằng Huy… nói nói cái gì đó… Bọn họ nghiêm sắc mặt, gật đầu, và sau đó phát biểu theo ý kiến của hai tên họ Lê. Mày coi, có tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta, bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá, quay vô đưa tay xin nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc-Hà: ‘Bác hãy để cho anh em người ta nói đã nào’. Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn”. (Hết trích)

Cuối cùng, Nghị quyết ra quyết định cuộc “tổng công kích-tổng khởi nghĩa” Mậu Thân 1968 ở 44 tỉnh, thành miền Nam Việt Nam.

Kết luận

Người làm chính trị lúc nào cũng muốn nắm lấy quyền lực. Ở các nước dân chủ, quyền lực được người dân trao cho, qua những cuộc bầu cử, có thời hạn, từng nhiệm kỳ. Trái lại, ở một số nước, những kẻ ma giáo, bất lương lập bè đảng, cướp lấy chính quyền rồi củng cố quyền lực bằng chế độ độc tài. Độc tài sinh ra mọi tội ác, như tham nhũng, tranh giành quyền lực bằng những thủ đoạn nham hiểm, tàn bạo.

Chế độ Cộng Sản Việt Nam là một bằng chứng cụ thể trong lịch sử Việt Nam.

– Trúc Giang MN

(Minnesota, 9/2/2022)


Nguồn : https://vietbao.com/p302901a311198/nhung-cuoc-thanh-trung-dam-mau-trong-cac-dang-cong-san