Saturday, January 20, 2024

CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ TRẬN HOÀNG SA

         Sau đây là lời kể của Thiếu Tá Phạm Văn Hồng (Sĩ Quan Lãnh Thổ Phòng 3 thuộc Quân Đoàn I) câu chuyện của 45 năm trước về trận Hoàng Sa với nhiều tình tiết khá đặc biệt mà ông chưa hề phổ biến trên báo chí lâu nay.

          Nhận lệnh ra Hoàng Sa với nhiệm vụ thiết lập phi trường
         Buổi sáng 15-1-1974 tôi nhận lệnh thượng cấp ra đảo Hoàng Sa để thiết lập một phi trường quân sự, lúc đó tôi là Sĩ Quan Lãnh Thổ Phòng 3 thuộc Quân Đoàn I nên việc thượng cấp giao cho là hợp lý. Chiều hôm đó, thay vì di chuyển bằng xe quân sự, thì nhân viên Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng là ông Kosh lại lấy chiếc Falcon chở tôi cùng đi với ông qua bên Tiên Sa.
          Đến nơi vào khoảng 5, 6 giờ chiều, trời đã gần tối, chúng tôi lên chiếc HQ16 do Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự là Hạm Trưởng; HQ16 đưa chúng tôi ra tới đảo Hoàng Sa vào khoảng 9 giờ sáng hôm sau. Trời hừng sáng, tôi thức dậy và nhìn ra khơi, xa xa có mấy chiếc tàu nhỏ đang di chuyển, dần dần những chiếc tàu đó nhắm hướng HQ16 chạy tới, nó cứ chờn vờn trước mũi tàu mình và nói theo ngôn ngữ lúc bấy giờ gọi là “kỳ đà cản mũi”.
         Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự lấy làm lạ và nói với tôi: “Hình như nó muốn khiêu khích mình”. Nó giả dạng tàu đánh cá, cho một vài tên mặc quần đùi, ở trần ra ngồi bên mạn thuyền thả câu, câu cá. Chúng tôi mặc kệ nó và ở đó vài tiếng sau thì đổ bộ lên bờ.
         Ngoài tôi làm toán trưởng, còn có một Trung Úy Liên Đoàn 8 Công Binh Kiến Tạo, một Trung Úy Liên Đoàn 10 Công Binh Chiến Đấu, hai Hạ Sĩ Quan đi theo hai Trung Úy và ông Kosh, như vậy toán chúng tôi có tất cả 6 người đặt chân xuống đảo.
         Hai Trung Ùy lo đi thám sát địa hình, đo đạc để có dữ kiện thiết lập phi trường. Ở trên đảo có sẵn một toán Khí Tượng nên cần biết gì về thời tiết, Nhóm Khí Tượng sẵn sàng cung cấp đầy đủ. Ngoài Nhóm Khí Tượng còn có một đơn vị Địa Phương Quân trú đóng.
Biển Đông dậy sóng.
           Sáng ngày 18-4-1974 từ trên đảo nhìn ra biển thấy tình hình khác hẳn mấy ngày trước. Tàu của Trung Cộng nhỏ nhưng khá nhiều, còn bên Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thấy có bốn chiếc HQ16, HQ4, HQ10 và HQ5. Hai chiếc HQ5 và HQ16 là Tuần Dương Hạm; chiếc HQ4 là Khu Trục Hạm . HQ4 nhỏ hơn nhưng hỏa lực mạnh hơn. Còn HQ10 là Hộ Tống Hạm.
          Chiều ngày 18 tôi nhận được lệnh của Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự nói sẽ cho dzu dzu (một loại xuồng cao su) đến đón chúng tôi lên HQ5. HQ5 bây giờ được gọi là Soái Hạm (tàu chỉ huy) vì có Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc đang ở trên đó để tổng chỉ huy. Tôi lên HQ5 và chờ đến khoảng 10 giờ thì loa phóng thanh nói: “Mời Thiếu Tá Phạm Văn Hồng lên đài chỉ huy để gặp Hải đội trưởng”.
          Tôi lên phòng chỉ huy, Đại Tá Hà Văn Ngạc vỗ vai tôi và nói: “Toa à, cái thằng Kosh này là bạn moa, nó nhát gan, nó sợ và muốn lên đảo, nó bảo ở trên tàu nguy hiểm quá, vậy toa đi với nó lên đảo trở lại”. Rồi ông ra lệnh lấy dzu dzu đưa chúng tôi vào đảo. Cặp vào đảo thì đã khuya, anh em Địa Phương Quân họ cũng đã ngủ hết .
          Suốt một đêm vật vã với sóng gió, tôi cũng mệt nhoài nên sáng hôm sau khi nghe có tiếng heo kêu tôi mới thức dậy thì trời đã sáng rõ. Sở dĩ có tiếng heo kêu là vì mấy anh em Địa Phương Quân khi nhận lệnh ra giữ đảo, biết nhiệm kỳ của mình sẽ ăn Tết trên đảo nên họ mang một con heo ra nuôi để Tết mổ thịt.
          Khi vừa rửa mặt xong thì nghe mấy anh em Điạ Phương Quân nhao nhao nói: “Có lẽ không xong rồi Thiếu Tá ơi!” Và tôi bắt đầu nghe tiếng súng nổ; lúc đó vào khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 19-1-1974. Tôi leo lên sân thượng của Đài Khí Tượng nhìn ra biển thấy hai chiếc tàu Trung Cộng chưa chìm nhưng đang trong tư thế sắp chìm và tôi nghĩ chắc chắn sẽ chìm, còn bên phía Hải Quân mình tôi thấy các lằn đạn của tàu Hải Quân Trung Cộng cũng đang ghim vào chiến hạm của mình. Hai bên đang thi nhau nã đạn. Tiếng súng lớn, súng nhỏ thi nhau nổ dòn dã.
           Tôi xuống phòng truyền tin, ở đây chỉ có mỗi chiếc máy C.25 để anh em liên lạc với tàu khi lên xuống thôi. Tôi nghe âm thoại viên của Hải Quân nói: “Thiếu Tá Hồng, tôi đã mất liên lạc, nhờ Thiếu Tá gọi ngay về Đà Nẵng giúp, nói là tàu tôi đã bị nghiêng 30 độ, mắt thần chúng tôi đã bị hư”.
           Đó là tất cả những gì tôi nghe được qua máy truyền tin C.25. Tôi nhờ bên Đài Khí Tượng cho sử dụng máy Motorola, anh em bên Khí Tượng cho biết, họ chỉ lên máy mỗi đầu giờ, bây giờ đang là giữa giờ, lên máy không có tín hiệu nhận.
           Nhưng anh em bên Đài Khi Tượng vẫn mở máy. May quá, có Phú Quốc lên máy. Tôi nhờ Phú Quốc gọi về Sài Gòn, yêu cầu Sài Gòn gọi ra Đà Nẵng nói Đà Nẵng “lên máy”. Nói thì nghe ngắn gọn như vậy nhưng lúc đó mất rất nhiều thời gian, không như bây giờ có cell phone, liên lạc với nửa vòng trái đất cũng chỉ trong tíc tắc!
           Khi tôi liên lạc được với Đà Nẵng, tôi yêu cầu Đà Nẵng gọi “Uy Dũng” là tên Tổng Đài Quân Đoàn I của chúng tôi, tôi cho số máy của Trung Tâm Hành Quân và số máy của Quân Đoàn I, yêu cầu liên lạc ngay với tôi qua tổng đài của Ban Khí Tượng ngoài đảo Hoàng Sa. Lúc đó tiếng súng giữa các chiến hạm của ta và của Trung Cộng đã tạm lắng dịu nhưng súng bắt đầu nổ trên đảo.
          Tôi lên Đài Khí Tượng quan sát thì thấy các chiến hạm của ta ở vòng ngoài, còn tàu Trung Cộng thì lại ở vòng trong, có nghĩa là chúng tôi đã bị tàu Trung Cộng bao vây. Những chiếc tàu của Trung Cộng theo anh em Hải Quân ta cho biết là những chiếc Kronstad, tất cả đều quay mũi tàu của họ vào đảo, còn các chiến hạm của ta thì quay mũi ra phía ngoài biển. Các chiếc Kronstad tiến sát vào bờ và đổ quân, chúng dàn hàng ngang tiến lên đảo.
         Lúc này trên đảo bên ta chỉ có một Trung Đội Địa Phương Quân hơn 20 quân nhân, bốn năm anh em chuyên viên Khí Tượng và thêm toán chúng tôi 6 người nữa mà phải đương đầu với khoảng một tiểu đoàn Trung Cộng.
         Cũng cần biết thêm là theo anh em đi thám sát đo đạc để lập phi trường có cho biết, chu vi đảo chỉ chừng 1 cây số 6. Nếu thiết lập phi trường thì chỉ có thể làm phi đạo dài 500 thước, ngang 300 thước mà thôi, và phi đạo như thế chỉ sử dụng cho các loại phi cơ 123 Caribou chứ loại C.130 không thể hạ cánh được.
          Cho nên với chu vi gần 2 cây số mà chỉ có khoảng 20 người, làm sao kiểm soát hết được, trong khi đó sở trường của Trung Cộng luôn luôn là “lấy thịt đè người”. Với quân số ít oi và vũ khí cũng không có gì mạnh mẽ lắm, mỗi người chỉ có vài gắp đạn nên bắn mấy lần là hết đạn. Tuy nhiên anh em vẫn chiến đấu với biển người Trung Cộng.(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
 Mưu mô quỷ quyệt của bọn Trung Cộng
           Để nắm vững tình hình trên đảo về quân số cũng như cách bố phòng của ta, vào khoảng đầu tháng 10 năm 1973, thời điểm tháng 10 thường hay có mưa bão xảy ra ở vùng biển Đà Nẵng, nên bọn Trung Cộng cho một chiếc tàu giả dạng tàu đánh cá vào đảo xin tránh bão.
           Việt Nam Cộng Hòa mình vốn có tính nhân đạo và thật thà, thấy họ xin núp bão thì đồng ý ngay, lại còn tiếp tế cho họ nước uống nữa, chúng làm bộ thân thiện với ta, tặng cho anh em quân nhân những bộ bài có hình khỏa thân, và rủ lính của ta chơi trò “trốn tìm”, mục đích là dò xem mình có hầm hố gì không.
          Nhưng các anh em Điạ Phương Quân của ta đâu có ngờ, đó là mưu mô “thám sát” của lính Tàu. Vì thế khi chúng tấn công lên đảo, chúng đã nắm rõ quân số của ta có bao nhiêu người, vũ khí ra sao, có hầm hố chiến đấu hay không, còn ta, ta không biết gì về địch. Lực lượng hai bên quá chênh lệch như thế nên chúng ta bị thất bại là lẽ đương nhiên.
(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Tin vào lời hứa, tìm cách ẩn trốn và bị bắt
           Khi tôi liên lạc bằng máy Motorola của Đài Khí Tượng trên đảo về Đà Nẵng, tôi được bên Hải Quân cho biết, Thiếu Tá Hồng cứ yên trí, sẽ có máy bay ra yểm trợ. Vì tin lời hứa đó, tôi nghĩ trong lòng rằng không bao giờ tôi đầu hàng, giả sử nếu cùng lắm bên Không Quân ta phải thả bom trên đầu, tôi cũng chịu vì đó là chuyện bình thường của quân đội.
          Vì tôi và anh em trên đảo sẽ được cứu nên tôi tìm cách ẩn trốn vào một bụi cây rậm rạp trên đảo, do đó khi chúng đã bắt hết các anh em, chúng kiểm soát danh sách và biết rằng còn thiếu một viên Thiếu Tá là tôi, cả một tiểu đoàn lính Trung Cộng dàn hàng ngang lùng sục làm sao mà tôi thoát được, và tôi bị chúng bắt sống lúc xế trưa.
Cuộc đời tù binh
          Sau khi Trung Cộng bắt được tôi, chúng không đánh đập nhưng có dọa nạt và áp đảo tinh thần. Khoảng 2, 3 giờ chiều chúng cho chúng tôi ăn cơm, ăn với thịt heo của anh em Địa Phương Quân nuôi, như tôi đã trình bày ở phần trước, nói là thịt heo nhưng thật sự chỉ có mỡ thôi, còn nạc bọn lính Trung Cộng ăn hết rồi. Ăn xong nó nhốt chúng tôi trong căn nhà có lẽ trước đây dùng chứa phân chim hay làm cái gì đó tôi không biết rõ.
          Đến khuya, chúng nó bắt tất cả anh em ra xếp một hàng dọc ngoài sân. Tôi nghĩ trong đầu chắc chúng đem đi xử bắn chúng tôi. Một vài anh em trong bọn tôi có vẻ lo lắng, thấy thế tôi mới trấn an: “Các anh cứ bình tĩnh, dù chúng ta có chết cũng chết cho Tổ Quốc, đừng sợ, cứ bình tĩnh và giữ vững khí phách của một Người Lính VNCH”. Nhưng cuối cùng chúng không bắn ai hết!(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Di chuyển qua Trung Quốc
             Gần rạng sáng chúng cho chúng tôi lên tàu, tôi nghe ngoài biển có nhiều tiếng lào xào, nhìn ra thì thấy nhiều chiếc dzu dzu đang chèo vô bờ. Nó chuyển chúng tôi cứ 4, 5 người xuống một xuồng cao su (dzu dzu) và đưa ra tàu Kronstad. Nhóm sĩ quan nó đưa riêng lên một tàu, mấy chục anh em Hạ sĩ quan, binh sĩ lên các tàu khác và tàu bắt đầu di chuyển.
           Khoảng trưa hôm sau, tức là trưa 20-1-1974, chúng tôi tới đảo Hải Nam. Nó cho tôi lên bờ trước, sau đó mới đưa các anh em còn lại lên, rồi nó đưa đám sĩ quan vào phòng ăn riêng gồm tôi và 1 Trung Úy Hải Quân, 1 Sĩ Quan Địa Phương Quân, 2 Sĩ Quan Công Binh và anh Kosh, cả thảy là 6 người.
            Sau khi ăn cơm xong, chúng đưa chúng tôi ra phi trường để bay về Quảng Châu. Khi lên máy bay chúng đưa tên Kosh lên ngồi trên cabin, còn anh em chúng tôi ngồi ở khoang dưới. Đến Quảng Châu trời đã tối. Riêng nhóm Hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên Đài Khí Tượng chúng nhập chung thành một toán cho xuống tàu lớn chở về sông Châu Giang cũng thuộc thành phố Quảng Châu.
            Hôm sau tất cả đám tù binh gồm 49 người, tính luôn cả anh Kosh người Mỹ; trong đó có 23 chiến sĩ Địa Phương Quân, 6 người toán chúng tôi, 5 nhân viên Khí tượng và 14 quân nhân Hải Quân, có thêm một sĩ quan nữa là HQ Trung Úy Nguyễn Văn Dũng.
            Tôi bị gọi lên lấy khẩu cung nhiều lần, chúng cố tình khai thác tôi về tổ chức quân đội VNCH, nhưng tôi viện lý do “bí mật quân sự”, phòng nào biết phòng đó, tôi chỉ nói một cách tổng quát và cứ lập đi lập lại rằng, bên quân đội chúng tôi bảo mật rất kỹ, tôi chỉ biết danh số có những phòng gì, còn mỗi phòng có những ai, làm việc gì, điều đó tôi không biết. Tôi thấy nó chú tâm vào anh Hải Quân Trung Úy nhiều hơn tôi, có lẽ muốn điều tra, khai thác kỹ về Hải Quân của ta để dự phòng những trận hải chiến sau này có thể xảy ra.
           Sau khi bị giam một tuần lễ, chúng lựa ra mỗi toán một người để thả. Người đầu tiên là anh Kosh, chúng cho biết anh này bị một bệnh mà họ gọi nguyên văn là “mãn tính kinh niên” nên cho về sớm, bên Khí Tượng thả một người, bên Địa Phương Quân thả một người, bên Hải Quân thả một anh bị thương nhẹ.(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Vai trò của ông Kosh trong âm mưu của Mỹ.
            Lần xuống đảo trước, tôi và anh Kosh này ngồi bên nhau, anh ta kể, anh là Trung Úy Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh, anh làm cho Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ. Lần này anh đi với tôi trong vai trò giám định để xem thực hiện phi trường tốn phí ra sao và đề nghị Tòa Tổng Sự chi trả.
           Trên nguyên tắc thì như vậy, nhưng thực tế đây chỉ là phi trường ảo mà thôi, không có thật, anh ta đi với chúng tôi trong một sứ mạng đặc biệt đã được Hoa Kỳ và Trung Cộng bí mật dàn dựng từ trước. Sứ mạng đó là dùng chúng tôi làm con cờ thí, làm vật tế thần cho Trung Cộng có cớ xâm lăng Hoàng Sa. Đây là điều bí mật từ trước tới nay chưa có báo chí nào loan tải. Chúng ta hãy xem thái độ và cách hành xử của anh Kosh này cũng như sự đối xử của nhà cầm quyền Trung Cộng thì sẽ rõ.
           Trên giấy tờ, anh này đi công tác với chúng tôi chỉ có vài ngày, nhưng khi anh mở cái sắc của anh ra, trong đó có đến hai cây thuốc lá. Nếu tính thời gian công tác, anh hút nhiều lắm cũng chỉ 5, 6 gói thuốc, vậy anh mang tới 20 gói thuốc để làm gì? Ngoài thuốc lá, trong sắc tay của anh có đầy đủ dụng cụ mưu sinh thoát hiểm như lưỡi câu, thuốc chống cá mập.
           Sau khi bị bắt, trong buổi chiều ngồi cạnh tôi trên đảo, anh mở một hộp cá ra ăn, anh mời tôi một lát cá. Tôi để ý thấy hộp cá nhỏ và mỏng hơn hộp cá mòi Sumaco của Marốc, anh đưa cho tôi một lát mỏng như miếng khô mực đã bị ép rất sát, anh nói với tôi: “Anh ăn đi, no đấy!” Tôi nghĩ anh chàng này đùa dai, miếng cá mỏng dính và nhỏ xíu thế này làm sao no.
          Vậy mà khi ăn xong, tuy không no thiệt nhưng mà ngang dạ liền. Tiếp theo là sự kiện anh đang ở trên HQ16 lại đòi lên bờ và bảo ở dưới tàu nguy hiểm quá, mà lúc đó trận hải chiến chưa xảy ra. Phải chăng anh đã biết trước sẽ có hải chiến và ở trên tàu khi đánh nhau thì nguy hiểm thật, nên lên đảo để quân Trung Cộng làm bộ bắt cho chắc ăn hơn, và chúng ta thấy, người đầu tiên Trung Cộng thả là anh chàng Kosh này.
           Nói đến đây, tôi cũng xin mở dấu ngoặc là bây giờ biết anh chàng này đóng vai trò gì trong kế hoạch của Mỹ, nhưng tôi cũng phải cám ơn anh ta, nếu anh không đòi xuống đảo, thì tôi ở trên chiến hạm HQ16 cũng không còn sống trên cõi đời để thuật lại chuyện bí mật này, vì khi ở trên tàu, tôi cứ thích đứng ở trên cái pháo tháp, mà khi hải chiến xảy ra, pháo tháp của HQ16 đã bị trúng đạn Trung Cộng.(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Sự đổi chác giữa Mỹ và Trung Cộng
            Khoảng 10 giờ sáng, sau khi chúng tôi bị đưa vào trại giam có tên là “Trại Thu Dung Tù Binh” thuộc Huyện Hoàng Hóa, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông thì có một toán cán bộ Trung Cộng đến.
           Đám này nói tiếng Việt rất rành và hầu hết đều nói giọng Bắc, dấu hỏi, dấu ngã phân minh, chính xác. Một tên trưởng toán nói với chúng tôi: “Hiện bây giờ, tiến sĩ Kissinger của Mỹ đang ngồi ở Bắc Kinh, chiều hôm nay mọi người sẽ biết tin này, chúng tôi sẽ mang đến đây một chiếc radio mở cho các anh nghe”.
          Buổi chiều họ mang radio đến và mở cho chúng tôi nghe, đồng thời mở luôn cả đài phát thanh Úc Đại Lợi cho nghe luôn. Trong bản tin của đài phát thanh Trung Cộng có loan thế này: “Trong cuộc chiến đấu, chí nguyện quân Trung Quốc đã bắt được một đám tù binh Miền Nam Việt Nam, trong đó có tên Thiếu Tá Phạm Văn Hồng”.
          Hồi đó, nếu ai có theo dõi tin tức trên các đài phát thanh cũng đã nghe thấy như vậy. Điều đó cho thấy rõ ràng đã có âm mưu dàn xếp giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Mỹ muốn dùng Hoàng Sa của VNCH làm món quà để bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng. Muốn trao Hoàng Sa cho Trung Cộng, chính quyền Hoa Kỳ thời bấy giờ phải tạo ra một cuộc chiến, để Trung Cộng có cớ xâm chiếm Hoàng Sa, và VNCH chúng ta tuy mắc bẫy, nhưng chúng ta đã cho Hoa Kỳ, Trung Cộng và cả thế giới thấy tinh thần yêu nước của chúng ta như thế nào.
          Hải Quân VNCH chúng ta dám hiên ngang đương đầu chống lại bọn Hải Quân xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp bội. Chúng ta đã anh dũng và hy sinh nhiều sĩ quan, binh sĩ Hải Quân cũng như thiệt hại một số chiến hạm, nhưng chúng ta cũng đã đánh chìm một số tàu Trung Cộng tương đương và chắc chắn nhiều tên gọi là chí nguyện quân của chúng đã bị tử thương.(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Thêm bằng chứng về âm mưu giữa Mỹ và Trung Cộng trao đổi Hoàng Sa
           Trước khi kể cho anh nghe chuyện trao trả tù binh, tôi cần nói thêm chuyện này: Sau khi về đến Việt Nam, tôi gặp Trung Tá Lâm (Khóa 10 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt), Trung Tá Lâm kể chuyện với tôi:
– Không Quân của mình đã chuẩn bị sẵn sàng từ phi trường Biên Hòa bay ra Đà Nẵng, rồi từ Đà Nẵng bay ra Hoàng Sa oanh kích, và các phi công cũng chấp nhận sẽ chơi theo kiểu Nhật, khi phi cơ bay ra Hoàng Sa thì đủ nhiên liệu nhưng lúc về thì không; do đó, các anh phi công sẽ bỏ phi cơ và nhảy dù xuống biển, tàu của Hải Quân ta ứng trực sẵn sàng để tiếp cứu. Mọi việc đã chuẩn bị đâu vào đấy, nhưng phút chót lệnh này bị hủy bỏ!
           Thêm nữa, có Đại Tá Lê Khắc Lý, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Tiền Phương Quân Đoàn I, Trung Tướng Lâm Quang Thi là Tư Lệnh Tiền Phương, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng là Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng; các vị này gọi tôi ra thuyết trình hai lần, buổi sáng cho các cơ quan hành chánh Thừa Thiên – Huế, buổi chiều cho các quân nhân đồn trú nghe về trân chiến Hoàng Sa tại Phú Văn Lâu.
           Sau buổi thuyết trình, Đại Tá Lê Khắc Lý vỗ vai tôi và nói: “Toa à, cố vấn mới nói chuyện với moa, moa bảo nó: ‘Tôi không hiểu tại sao Trung Cộng nó lại đánh chiếm Hoàng Sa?’ Cố vấn Mỹ đã ‘hố’ khi trả lời tôi: ‘Trung Cộng lấy Hoàng Sa, anh ngạc nhiên lắm à?’, moa mới nói trớ đi: ‘Không, ý tôi nói là tại sao nó lại chiếm vào lúc này?’” Rồi Đại Tá Lý nói tiếp: “Toa thấy không, tụi nó có kế hoạch cả rồi, nó đã sắp xếp hết rồi!”
            Thời đó, Ngoại Trưởng Henry Kissinger chuyên môn đi đêm, và Tổng Thống Mỹ Richard Nixon muốn bắt tay với Trung Cộng thì phải có một cái gì đó trao đổi. Tôi nghĩ món quà chính người Mỹ muốn tặng Trung Cộng là Hoàng Sa của ta, bởi Trung Cộng muốn làm chủ Biển Đông mà Mỹ giao Hoàng Sa cho Trung Cộng, họ đâu có mất gì, chỉ tội nghiệp cho đất nước Việt Nam chúng ta là thân phận một nước nhược tiểu!(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Cách đối xử của Trung Cộng với tù binh
            Phải công bằng mà nói, viết lịch sử thì phải viết trung thực, không nên viết theo kiểu tuyên truyền, cho nên tôi nói rất thật là bọn Trung Cộng hơn hẳn bọn cộng phỉ bắc việt trong cung cách đối xử với tù binh. Họ cho chúng tôi ăn uống theo quy chế tù binh chiến tranh đã được quốc tế qui định, như tôi mang cấp bậc Thiếu Tá thì để tôi ở một phòng riêng, bốn Trung Úy thì cứ hai ông một phòng, như vậy chúng tôi có ba phòng ở liền nhau, còn ông Kosh người Mỹ một phòng riêng. Mỗi ngày họ đem đồ ăn lên tận phòng cho chúng tôi, còn anh em Hạ Sĩ Quan và binh sĩ thì ăn ở nhà ăn tập thể của quân đội Trung Cộng.
            Sau thời gian 2, 3 tuần phải học tập mỗi ngày vào buổi tối để nghe cán bộ Trung Cộng tuyên truyền thế này thế nọ. Tuần lễ thứ tư họ dẫn chúng tôi đi thăm vài nơi (mấy anh chàng Trung Cộng nói tiếng Bắc, bảo là dẫn chúng tôi đi tham quan).
           Đầu tiên thăm một bệnh viện rồi thăm mấy hợp tác xã. Tôi để ý, hầu như tất cả các nơi gọi là Trụ Sở Hợp Tác Xã đều là những ngôi chùa xưa kia, bởi vì kiểu dáng là chùa, chữ đắp trên tường tuy bị đục bỏ hết nhưng vẫn còn dấu tích rõ ràng, điều đó cho thấy tín ngưỡng đã bị đè bẹp tại nước cộng sản đông dân nhất thế giới này!
          Sau khi thăm các hợp tác xã, họ dẫn đi thăm nhà máy cơ khí. Tại đây họ giới thiệu là nơi đúc các khẩu thượng liên và súng AK, sau đó lại dẫn đi xem nhà máy làm xe đạp, gọi là xe đạp Hồng Kỳ thì phải, rồi thăm một vài cư xá của công nhân. Tôi có hỏi một công nhân, lương hàng tháng được bao nhiêu, thì người công nhân nói được trên 100 Nhân Dân Tệ, trong lúc đó chiếc xe đạp Hồng Kỳ trị giá 130 Nhân dân tệ, cho ta thấy mức sống của một công nhân trong chế độ cộng sản Trung Quốc như thế nào.(Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)
Trao trả tù binh
           Tôi còn nhớ hôm đó là thứ Bảy, có lẽ ngày 16, 17 tháng 2 năm 1974, sau khi cho chúng tôi ăn uống xong, họ tập trung lại và tuyên bố sẽ trả chúng tôi về Việt Nam. Họ phát cho mỗi người một bộ quần áo màu xanh và cái mũ mà anh em chúng tôi gọi đùa là cái bánh tiêu. Một tên cán bộ hỏi tôi muốn về miền nào, Bắc hay Nam Việt Nam. Tôi trả lời: “Chúng tôi là người Việt Nam, Bắc hay Nam đều là Tổ Quốc tôi, nhưng hiện tại hai miền có hai thể chế khác nhau, tôi không chấp nhận chế độ của miền Bắc, tôi yêu cầu trả chúng tôi về miền Nam ”.
            Họ đưa chúng tôi từ huyện Hoàng Hóa về thành phố Quảng Châu, đường dài hơn 40 cây số, rồi lại từ Quảng Châu đưa ra Tô Giới tức là Thẩm Quyến để trao trả chúng tôi tại Hồng Kông.
           Ngay khi chúng tôi bước qua lằn ranh từ Thẩm Quyến sang Hồng Kông, người đầu tiên chúng tôi gặp là ông Tổng Lãnh Sự VNCH tại Hồng Kông. Ông niềm nở đón tiếp chúng tôi và cho người mang đến cho tất cả anh em chúng tôi mỗi người một bộ quần áo dân sự mới toanh. Khi lên xe buýt ra phi trường Khải Đức, chúng tôi vứt bỏ lại trên xe bộ quần áo xanh do bọn Trung Cộng cấp phát và thay đồ dân sự.
           Ra đến phi trường, chúng tôi hết sức xúc động thấy Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư Lệnh Phó Hải Quân và một sĩ quan cao cấp bên Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (tôi không nhớ tên) đến đón. Vị này mang cho chúng tôi quân phục đầy đủ, ai binh chủng gì thì mặc quân phục binh chủng đó, ông còn mang cho tôi cặp lon Thiếu Tá nữa. Chúng tôi lại thay đồ dân sự và mặc quân phục về nước. Chính Phủ VNCH thuê nguyên một chuyến Boeing 727 của Hàng Không Việt Nam qua Hồng Kông đón chúng tôi trở về sau một tháng bị bọn Trung Cộng bắt làm tù binh.
          Về đến phi trường Tân Sơn Nhứt, ngoài thân nhân, chúng tôi còn được đại diện các cơ quan Chính Phủ và Quân Đội đón tiếp, choàng vòng hoa và đưa về trại an dưỡng Lê Văn Duyệt để nghỉ ngơi. Câu chuyện bí ẩn trận Hoàng Sa và cuộc đời tù binh của tôi kết thúc.
 Viễn Đông: Sau khi miền Nam rơi vào tay việt cộng, lúc đó Thiếu Tá đang ở đâu?
              Th/t. Phạm Văn Hồng: Tôi phục vụ tại Đà Nẵng, và Đà Nẵng bị bỏ ngỏ ngày 29-3-1975, ngày 5-4-1975, tôi bị bọn việt cộng bắt được và đưa vào trại tù.
Viễn Đông: Thiếu Tá bị giam giữ đến ngày nào thì được thả về?
           Th/t. Phạm Văn Hồng: Bọn việt cộng thả tôi vào tháng 2 năm 1982.
Viễn Đông: Trong thời gian bị tù, cán bộ Việt Cộng có tra vấn gì về vụ Hoàng Sa cũng như thời gian Thiếu Tá bị bắt làm tù binh ở Trung Cộng?
            Th/t. Phạm Văn Hồng: Không những bọn cán bộ mà ngay cả rất nhiều anh em cùng cảnh ngộ như tôi đều hỏi vụ này, đến nỗi tên tôi được anh em gọi là “Hồng Hoàng Sa”. Một hôm, trong buổi gọi là “tọa đàm” anh em có nêu vấn đề Hoàng Sa ra hỏi tên cán bộ cao cấp từ Trung Ương đến chủ tọa. Tên cán bộ này ấp úng và sau một phút suy nghĩ hắn nói bừa: “Chuyện Hoàng Sa, đảng và nhà nước ta đã có hướng giải quyết cụ thể và đã giải thích trên báo Quân Đội Nhân Dân số… ngày…” rồi y vội vàng chuyển qua đề tài khác ngay.
Viễn Đông: Khi được về với gia đình, Thiếu Tá làm gì, ở đâu cho đến khi sang định cư tại Hoa Kỳ?
            Th/t. Phạm Văn Hồng: Khi ra khỏi tù, tôi không về trình diện, tôi trốn lên Sài Gòn và tìm cách vượt biên. Tôi vượt biên tổng cộng 25 lần không thoát, ba lần bị bắt vào tù tiếp. Sau đó, tôi trốn sang Campuchia, ghi tên giả làm Việt Kiều yêu nước, mục đích để tránh theo dõi. Khi bọn bộ đội việt cộng rút về nước năm 1990, tôi xin được giấy chứng nhận là Việt Kiều yêu nước do tòa đại sứ việt cộng ở Campuchia cấp, thế là tôi về nước an toàn và cho tạm trú tại Sài Gòn. Tôi lén gửi hồ sơ sang Bangkok, Thái Lan.
            Đến khi có lệnh nộp hồ sơ đi Mỹ theo diện HO, tôi được xếp vào danh sách HO 39 nhưng khi họ đối chiếu với hồ sơ tôi nộp lén ở Bangkok, thấy khớp nhau nên họ đôn lên HO 29 và gia đình tôi qua Mỹ vào năm 1995.
Viễn Đông: Qua sự kiện Hoàng Sa, Thiếu Tá muốn nói thêm điều gì còn trăn trở chưa nói ra được?
            Th/t. Phạm Văn Hồng: Chuyện dĩ vãng đã đi vào lịch sử, nhiều người đã kể lại trận chiến Hoàng Sa với đầy đủ chi tiết, và chúng ta sẽ còn nghe nhiều lần khác nữa, vẫn không thừa, vì đó là những điều chúng ta cần nói để vinh danh các Chiến Sĩ Quân Lực VNCH, đặc biệt binh chủng Hải Quân, để các thế hệ con em chúng ta biết về cha ông của chúng đã không hổ thẹn với tiền nhân, với Quang Trung – Nguyễn Huệ…
          Tôi không thuộc binh chủng Địa Phương Quân nhưng có một điều tôi mong ước, đó là khi vinh danh các anh hùng gìn giữ bờ cõi Tổ Quốc, chúng ta đừng quên các chiến sĩ Địa Phương Quân cũng như các anh em chuyên viên Khí Tượng, họ đã đóng góp phần mình vào việc gìn giữ một phần hải đảo thiêng liêng của tổ quốc, họ đáng được Tổ Quốc Ghi Ơn bên cạnh tất cả các Chiến Sĩ Quân Lực VNCH đã Vị Quốc Vong Thân.
         (Sài Gòn trong tôi/ Posted by Phan Công Danh/ theo Viễn Đông)

Thursday, December 14, 2023

TUỐT GƯƠM RA ! AI ĐÁNH AI?!

 

Phan Nhật Nam

Tiểu đoàn 1 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Quảng Trị, 1969 (ảnh: UPI Color/Bettmann Archive via Getty Images)      

“Bác” sai từ Đại Hội Tours! (*)

(*) Thành Phố Tours,

Đại Hội thành lập Đảng Xã Hội/Cộng Sản Chi Bộ Pháp/

Đệ Tam Quốc Tế (25-30/12/1920)

Lời Người Viết:

Tuần lễ đầu Tháng Mười Một 2023, người viết đã đề cập về sách “Tuốt Kiếm Phương Xa”, do Phan Lê Dũng chuyển dịch từ Drawn Swords in a Distant Land của George J. Veith. Bài viết không có mục đích thông thường là nhận định, phê bình một cuốn sách, nhưng nhắm tìm hiểu thế nào là Người/Việc (ngoại giao-chính trị-xã hội) của, từ Quốc hội-chính phủ-chính giới Liên Bang Hoa Kỳ đối với chiến tranh Đông Dương/Việt Nam (1945-1954-1975).

Bài viết đã có kết luận tương tự như nhận định của Giáo sư Peter Zinoman (chuyên về sử học/Lịch sử Việt Nam) của Đại Học Berkeley (CA) cho thấy: Bi (thảm) kịch Việt Nam có một đầu mối: “Dĩ Mỹ Vi Trung/Tất cả do từ, của, với Mỹ là Trung Tâm”. Mà suy ra (cho cùng) cũng thấy/hiểu thêm về tình trạng toàn cầu hỗn loạn hiện nay – Cũng từ, tại, với Mỹ. Không (mấy) sai.

Bài viết sau đây (cũng) từ sách của George J. Veith/Bản dịch do Phan Lê Dũng nhằm tìm ra mối liên hệ hữu cơ (trực tiếp): Rút gươm ra để Ai Đánh Ai?      

Dẫn Nhập

Cần lặp lại: Tháng Mười Một 1963 đã xảy ra hai biến cố quan trọng. Trước tiên ở Sài Gòn,  nổ ra cuộc đảo chính quân sự trong Ngày 1 Tháng Mười Một, hậu quả là lần sát hại Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và người em, cố vấn Ngô Đình Nhu trong Ngày 2. Về phía Mỹ, vào Ngày 22 Tháng 11, Tổng thống Mỹ đời thứ 35, John F. Kennedy, bị bắn tử thương tại Dallas, Texas.

Có nhiều lý do, nguồn giải thích về vụ sát hại (60 năm trước) hai vị nguyên thủ của hai quốc gia, không thể kể ra (đủ) trong một bài viết. Người viết CHỈ có thể đúc kết lý do cốt lõi qua thực tế lịch sử được soi rạng từ 60 năm qua. Nguyên nhân ấy là:

Trong lần gặp Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield (Mùa Xuân 1963) với tư cách riêng, TT/ Kennedy ĐÃ nói rõ: “Tôi chỉ có thể rút ra khỏi Việt Nam trong năm 1965 – Sau khi tôi tái đắc cử (sau bầu cử tổng thống 1964)” (Seymour M. Hersh, The Dark Side of Camelot. Boston New York, Little Brown and Company. 1997. Page 430). Phần cuối trang 430, nói rõ thêm về TT/NĐDiệm: “Ngô Đình Diệm bị giết là vì ông ấy muốn thực hiện một điều gì (tương tự như cuộc rút quân dự trù 1965 của TT Kennedy) từ 1963 – Đưa quân Mỹ ra khỏi Việt Nam”.

Trên đây là luận chứng về phía Mỹ và VNCH, thế nhưng về phía đảng cộng sản tại Hà Nội với người cầm đầu có tính danh HCM thì như thế nào? HCM và Trung ương Đảng CSVN-Đệ Tam Quốc Tế CS đã có những dự kiến, mưu định, sách lược, kế hoạch lật đổ chế độ “không cộng sản” của Quốc gia Việt Nam (1948-1955); hai kỳ VNCH (1955-1975) ra làm sao? Bài viết trình bày tiếp cũng căn cứ trên nội dung của “Tuốt Kiếm Phương Xa”/Drawn Swords in a Distant Land.

Một

Sách Drawn Swords in a Distant Land có những nhận định (trung trực) trân trọng: “Miền Nam Việt Nam có riêng câu chuyện của họ nhưng lại bị bỏ qua. Đó là câu chuyện của “Những Ước Mơ”… Ước mơ tự do, ước mơ độc lập, và ước mơ ấm no cho toàn dân. Còn Cộng Sản thì chỉ có độc nhất một tham vọng, đó là giành lấy chiến thắng bằng mọi giá.” Lần đầu tiên, một người viết sử (thuộc thế hệ người Mỹ sinh trưởng, lớn lên sau chiến tranh Việt Nam (1945-1955-1975) khám phá ra “Sự Thật của Miền Nam”: “Sài Gòn đã (phải) thực hiện đồng thời hai mục tiêu: Chiến thắng cộng sản và Xây dựng dân chủ…

Sách “Tuốt Kiếm Phương Xa” cho thấy VNCH không hề là sản phẩm của Mỹ. Vào lúc tối hậu, MNVN không thể vừa xây dựng và chiến đấu! (Tuốt Kiếm Phương Xa, NXB Tiếng Quê Hương. US 2023, trang 22-23).

Trên đây là tóm lược (khá) khách quan và chính xác về phần của VNCH, nhưng về phần CS với/HCM thì thế nào? Sách Tuốt Kiếm Phương Xa có phân tích: “… Sau Đệ Nhất Thế Chiến (1914-1918), Hồ sang Pháp, Nga, Trung Hoa và nhiều quốc gia khác kêu gọi độc lập (cho An Nam – Pnn). Yêu cầu Pháp giúp xây dựng một nước cộng hòa thuộc địa, nhưng khi thấy họ (chế độ Thực Dân Pháp ở Đông Dương –Pnn) không giữ lời hứa cải cách, xây dựng một nước cộng hòa (?), ông bắt đầu tỉnh ngộ. Lời hứa giải phóng các nước thuộc địa thoát khỏi ách thực dân áp bức của Lenin đã thu hút ông và Hồ quay sang chủ nghĩa Mác-xít. Ông trở thành người cộng sản hăng say. (Tuốt Kiếm Phương Xa, trang 34/Drawn Swords in a Distant Land – Encounter Books, US. 2021, Page 10)

Sự thật có phải như nhận định trên hay không dù George J. Veith không thiếu lương tri, lương năng trung trực? Nguyên Ngọc là bút danh của Nguyễn Văn Báu, một cán bộ văn hóa cao cấp của chế độ cộng sản Hà Nội, sinh năm 1932 tại Quảng Nam. Ông gia nhập bộ đội Việt Minh từ 1950 hoạt động vùng Khu V cộng sản gồm các tỉnh Quảng Nam-Quảng Ngãi-Bình Định-Phú Yên, địa giới hành chánh của Quốc Gia Việt Nam (1948-1955) và VNCH (1955-1975).

Sau thời gian ở đơn vị tác chiến, ông chuyển sang làm phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân Liên Khu V (?) với bút danh Nguyên Ngọc. Sau Hiệp Định Genève (20/Tháng Bảy 1954), Nguyên Ngọc tập kết ra Bắc, viết cuốn Đất Nước Đứng Lên kể về cuộc chiến chống Pháp (1946-1954). Năm 1962, trở về Nam, Nguyên Ngọc hoạt động lại ở Khu V, và được bầu làm Chủ Tịch chi hội Văn Nghệ Giải Phóng Miền Trung Trung Bộ (?).

Sau 1975, Nguyên Ngọc được nhà nước Hà Nội cắt cử giữ những chức chưởng văn hóa-chính trị quan trọng như, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn Việt Nam, Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ. Trong thời kỳ gọi là “Đổi Mới” và phong trào “Cởi Trói Văn Nghệ” sau 1986, Nguyên Ngọc đã thực hiện những thay đổi quan trọng về nội dung, hình thức tờ báo ông phụ trách. Nhưng cuối cùng, ông phản tỉnh nhận ra – Đảng/Giới Cầm Quyền cộng sản là một lừa gạt. Năm 2011, Nguyên Ngọc rút tên khỏi danh sách đề cử Giải Thưởng HCM. Năm 2015, cùng với 19 nhà văn, nhà thơ tuyên bố từ bỏ Hội Nhà Văn Việt Nam. Năm 2018, Nhà Văn Nguyên Ngọc/Đảng viên văn hóa trung kiên Nguyễn Văn Báu tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam sau hơn 60 năm theo đảng (1950-2018).

Tại một thời điểm sau 2018, trong một buổi gặp thân hữu có tham dự của Nguyễn Thị Bình, cựu Phó Chủ tịch nước (1992-2002); cựu Bộ trưởng Ngoại giao (1969-1976); cựu Bộ trưởng Giáo dục (1976-1987). Trong một lúc bất ngờ, bà Bình hỏi: “Theo các anh, hãy nói thật, (chúng) ta sai từ bao giờ?” Nguyên Ngọc với “lương tâm/tri năng/bản lãnh” của một “nhà văn chiến sĩ cách mạng” nói lên lời tâm huyết “thành thật” cuối đời: “Chúng ta đã sai từ Đại Hội Tours (Đại Hội Đảng Xã Hội Pháp, Thành Phố Tours, 1920-Pnn). Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình không đồng ý, nhưng hôm sau bà tìm đến Nguyên Ngọc, ngỏ ý với vẻ buồn rầu (buồn rầu thiệt tình-Pnn): “Hôm qua, chị không ngủ, suy nghĩ suốt đêm, nay buộc phải thừa nhận đồng ý với em!”

Hai

Đối thoại giữa bà Nguyễn Thị Bình và Nguyên Ngọc như trên (tuy có thật) nhưng không đúng và không đủ vì những lẽ như sau:

1/Đại Hội Tours tức Đại Hội Thợ Thuyền Quốc Tế lần Thứ 18 (25-30 Tháng Mười Hai  1920) tại Thành Phố Tours, nước Pháp. Năm 1920, cả bà Bình (sinh năm 1927) và cán bộ Báu/Nguyên Ngọc (sinh năm 1932) đều chưa ra đời. Đảng cộng sản Đông Dương/CSVN cũng phải đến 3 Tháng Hai, 1930 mới được thành hình ở Trung Hoa. Thế nên khi nói “Ta/Chúng ta/Đảng CSVN sai từ Đại Hội Tour (1920) là cách nói lấy có, làm ra vẻ “thành thật/can đảm nhận lỗi” – Nhưng rõ ràng là đánh tráo mối tội có thật từ, của “một kẻ khác” mà bà Bình và Nguyên Ngọc không có can đảm/bản lĩnh để nói (trắng) ra!

2/Nói như #1 là “đánh tráo TỘI” cho một nhân sự khác: Đấy là người thanh niên tên Nguyễn Sinh Cung, quê Nghệ An (sinh 1890/1892? – theo những tài liệu chính thức, nhưng chưa chắc đúng-Pnn). Ngày 5 Tháng Sáu 1911, Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành lấy tên Văn Ba lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên tàu buôn Đô Đốc Latouche-Tréville. Sau hơn một tháng đi biển, tàu cập bến Marseille.

Tại Pháp, Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành viết thư gởi đến Tổng thống Pháp, xin được nhập học Trường Thuộc Địa (École Coloniale) với hoài bão sẽ “giúp ích cho nước Pháp”. Thư xin học bị từ chối, Nguyễn Tất Thành qua Mỹ, Anh làm việc lao động nặng để sinh sống, cuối năm 1917 trở lại Pháp. Tóm lại, quá trình từ 1911 đến 1917, cụ thể cho thấy, thanh niên Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành đã phải bận rộn về sinh kế như tất cả mọi người Việt trẻ tuổi, không nghề nghiệp, không học vấn ở hải ngoại. Thế thì “tội của Bác” sai như thế nào với Đại Hội Tours?”

3/Trong thời gian từ 1919 đến 1923, ở Paris, thanh niên Nguyễn Tất Thành gia nhập Nhóm “Những Người An Nam Yêu Nước/Groupe des Patriotes Annamites/The Group of Vietnamese Patriots. Lưu ý: Nhóm “gồm nhiều người/Des ParioteS/Vietnamese PatriotS” bao gồm những nhân sự có danh tính, học vị cao: Phó Bảng Phan Chu Trinh, Luật Sư Phan Văn Trường, Kỹ Sư Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh. Trước khi dự Hội Nghị Tours, 1920, Ngày 18 Tháng Sáu 1919, nhân (tiếm) danh của Nhóm Người Annam Yêu Nước, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Ngoại trưởng Mỹ đang tham dự Hội Nghị Versailles Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc An Nam/Revendications du Peuple Annamite/Claims of the Annamite People – Lá thư chỉ có thể do Luật Sư Phan Văn Trường, đại diện nhóm soạn thảo.

4/Năm 1923, với (tiếm) danh Nguyễn Ái Quốc (chưa có HCM-Pnn), Nguyễn rời Paris đi Moscow vào học trường Đại Học Thợ Thuyền Phương Đông về những điều gọi là “lý thuyết đấu tranh giai cấp”, mà nay, qua thế kỷ 21, chẳng thấy “giai cấp đấu tranh” nơi đâu, chỉ thấy thuần một giai cấp đảng viên cộng sản trấn áp toàn thể các dân tộc ở Cuba, Trung Cộng, Bắc Triều Tiên, Việt Nam… Cần kể thêm hiện tượng “Nhà nước (gọi là) XHCN đàn áp các chính phủ quốc gia nhược tiểu” như giới cầm quyền Bắc Kinh đã và đang cố công thực hiện – Tai họa toàn cầu mà nhà xã hội học người Hung, Tibor Mende (1915-1984) đã báo động về hiểm họa gọi là XHCN.

Tóm lại, không phải “ta/chúng ta sai từ sau Đại hội Tours” mà “Bác ta” đã dùng đến mấy mươi năm từ “Đại hội Tours” kia thành đầu mối tai họa, trải dài qua Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, Pắc Bó, Hà Nội, Lộc Ninh… từ 2 Tháng Chín 1945; 20 Tháng Bảy 1954; 20 Tháng Mười Hai 1960; 1968; 1972; 1973… đến 30 Tháng Tư 1975 tại Sài Gòn với những tay em, học trò đắc lực như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ… Những người mà bà Bình và Nguyên Ngọc (cũng) không dám gọi nên tên.

Chiến công đánh chiếm Quảng Trị Mùa Hè 1972 của lực lượng cộng sản Bắc Việt sau nầy được đúc nên tháp chuông tưởng niệm, khánh thành Ngày 29 Tháng Tư 2007 – Đúng ngày pháo cộng sản tàn sát (dân) trên Đại Lộ Kinh Hoàng, 29 Tháng Tư – 1 Tháng Năm 1972. Bà Nguyễn Thị Bình, Cựu Phó Chủ Tịch Nước (1992-2002) đã đến chủ tọa buổi lễ, dâng hương tưởng niệm. Bản tin Báo Sài Gòn Giải Phóng không hề đề cập tới vong linh hàng ngàn người dân Quảng Trị (không kể lính) bị thảm sát trên Đại Lộ Kinh Hoàng trong những ngày Hè năm 1972 vì đấy là “ngụy quân-ngụy dân của chế độ ngụy Sài Gòn”.

Bà Nguyễn Thị Bình, nhà văn Nguyên Ngọc nhắc đến Đại hội Tours 1920 làm gì? Xa quá. Chuyện mới gần đây thôi.

Ba

Trở lại chuyện nước Mỹ, ngày 16 Tháng Sáu 2023 vừa qua, nhân vật tiếng tăm trong giới truyền thông, báo chí Mỹ từ thập niên 1960 tên Daniel Ellsberg từ trần ở tuổi 92 (sinh 1931). Đây là một chuyên viên cao cấp phân tích quân sự/quốc phòng Mỹ; từ kinh nghiệm phản chiến (Chiến tranh VN trong giai đoạn 1964, 1965…). Ellsberg đã có một quyết định táo bạo (và “can đảm”): Cho tiết lộ 7,000 trang tài liệu về sự “dối trá lịch sử” của, từ (chính quyền, Quốc hội Mỹ) qua điều hành chiến tranh và thất bại (chắc chắn đã thấy tại 1975-Pnn) ở Việt Nam.

Cuộc chiến khiến nước Mỹ bị chia rẽ, tổn thương với hậu quả, hệ quả kéo dài trên nhiều mặt đến hôm nay, thế kỷ 21. Theo hồ sơ Ellsberg tiết lộ, chiến tranh Việt Nam (lần thứ hai) được/bị khởi động từ sự kiện ngày 2 và 4 Tháng Tám 1964 xảy ra nơi Vịnh Bắc Việt, được hợp thức hóa bởi lưỡng viện Quốc Hội Mỹ thông qua Nghị Quyết 1145 (7 Tháng Tám 1964) đồng thuận với số phiếu gần như tuyệt đối (Hạ Viện: 416-0; Thượng Viện: 88-2) cho phép Tổng thống Johnson toàn quyền hành động, mở rộng chiến tranh trừng phạt cộng sản Bắc Việt, cứu nguy Miền Nam, giữ vững Đông-Nam châu Á.

Từ Tháng Tám 1964 đến nay, 2023 là 59 năm – Tất cả vấn đề của Đông Nam Á/Ba nước Đông Dương/Nam-Bắc Việt Nam cho thấy, là Mỹ và Trung Cộng (đã/đang/sẽ) ứng xử với nhau như thế nào?

Vấn đề vừa kể ra trong năm xa xôi 1954, 1964, 1968, 1972, 1975… kia không hiểu những nhân sự như Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon (lúc ấy) thấy ra không/Thấy được bao nhiêu phần? Nhưng bởi Dĩ Mỹ Vi Trung – Người trí thức tiến bộ Daniel Ellsberg năm 1971 phải “can đảm/sáng suốt” cứu nước Mỹ – Pentagon Papers/Hồ Sơ Ngũ Giác Đài được giương lên ngất ngất với Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt/Tonkin Gulf Resolution 1145.

28 Tháng Ba 1965 Mỹ đổ quân lên Đà Nẵng, tuy nhiên từ 15 Tháng Tư 1967 đã thành hình cuộc biểu tình phản đối chiến tranh lớn nhất trong lịch sử Mỹ với hàng trăm ngàn người xuống đường nơi khu Manhattan, New York; 23 Tháng Mười 1967 biểu tình lan rộng tới trước Ngũ Giác Đài, đối mặt Tòa Bạch Ốc với cờ của Mặt Trận Giải Phóng, ảnh HCM và tấm bảng buộc tội Tổng thống Mỹ: “Johnson War Criminal”.

Chiến dịch/đúng ra là chiến lược gọi là “phản đối chiến tranh (ở Việt Nam)” không chỉ tác động về mặt xã hội-văn hóa trong quần chúng Mỹ nhưng là (lại) nguồn mối/hậu quả/hệ quả của một chiến lược lớn: Thông Cáo Thượng Hải 1972 được ký kết giữa Nixon và Châu Ân Lai hiện thực nền tảng ngoại giao cho tám đời Tổng thống Mỹ (bất kể Cộng Hòa hay Dân Chủ). Năm 1995, tại Hà Nội, cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara than vãn với Tướng Giáp: “Tôi (đã) sai. Tôi sai quá sức/Wrong, terribly wrong”. Hóa ra – Vào cũng bởi Mỹ/Ra cũng với Mỹ – Chết đến 58,220 Người Lính Hoa Kỳ.

Kết Luận

Cuối cùng, câu chuyện kể trên giữa bà Bình và Nguyên Ngọc cho thấy: Bà Bình và những người ủng hộ đường lối (sai) của đảng nhưng không (biết) chắc sai từ thời điểm nào; và cách trả lời của Nguyên Ngọc (thì) cho thấy ông biết chính xác hơn khi nhấn mạnh sai từ khi Hồ Chí Minh (đúng ra là Nguyễn Ái Quốc/Linov – Pnn) giang tay gia nhập Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tại Đại Hội Tours, 1920.

Mà mục tiêu của Đệ Tam Quốc Tế (thì) đã đóng đinh sâu vào nhận thức của Nguyễn Ái Quốc/HCM và hàng ngũ lãnh đạo đảng từ thập niên 1930. Chính sách của Đảng cộng sản không thay đổi từ đó đến nay. Sách Tuốt Kiếm Phương Xa/Drawn Swords in Distant Land nếu điều chỉnh lại những chi tiết đã kể ra sẽ giúp người đọc thuộc nhiều thế hệ tìm hiểu được một cách khách quan, chính xác hơn mối liên hệ trực tiếp giữa Mỹ/Việt Nam/Nam Việt Nam/cộng sản Bắc Việt trong suốt thời gian dài trước, sau kết thúc 30 Tháng Tư 1975. Để biết rõ ràng hơn Ai Đánh Ai!

Phan Nhật Nam,

Sau 63 năm ở Lính

23 Tháng 11, 1961-2023

Nguồn : https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/tuot-guom-ra-ai-danh-ai/

Wednesday, November 29, 2023

CÓ GÌ TRONG "TUỐT KIẾM PHƯƠNG XA" CỦA GEORGE J. VEITH

 TRỊNH BÌNH AN

Tháng 3 năm 2021, nhà biên khảo George J. Veith ra mắt tác phẩm:

Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams.”

Đây là cuốn sách biên khảo thứ tư của ông về Chiến Tranh Việt Nam.

Tháng 11 năm 2023, cuốn sách được dịch giả Phan Lê Dũng chuyển ngữ, với tựa:

Tuốt Kiếm Phương Xa – Những Giấc Mơ Tan Vỡ Của Miền Nam Việt Nam.”

***

Theo George J. Veith, cái nhìn về “Vietnam War” của thế giới cực kỳ đơn giản:

Hà Nội được ban cho chủ nghĩa dân tộc, còn Sài Gòn được định là phải thua.

Sự sụp đổ thảm hại của Miền Nam tháng Tư 1975 dường như chứng minh cho cách nhìn trên là đúng. Vì lẽ đó, chẳng có gì cần bàn cãi thêm nữa.

Drawn Swords” là chữ rút ra từ Kinh Thánh. Tác giả ngụ ý: Thất bại của Miền Nam chẳng phải lỗi tự người mà là do Trời giáng xuống oan khiên.

Shattered Dreams” bởi vì:

Miền Nam Việt Nam có riêng câu chuyện của họ nhưng lại bị bỏ qua. Đó là câu chuyện củaNhững Ước Mơ” – như lời của một người Miền Nam: “Chúng tôi có rất nhiều ước mơ: ước mơ tự do, ước mơ độc lập, và ước mơ ấm no cho toàn dân. Còn Cộng Sản thì chỉ có độc nhất một tham vọng, đó là giành lấy chiến thắng bằng mọi giá.”

Lần đầu tiên, một sử gia ngoại quốc khám phá ra “Sự Thật của Miền Nam“:

Sài Gòn đã thực hiện đồng thời hai mục tiêu:

Chiến thắng cộng sản và Xây dựng dân chủ.

Để hoàn thành hai nhiệm vụ to lớn ấy, người dân Miền Nam phải vượt qua di sản suy tàn của chế độ thực dân Pháp. Họ phải đương đầu rất nhiều thử thách: Thiếu đoàn kết dân tộc, xung đột quân dân, thể chế chính trị chưa phát triển, và nhiều vấn đề khó khăn khác.

Tệ hơn, họ phải giải quyết khó khăn trong khi sát nách là kẻ thù hung hiểm: Cộng Sản.

Tuốt Kiếm Phương Xa” cho thấy Việt Nam Cộng Hòa không hề là sản phẩm của Mỹ.

Nền kinh tế Miền Nam VN cho tới nay vẫn bị cho là kém cỏi, nhưng sự thực nền kinh tế ấy đã có những ảnh hưởng to lớn nhờ tạo ra được sự bình đẳng trong dân chúng, như chương trình “Người Cày Có Ruộng.”

Tuốt Kiếm Phương Xa” còn xem xét kỹ lưỡng vai trò chủ chốt của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong nỗ lực đem lại hòa bình và chiến đấu chống giặc.

***

Từng là một người lính, khi khép lại cuốn sách trên 10 năm biên soạn, “Jay” không khỏi cảm thán khi nghĩ tới số phận nghiệt ngã của những người lính không cùng màu da, không cùng tiếng nói – những người lính “in a Distant Land.”

Những người Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa không thể giải thích rõ ràng về bản thân họ với những người ngoại quốc. Họ không thể giãi bày với quốc tế về những điều họ đã phải đương đầu.

Kết quả, mặc dù chiến đấu kiên cường bất khuất, Việt Nam Cộng Hòa đã thua trận trước khi quốc gia non trẻ này có thể hoàn thành việc phát triển.

Trong rất nhiều năm, Việt Nam Cộng Hòa đã gánh chịu nhiều định kiến nặng nề. Và, những người Quốc Gia (Nationalists) cũng lặng lẽ ôm mối thống hận. Bởi, họ cho rằng mình có tội – Tội làm mất nước.”

Giờ đây lịch sử phải trả lại công bằng cho Miền Nam Việt Nam.” 

Trịnh Bình An

(11/2023)

Ghi Chú:

George J. Veith– Cựu Đại Úy binh chủng Thiết Giáp Hoa Kỳ từng phục vụ tại Đức quốc. Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt 4/1975, “Jay” chỉ mới tốt nghiệp trung học nhưng luôn quan tâm tới vấn đề POW/MIA. Hai tác phẩmđầu tiên: “Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts during the Vietnam War ” (1998),và “Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War” (2004).

Khi gặp gỡ Thiếu Tướng Lê Minh Đảo để tìm hiểu thêm về mặt trận Xuân Lộc 1975, tướng Đảo yêu cầu Jay thực hiện một cuộc biên khảo trung thực về Việt Nam Cộng Hòa. Kết quả,cho ra đời tác phẩm “Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-75” (2012).Sách tiếng Việt có tựa “Tháng Tư Đen” (2013)do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ phát hành.

Năm 2021, George J. Veith tốt nghiệp tiến sĩ Đại Học Úc Châu “The Univeristy of Aderlain“với luận án về Việt Nam Cộng Hòa.Tác phẩm thứ năm của Jay có tên “Peace, POWs, and Power.” (2023). Mời vào thăm trang nhà của George J. Veith: www.thangtuden.info

Tuốt Kiếm Phương Xa” – 800 trang. Ấn phí $40 usd. Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2023. Để mua sách qua bưu điện, xin gửi chi phiếu về: VLAC /TS Tiếng Quê Hương –  P.O. Box 4653, Falls Church, VA 22044, USA. Liên lạc email: uyenthaodc@gmail.com. Hay, đặt mua online trên trang Barnes & Noble.https://www.barnesandnoble.com/w/tuot-kiem-phuong-xa-dung-phan/1144049817

Monday, November 6, 2023

NHỚ VỀ MỘT THUỞ XƯA CÒN SAIGON…


Vài ảnh Sài Gòn xưa gợi nhớ một khung trời kỷ niệmLogo Sài Gòn năm 1870. Khi chiếm Sài Gòn, người Pháp đã sáng tác ra logo này. Hình ảnh hai con cọp trong logo thể hiện đây là vùng đất hoang sơ. Nhưng dòng chữ Latinh Paulatim Crescam có nghĩa là : “Cứ từ từ, tôi sẽ phát triển”. Hình ảnh con tàu hơi nước ở giữa logo cho biết đây là vùng đất nhiều kênh rạch. Phía trên có vương miện 5 cánh như thông báo Sài Gòn sẽ giao thương với năm châu bốn biển. Logo Sài Gòn 1870 thể hiện cách nhìn hoang sơ và triển vọng Sài Gòn của người Pháp. 
Tới thời VNCH, Sài Gòn là "Hòn Ngọc Viễn Đông"

 

NHỚ VỀ MỘT THUỞ XƯA CÒN SAIGON…Đêm Nhớ Về Sài Gòn - Khánh Ly ca

"Ðể đêm đêm ... nhớ về Sài Gòn Thấy mình vừa trở lại quê hương Ðã gặp người một trời yêu thương cho lòng thêm chút ấm Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau Tình chia trong đêm sầu"

CHO TOI DUOC MOT LAN - LE THU - SAIGON VIETNAM YESTERDAY PHOTOS"Cho tôi được một lần Nhìn quê hương đợi sáng Ðời thôi oán thôi hờn Mến thương cùng kiếp người " 

Bộ mặt Sài gòn, lúc 1955, người ta còn thấy những thầy Cảnh Sát được gọi là Mã Tà, đứng huýt còi ở các ngã tư đường. Vậy mà chẳng bao lâu chữ gọi mã tà đó đã biến mất.

Và sau này, sẽ còn nhiều cái biến mất như thế.

Nhiều cái biến mất như thế để Sài Gòn như hôm nay

Người ta vẫn còn thấy những xe thổ mộ đủng đỉnh, kêu lóc tóc vui tai với các lục lạc của xe ngựa kéo trên các con đường từ chợ Bến Thành xuống tận Ngã Tư Bảy Hiền, hay từ Bến thành đi chợ Bà Chiểu. Nó vẫn như ngang nhiên thách đố với các tuyến đường xe buýt nay đã chật ních người. Nó vẫn có những khách hàng quen thuộc là những người thuộc giới bình dân, giới buôn thúng bán mẹt.

Nó chỉ dần dần biến mất lúc nào không ai hay khi mà những chiếc xe Lambretta ba bánh nhập cảng từ Ý đã được chế biến lại cùng chạy trên những tuyến đường đó. Xe Lam nhanh hơn, chở tới 12 người, 10 người ngồi ở đằng sau, khi cần, có thể ghé thêm hai người ngồi bên cạnh tài xế. Vậy tất cả là 13 người chứ không 12. Xe lại có nhiều chuyến hơn, cứ đầy là chạy và ngồi thoải mái hơn. Đặc biệt bên hai thành xe có ghi hai câu: Hữu sản hóa, đợt tự chủ. Nếu tôi nhớ không lầm chính sách hữu sản hóa này là ở dưới thời ông Kỳ làm Thủ tướng.

Nhưng xe xích lô ba bánh, xích lô đạp, đặc sản miền Nam vẫn tồn tại trong suốt 20 năm miền Nam còn lại.

Người trung thành nhất với xích lô đạp, phải chăng là thi sĩ Vũ Hoàng Chương? Có thể ông nghèo vì hút thuốc phiện, nhưng mỗi lần đi dạy ở trường Chu Văn An ông luôn luôn đến trường bằng xe xích lô đạp. Quần áo luôn luôn là ủi thẳng nếp, thắt cravate, tay áo manchette bằng vàng, đầu chải bóng. Người chạy xích lô đạp thường tranh nhau mời ông không phải vì ông là thi sĩ, mà vì người ông nhẹ như bấc, không chắc ông có cân nặng bằng nửa số ký của người khác không?

Tác giả Lửa Từ Bi hồi 75 đã đi tù Cộng Sản. Ông nhẹ như bấc, không biết người Cộng sản sợ ông nỗi gì, sợ một người nhẹ như bấc mà đầy đọa ông trong tù. Hỡi những kẻ ngồi lom khom viết bài bênh “Cụ Hồ” nghĩ gì về việc đầy đọa trong tù một thi sĩ trói gà không chặt? Lúc họ thả thì vài ngày sau, ông giã từ cõi thế. Chắc ông cũng chả muốn sống làm gì?

Và có ai ngờ rằng, xích lô đạp vẫn có chỗ của nó sau hơn nửa thế kỷ sinh tồn.

Sau giải phóng, rất nhiều nhà văn, nhà báo, chuyên viên, giáo sư đổi ra đạp xích lô. Đó cũng là một góc cạnh về thế hệ thanh niên miền Nam đọa đầy dưới gót của đôi dép râu?

Và tự nhiên nay nó trở thành biểu tượng nếp sống văn hóa của một thời. Hà Nội nay nhan nhản xích lô đạp dành cho khách du lịch chạy vòng vòng quanh khu phố cổ Hà Nội.

Người ngoại quốc danh tiếng nào đến Việt Nam thì cũng có dịp ngồi trên đó cả. Vợ chồng Brad Pitt và Angelina Jolie cũng có dịp ngồi xe xích lô cho biết mùi vị Việt Nam.

Nhưng cái đổi thay rõ nét nhất là cái áo dài con gái thay thế cho chiếc áo bà ba, chiếc quần hai ống rộng. Chẳng bao lâu sau, chẳng biết từ lúc nào toàn miền Nam mà đặc biệt các nữ sinh Trung Học, từ Sài gòn ra Trung, từ Sài gòn xuống Lục tỉnh. Chỉ áo dài là áo dài. Áo dài Trưng Vương, áo dài Gia Long, áo dài Nguyễn Bá Tòng, áo dài Nữ trung học Lê văn Duyệt, áo dài Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, áo dài Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, áo dài Nữ Trung Học Nha Trang và nhất là áo dài Đồng Khánh Huế.

Và nó cũng mở đầu cho thiên tình khúc tuyệt vời Ngày xưa … Hoàng Thị của Pham Thiên Thư:

Em tan trường vềĐường mưa nho nhỏ..Anh đi theo hoàiGót giày thầm lặngĐường chiều úa nắngMưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường vềCuối đường mây đỏBước em thênh thangÔm nghiêng cặp sáchVai nhỏ tóc dàiÁo em ngày nọPhai nhạt mây mầuChân tìm theo nhauCòn là vang vọng …

Nó biểu tượng cho cái gì tinh khiết, trinh nữ, tinh tuyền và mời gọi. Nó che dấu bằng hai vạt áo dài mà như thể mở, biện chứng kín mà hở. Nó mời mọc mà kín đáo chối từ, nó bày tỏ phái tính, sexy đến ứ cổ họng với nét nổi lên của chiếc quần lót hằn lên tuổi dậy thì. Không có y phục phụ nữ nào trên thế giới lại sexy đến như thế. Ngay cả sau này với mini-jupe cũng không sánh bì.

Nó không cần đến những Cardin, Courrèges, St. Laurent, Paco Robanne. Cùng lắm, nó chỉ thua Le Panty, Monokini, quần lót Le petit bâteau của thập niên 1970 Nhưng những thứ này phải “ăn gian” từng centimét mới có được như thế.

Áo dài không ăn gian. Cạnh đó là hàng nút bấm mong manh như lối ngõ vào bên trong nằm hở ra cạnh sườn. Nó không những chỉ là một nét đẹp con gái mà nó trở thành biểu tượng cho một nếp sống văn hóa Việt Nam.

Sau này, không biết bao nhiêu những tranh ảnh, bìa báo Xuân, báo Tết chụp hình các thiếu nữ trẻ miền Nam trong chiếc áo dài truyền thống đó. Và người ta có thể hãnh diện về điều này mà không có gì phải hổ thẹn khi nói đến. Tuổi thanh xuân thiếu nữ đi liền với nét đẹp con gái ấy.

Nó phản ánh thế hệ thanh thiếu nữ thời ấy mà hễ bất cứ ai không còn là con gái, xồ xề một chút, vùng đùi, vùng mông nở nang một chút là mặc áo dài thường khó coi.

Sự đòi hỏi của tôi có khắt khe quá chăng? Nhưng chính sự đòi hỏi khắc nghiệt ấy làm tăng giá trị chiếc áo dài miền Nam tuổi trẻ. Nhiều phụ nữ, các bà mặc trong các dịp lễ hội. Thấy làm sao.

Rất tiếc sau 75, ra ngoài đường, Sài gòn vắng bóng chiếc áo dài. Cũng là vắng bóng tuổi trẻ miền Nam? Hay tuổi trẻ miền Nam không còn nữa? Người ta không còn phân biệt ai là con gái, ai là đàn bà được nữa, đến như thể ai cũng là đàn bà, đến như thể ai cũng mất cả rồi.

Khi không còn những áo dài đó, Sài gòn buồn thiu. Như cây rừng không còn lá.

Tuổi trẻ miền Nam thời ấy biểu tượng vẫn là hình ảnh cô thiếu nữ mặc áo dài trắng quần trắng. Đừng thứ mầu khác, đừng xanh đỏ lò loẹt. Vén tà áo dài sang bên, hở một bên, kín một bên, cho thấy đùi trinh nữ, cho thấy tuổi dậy thì, hai đùi nhẹ khép lại khi bước đi hay khi ngồi trên chiếc xe vê lô sô lếch thời thượng.

Bây giờ, tôi không thấy những bước đi kiêu sa thiếu nữ như thế nữa. Đó là hình ảnh cô gái, mình ong thon thon ngồi trên chiếc xe Solex trông giống như một con bò ngựa biết bay. Phất phới, tung gió, nhẹ lướt, mái tóc hất lại đẵng sau, đầu buộc bím mầu xanh tím, để lại đằng sau những cái nhìn dõi suôi bắt không kịp. Và những đôi mắt thèm thuồng.

Ingarary gọi đó là một chuỗi diễn hành phái tính (Mascarade de la fénimité )

Giấc mơ em mặc jupe hồng … thôi rồi Sài Gòn ơi!

Xin mượn lời thơ của Nguyên Sa:

Có phải em mang trên áo bayHai phần gió thổi, một phần mâyHay là em gói mây trong áoRồi thở cho làn áo trắng bay?Em cười tà áo bay trênĐám mây ở dưới nỗi phiền muộn xaAnh ngồi chỗ hẹn hôm quaĐám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,Giấc mơ mặc áo lụa vàngNơi anh nằm ngủ có hàng Thùy dương(Nhẹ nhàng)

Trong khi đó thì những cậu con trai cỡi xe Vespa, đời ED, đôi kính mầu đen, chiếc áo Montagu, mầu xanh đậm rồ ga hay lượn uốn éo. Nếu Solex là con gái, thì Vespa là con trai. Nếu Solex là con bọ ngựa thì Vespa là con bọ hung. Solex là nữ tính, Vespa là nam tính.

Nếu con gái ăn quà thì con trai Bát phố. Bát phố phải chăng là nói nhại từ tiếng Pháp battre le pavé? Thôi thì là gì cũng được. Và xin mượn lại chữ nghĩa của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:

… Từ xa phố chợ đến giờChân thôi bỏ lệ gõ bờ lộ quen

Bát phố là một thứ giải trí chiều thứ bảy của con trai Sài gòn. Mà điều căn bản là có mặt. Làm gì, bận bịu gì cũng bỏ đi Bonard bát phố. Sinh viên, học sinh các lớp tú tài, lính tráng đi hành quân ở xa về, công chức các bộ, các nha đều đi dạo phố, ngắm người hay rửa mắt. Mà phần lớn bọn họ là độc thân, chưa có vợ con. Nếu sang một tí thì vào Givral ngồi, tàm tạm thì một ly nước mía Viễn Đông cũng xong.

Đi dạo phố trở thành một thói quen, một nếp sống của con trai Sài gòn. Ngoài Sài gòn, tôi chỉ thấy ở Huế có sinh hoạt bát phố tương tự. Nhưng ở Huế, số con gái đi dạo phổ kể là đông và đi từng nhóm hai ba cô. Họ sợ bị bắt nạt chăng? Cô nào cũng có chiếc nón không phải để che nắng, che mưa mà để che cái nhìn trộm của con trai. Gái Huế đi dạo trên đường Trần Hưng Đạo mới thật là một diễn hành phái tính. 10 lần ra Huế thì y như rằng ra đi là để lại một cái gì?

Con gái biểu tượng nhất, cái Look theo nghĩa bây giờ là hình ảnh cái thân hình dong, lưng thẳng, găng tay trắng, cặp kính mầu, áo dài trắng, phải áo dài trắng mới được, mới con gái, mới trinh nữ, mới thanh khiết. Vạt áo dài phía sau vắt ngang sang bên kia để hở một bên phần đùi trông cộn hẳn lên trên chiếc Vê lô solex mầu đen. Đi xe vê lô solex chứng tỏ con nhà khá một tý, sang trọng và đài các. Cái dáng ngồi solex trông rất con gái, rất phái tính.

Người phụ nữ sinh ra là để như vậy. Les femmes seraient faites ainsi. Quyến rũ bằng chính thân xác mình.

Nhờ áo dài đó mà phụ nữ, cô nữ sinh trở thành phụ nữ hơn. La robe lui permettait de devenir plus féminine. Phải nói là thời thượng và ấn tượng lắm. Cộng thêm cái thói ăn quà vặt. Ăn qùa vặt là rất con gái, rất trẻ, rất bắt mắt. Khi cô nữ sinh ăn quà thì tưởng là ăn quà thật. Nhưng đôi khi cũng chỉ là cái cớ sự cho sự trình diễn, sự được nhìn. Nó như chờ đợi một điều gì đó. Điều mà Thị Nở đã chờ đợi từ tuổi 15, 16 thời con gái, nay đà 30 và bao nhiêu thế hệ con gái cũng đã chờ đợi như thế. Như cơn mưa mùa hạ. Như chồi non hé nụ. Như em chờ anh lúc này. Chí Phèo chỉ đến hoàn tất công việc chờ đợi ấy.

Cuộc đời đôi khi đơn giản là như thế.

Vespa Sài Gòn (thập niên 1960)

Ngoài hai thứ đó ra, con gái cũng đi dạo phố. Con trai đi dạo phố là để ngắm. Con gái đi dạo phố xuất hiện như một trình diễn, ăn diện, mốt, kiểu để được nhìn, để được thừa nhận, để nhận phần lớn là những lời tán tỉnh, khen tặng.

Đó là cả một cái guồng máy của sự xuất hiện. L’engrenage du paraitre .

Và cuối cùng, thú vui giải trí chung cho cả con trai lẫn con gái vẫn là ciné và tiệm sách. Ciné là nơi hẹn hò để trai gái gặp nhau cuối tuần để trò chuyện, để tỏ tình, để lén lút hôn nhau. Những nụ hôn mật ngọt ấy. Quên sao được. Những mối tình của giới trẻ thời đó đến đó và dừng lại ở đó. Sau đó để lại một chút gì. Để kỷ niệm, để nhớ, để mãi mãi là như thế.

Nay gặp nhau cuối đời, lòng như chợt tỉnh, như chấu ủ bếp lửa bừng lên từ đám tro tàn. Gặp nhau muộn phiền, thương hoài ngàn năm.

Viết đến đây lại chợt nghĩ đến Nguyên Sa. Ông đã nói hộ cho tuổi trẻ Sài gòn:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mátBởi vì em mặc áo lụa Hà ĐôngAnh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng

Tuổi trẻ miền Nam là như thế. Lành mạnh mà không thiếu lãng mạn, tình tứ. Dắt tay nhau mà đi. Làm thơ tình. Gởi gắm nhắn nhe.

Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướngNàng đến gần tôi chỉ dám quay điCả những giờ bên lớp học trường thiTà áo khuất thì thầm chưa phải lúc (Tuổi mười ba)

Nhưng may thay, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên, giới trẻ, lúc bấy giờ đều có một giấc mơ là làm thế nào để có một miền Nam phát triển và phú cường để đối địch với miền Bắc.

Cafe Givral, Mở cửa từ năm 1950

Và mặc dầu còn có những bất cập đủ thứ, tôi vẫn phải nhìn nhận rằng, những năm tháng còn lại, kể từ ngày ấy, mỗi giây phút năm tháng sống, học hành, lớn lên thành người thời đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam vẫn là những năm tháng ân sủng cho tuổi trẻ của tôi và những bạn bè cùng trang lứa.

Chúng tôi đã lớn lên từ đó, trở thành người hữu dụng cũng từ đó.

Như lời Phạm Duy tỏ bày: ”Dưới thời Cộng Hòa thứ nhất, từ khi chế độ nhà Ngô thành lập và tiến dần tới thời thịnh trị rồi mạt vận, miền Nam, nếu chưa được là thiên đường của đông đảo văn nghệ sĩ đi tìm tự do thì cũng là nơi đất lành chim đậu. Một thế hệ văn nghệ sĩ mới đã thành hình và họat động dữ dội bên những vị đàn anh di cư từ miền ngoài. Phòng trà, tiệm bánh, quán nước như Kim Sơn, Mai Hương, La Pagode, Givral, Brodard … là nơi không hẹn mà văn nghệ sĩ tới gặp nhau hằng ngày.”

Trong 9 năm cầm quyền thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chỉ có 3 lần có những biến động chính trị. Nhưng chỉ riêng năm 1964, có 13 lần miền Nam rơi vào những biến động có thể làm lung lay nền Cộng Hòa. Nói như thế để thấy rằng sự ổn định chính trị nằm ở thời điểm nào.

Người nào không nhìn nhận những điều ấy thì chỉ thiệt thòi cho chính họ thôi, bởi vì họ tự mình bôi xóa tuổi trẻ của chính họ. Nhiều người đã bôi xóa như thế để chạy theo vài ảo tưởng chính trị, hoặc nếu ở ngoại quốc thì chạy theo những xu hướng thiên tả vốn chẳng dính dáng gì đến thực tế chiến tranh Việt Nam.

Phần tôi nghĩ rằng, chúng tôi không bước đi những bước đi đơn độc.

Chúng tôi có bạn đồng hành, đồng trang lứa, có những người lính, người sĩ quan VNCH cùng lớn lên ở đấy, đang xả thân thay cho chúng tôi. Và cho dù cuối cùng để mất miền Nam thì những giá trị tinh thần ấy vẫn còn đó.

PHAN NGUYÊN LUÂN thực hiện