Má tôi nấu canh chua cá kho tộ ngon nhất đời… chúng tôi. Ăn gì ăn, đi
đâu đi, rồi cũng lại thèm canh chua cá kho Má nấu. Má là “dân miền Nam”
thứ thiệt, con gái Long An, lấy chồng Sài Gòn, sống nửa đời ở Sài Gòn
rồi qua nửa vòng Trái đất đến Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon) sống ở miền
Nam California tới giờ.
Mà ở đâu Má cũng nấu canh chua.
Canh chua cũng là món Ba chúng tôi ưa thích. Hồi trước 1975, mỗi lần
nghỉ phép về lại Sài Gòn, ông sĩ quan ấy chỉ mong sà vào mâm cơm của vợ
với món canh chua nóng hổi ngào ngạt, sà vào cái tình gia đình chồng vợ
ấm áp giữa tháng năm chiến tranh sống chết điêu linh. Tháng Tư năm 1975,
ông đã từ chối những cơ hội di tản mà một sĩ quan cấp tá như ông có thể
có được. Ông nghĩ đến cha mẹ anh em dòng họ, người Mỹ bỏ đi nhưng mình
làm sao bỏ đi, nhà mình đây, vợ con mình đây, canh chua cá kho mình đây…
Ngày 30 Tháng Tư chúng tôi ngơ ngác trước những ồn ào thay đổi ngoài
đường, nhưng trong nhà lại vui vì đã có Ba về. Ba về hẳn. Chúng tôi luôn
thèm Ba, những đứa con của lính trận xa nhà luôn thèm có Ba. Tôi đi
theo hít hà mùi áo Ba. Ba mặc áo sơ mi quần tây, đeo mắt kính, nhìn như
thầy giáo, đó cũng là mơ ước lớn nhất của ông, sẽ có ngày được giảng dạy
ở trường quốc gia hành chánh.
Ngày 30 Tháng Tư 1975 đó, chúng tôi đã không ra đi, khi người Mỹ cuối cùng rút khỏi Sài Gòn.
Ngày 30 Tháng Tám 2021 này, Má ngồi trước màn hình tivi ở nhà đứa con
trai út ở North Carolina, như hàng tỷ người trên thế giới đang theo dõi
những giờ phút cuối cuộc rút quân “khó khăn và đau đớn” của quân đội Mỹ
ở sân bay Kabul. Chiến dịch quân sự kéo dài 20 năm của quân đội Mỹ tại
Afghanistan đã kết thúc với hình ảnh Thiếu tướng Christopher Donahue
trong quân phục dã chiến, xách súng carbine M4, bước lên chiếc vận tải
cơ C-17 cuối cùng rời sân bay Kabul lúc 15:29 ngày 30 Tháng Tám.
Chín năm trước, con trai út của Má, Trung tá Nhựt Lý, cũng từ sân bay
Kabul này rời Afghanistan, sau chín tháng đóng quân ở đây. Chín năm
trước, má cũng tiễn con đi và đón con về từ chiến trường Afghanistan
bằng bữa cơm canh chua cá kho của Má. Còn Má trong chín tháng con trai ở
Afghanistan đó, bà chỉ ăn chay, và niệm Phật hàng đêm. Để cầu mong con
và đồng đội của con được nguyên vẹn trở về.
Cựu trung tá Nhựt Lý (ảnh gia đình tác giả cung cấp)
Nên hôm nay khi nhìn những người lính Mỹ cuối cùng rời sân bay Kabul,
Má nhớ ngay cái cảm giác của chín năm trước. Má đã mừng tủi thế nào khi
nhận được tin Nhựt đã trở về Mỹ an toàn, vào cái năm thứ 12 của cuộc
chiến đã lấy đi sinh mạng của 2,000 lính Mỹ ở thời điểm ấy. Ngày hôm đó,
Má đến trước tấm ảnh Ba, thầm thì: Anh à, con đã về!
Ba chúng tôi đã vĩnh viễn không thể về ăn những tô canh chua Má nấu
sau ngày hòa bình, khi tiếng súng đã ngưng. Ông nằm lại trong một gò đất
hoang vu ở một nơi rất xa Sài Gòn, trên giải đất hình chữ S đã được nối
liền. Bảy năm sau đó, má con tôi cũng phải ra đi khỏi giải đất hình chữ
S thân thương ấy, vì không thể nào tiếp tục sống ở đó. Bởi tôi chắc
chắn không bao giờ vào được đại học với cái lý lịch “nguỵ quân” xếp hạng
tận cùng thứ 15, thằng út em tôi có những ngày bị đói đến lả người. Má
tôi gầy gò như một nhánh cây khô trĩu nặng năm đứa con thơ tương lai mờ
mịt. Nước Mỹ, sau cuộc chiến 20 năm ở Việt Nam, đã đón nhận chúng tôi,
vợ con một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.
Nước Mỹ hôm nay, một lần nữa, lại vừa rút ra khỏi cuộc chiến 20 năm ở
Afghanistan, cuộc chiến được coi là dài nhất lịch sử Mỹ. Cũng trong
những ngày cuối Tháng Tám, chúng tôi nhìn lên màn ảnh tivi, nhìn những
gương mặt người trong cơn di tản, những cột khói bốc lên, những chuyến
bay cuối cùng rời khỏi đường băng,
nhớ 30/4, nhớ Ba, nhớ cả hành trình của gia đình, nhớ cả oan khiên của dân tộc.
Má bây giờ vẫn nấu canh chua cho thằng Út, một trung tá quân đội,
trong những bữa cơm chiều ở nhà nó. Thằng Út của Má ngày 30 Tháng Tư
1975 chỉ mới vừa ba tuổi. Lúc Ba chúng tôi mất, nó còn chưa kịp có ký ức
nào về Ba ngoài cái trụ sở Ủy ban phường ngày nó theo Má lên đó nhận
giấy báo tử. Thế rồi sang đây nó lại theo nghiệp nhà binh. Nó học rất
giỏi, vừa đi lính vừa lấy bằng đại học về ngôn ngữ rồi lấy bằng bác sĩ.
Nó hiền như củ khoai, chưa bao giờ nghe nó nói một lời thù hận nào,
không biết nó có còn nhớ cái Ủy ban phường đó không, bởi không thấy nó
nhắc gì trong những lần về Sài Gòn cùng đoàn thiện nguyện “Project
Vietnam” có ghé thăm nhà cũ ở khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật…
Người Mẹ (ảnh tác giả cung cấp)
Năm tháng qua đi, những cuộc chiến qua đi, chỉ còn lại Má tôi, với
nồi canh chua, ngồi lại. Cuộc chiến Việt Nam, rồi cuộc chiến
Afghanistan, bà đều tiễn chồng rồi tiễn con đi vào nơi khói lửa, với nồi
canh chua ấy. Cái dáng cần mẫn gọt bạc hà, lặt ngò ôm, dằm me, rửa cá…
chuẩn bị cho nồi canh chua trong bữa cơm đưa tiễn của một người vợ, một
người mẹ – giá mà tôi có thể vẽ lại được, tạc lại được. Như tạc về một
thân phận Việt Nam trong cơn biến loạn lịch sử từ cuối thế kỷ trước đến
đầu thế kỷ này.
Người
Mẹ (bìa trái) trong bữa cơm với canh chua trước ngày cựu trung tá Nhựt
Lý (áo thun trắng) sang Afghanistan- Tháng Ba năm 2012 (ảnh gia đình tác
giả cung cấp)
May mắn là tôi đã kịp lưu lại tấm ảnh chụp bữa cơm gia đình trong
ngày tiễn Nhựt chuẩn bị sang Afghanistan (Tháng Ba 2012) từ Yahoo Blog.
Tô canh chua giữa mâm, bàn tay cầm đũa của Nhựt, và mái tóc trắng phau
của Má nơi góc bếp, ở đó, mãi đó.
Trước khi đề cập tới ngày tái chiếm cổ-thành Quảng-Trị.
Ngược lại dòng thời-gian khởi sự ngày 1 tháng 5-72.
Tin tình báo cho biết quân BV sẽ tác xạ 10 ngàn quả đại bác 130 ly
vào cổ-thành và Thị-xã Quảng-Trị ngày 1 tháng 5-72.
Để tránh tổn thất nhân mạng nếu cuộc pháo kích xẩy ra. Chuẩn Tướng
Vũ Văn Giai TL SĐ3/BB cho lệnh các đơn-vị di-tản để tránh pháo.
Cuộc di-tản này lại trở nên một cuộc lui binh hỗn-loạn về hướng
Mỹ-Chánh. Dọc đường các đơn vị này cũng bị các đơn-vị Bắc-Việt pháo
và chận đánh lẻ tẻ trên đường rút.
Sự việc trên đã đưa đến hậu-quả là thành-phố và cổ-thành Quảng-Trị
bỏ ngỏ và đã bị quân-đội Bắc-Việt chiếm kể từ ngày 1-5-72.
LĐ 369 do Đại-Tá Phạm-Văn-Chung LĐT lúc này đang trách-nhiệm án-ngữ
tuyến sông Mỹ-Chánh đã chỉ-huy các Tiểu-Đoàn TQLC ngăn chặn được lực
lượng địch tại sông Mỹ-Chánh phía Nam Hải Lăng 15 cây số, và đánh
tan các đơn-vị Việt-Cộng có ý-định di-chuyển về hướng Nam theo
Quốc-Lộ 1. Nhờ vậy nên các đơn-vị trực-thuộc SĐ3-BB đã được an-toàn
khi về tới Mỹ Chánh.
Trong suốt tháng 5-72, nhiều cuộc tấn-công cấp Trung-Đoàn có
chiến-xa tùng-thiết của cộng sản vào khu-vực bố-trí quân của LĐ 369 tại Mỹ-Chánh,
nhưng đều bị TQLC và BĐQ đánh tan hoặc đẩy lui.
Cũng thời-gian này, nhiều cuộc hành-quân thăm dò vào khu-vực quận
Hải-lăng đã được tổ-chức. Có những cuộc HQ trực-thăng-vận, Hành-Quân
Thủy-Bộ vào khu-vực bờ biển Mỹ-Thủy và đã có nhiều cuộc đụng-độ với
cấp Trung-Đoàn quân chính-quy Bắc-Việt ở khu-vực “Đường Phố Buồn
Hiu” tức hương-lộ 555.
Ngày 4-5-72, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng được bổ-nhiệm chức-vụ
Tư-Lệnh Quân-Đoàn 1 thay thế Trung-Tướng Hoàng-Xuân-Lãm.
Thời gian này cũng là khúc quanh quan-trọng trong Binh-Chủng TQLC,
Đại-Tá Bùi-Thế-Lân TLP/SĐ được bổ-nhiệm giữ chức-vụ Tư-Lệnh
Binh-chủng TQLC thay thế Trung-Tướng Lê-Nguyên-Khang.
Lúc này Quân-lực Mỹ đã chấm dứt tất cả những cuộc hành-quân trên bộ,
chỉ còn lại một số Sĩ-Quan cố-vấn để liên-lạc yểm-trợ về vấn-đề
phi-pháo xuất-phát từ các hạm-đội ở ngoài khơi Thái-Bình-Dương, cùng
các phi-vụ B52 từ Guam và Thái lan.
Tuyến sông Mỹ-Chánh lúc này trở thành tuyến đầu của QĐ1 do Đại-Tá
Phạm-Văn-Chung LĐT- LĐ369/TQLC trách-nhiệm.
Ngày 28-6 giai-đọan hành-quân tái-chiếm Quảng-Trị được bắt đầu.
Các đơn-vị Dù, TQLC vượt-tuyến xuất-phát Mỹ-Chánh tiến về Quảng Trị. ND
phía tây QL1, TQLC phía Đông QL1. Trung-tướng Ngô-Quang-Trưởng giao
cho ND vinh-dự tái-chiếm cổ-thành và thị-xã Quảng-Trị là hai
mục-tiêu nằm trên trục tiến quân của TQLC.
Có lẽ Trung-tướng Trưởng muốn dành vinh-dự đó cho SĐ-ND,
là đơn vị gốc của ông!
Ngày 11 tháng 7, TĐ1-TQLC được
trực thăng vận vào vùng thôn Bích La Nam, đông bắc thị-xã Quảng-Trị
chừng 2 cây số. Đây là một vị-trí quan-trọng, nếu chiếm được sẽ làm
dễ dàng hơn cho việc tái chiếm Quảng Trị.
Một đoàn gồm 32 chiếc trực thăng đủ loại, 17 chiếc loại CH53 mới
nhất của Quân-Đội Hoa Kỳ (1972) chở dược 60 người, 15 chiếc Chinook
CH46 chở 20 người được dùng để di-chuyển TĐ1/TQLC đến mục-tiêu. Khi
tới bãi đáp, một trực-thăng đã bị hỏa-tiễn SA7 bằn trúng làm nổ tung,
đa số quân trên máy bay đều tử-nạn. Trong số 32 chiếc trục-thăng
xử-dụng thì đã có 29 chiếc bị trúng đạn phòng-không, 1 nổ tung ở bãi
đáp, 2 chiếc bị rớt (1 rớt xuống biển)
TĐ1/TQLC do Thiếu-Tá Nguyễn-Đăng-Hoà chỉ-huy đã bị tổn-thất nặng. Tiểu Đoàn phải đương đầu với
lực-lượng hùng-hậu của đối-phương nhưng vẫn cố-thủ
dược vị-trí và chống-trả được những cuộc tấn-công của Quân Bắc-Việt.
Sau gần 1 tháng ND và TQLC đã tiến gần đến
Quảng Trị, thời gian này cũng có
nhiều cuộc đụng-độ mạnh hàng ngày và tổn-thất nhiều.
Nhiều yếu-tố chính-trị liên-quan đến hiên-tình đất nước như VN hoá
chiến-tranh, hoà-đàm Ba-Lê, phong-trào phản-chiến ở Mỹ khiến
Tổng-Thống và Quốc-Hội Hoa-Kỳ làm đủ moị cách để rút quân đội Mỹ ra
khỏi cuộc chiến VN.
Tổng-Thống Thiệu muốn mau chóng chiếm lại
Quảng Trị, nơi mà bọn CS có ý
định muốn dùng Quảng-Trị để ra mắt chính phủ MTGPMN.
Tôi không hiểu vì lý do gì mà ngày 27-7-72, TQLC được lệnh thay thế ND
để tái-chiếm Quảng-Trị. Khi nhận lệnh thì mọi cấp chỉ-huy có những
suy nghĩ khác nhau, nhưng cũng chẳng có thì giờ để hỏi tại sao.
Tướng Bùi-thế-Lân nhận-lãnh nhiệm-vụ khó khăn và quan-trọng này trên
vai ông, ông cũng vừa mới nhận chức vụ TL/SĐ được một thời gian
ngắn. Nhưng Tôi nghĩ ông cũng hãnh-diện và hậu-quả cuả cuộc HQ này
sẽ có ảnh-hưởng đến đời binh nghiệp của ông. Sau khi họp bàn và
thiết-kế, ông quyết định dùng LĐ 258 do Đại-Tá Ngô-Văn Định (Đồ Sơn)
chỉ huy gồm 5 TĐ tác-chiến 1,2,5,6,9 và 1 TĐ Pháo Binh 105 ly TQLC
để thay thế vào khu vực của LĐ2/ND do Đại-Tá Trần-Quốc-Lịch chỉ-huy
ở phía Tây-Nam cổ thành và LĐ-147 do Đại-Tá Nguyễn-Năng-Bảo (Bắc
Ninh) chỉ-huy gồm 3 TĐ tác chiến 3,7, 8 và 1 TĐ pháo binh TQLC làm
lực-lương tấn-công ở phía đông cổ thành.
LĐ 369 do Đại-Tá Nguyễn-thế-Lương (Lâm Thao) chỉ-huy làm thành phần
trừ bị cho Sư-Đoàn.
Mục-tiêu Cổ-Thành được chia làm 2, LĐ 258 nửa Tây-Nam, LĐ 147 nửa
Đông-Bắc. Chúng Tôi cũng rất hãnh diện được tham dự vào cuộc HQ có
tính cách vô cùng quan trọng này, nhưng chúng tôi cũng có nhiều lo
âu suy-nghĩ.
Sự lo âu đây là lo âu chắc chắn là sẽ có tổn-thất lớn lao về
nhân-mạng. Mục tiêu là một vị trí trọng yếu được BTL/SĐ3 tổ chức
phòng thủ rất kiên-cố trước khi VC chiếm.
Tôi đã có dịp vào họp tại Cổ thành trước ngày 1-5-72. Xung quanh là
tường thành cao và có hào nước sâu bao bọc chung quanh.
Lực-lượng địch trong khu-vực lại hơn ta gấp 4 lần có ưu-thế về
Pháo-Binh tầm xa, 2 Trung-đoàn chiến-xa, nhiều đơn vị phòng không.
Chúng lại có một kho tiếp vận vũ-khí và đạn-dược ở Đông-Hà, hàng
ngày có nhiều tầu chở tiếp-liệu vào cảng Cửa-Việt để đưa chiến-cụ và
vũ-khí vào cho các đơn vị của chúng ở Quảng-Trị.
Bên ta có ưu-thế về Không-quân chiến-lược, chiến-thuật và Hải pháo.
Công tâm và trung thực mà nói thì cuộc tái chiếm Quảng Trị là một cuộc
chiến kinh-hoàng nhất và tổn-thất nhiều nhất cho cả 2 bên trong
chiến-tranh VN.
Cũng có một số người vì lý do này hay lý do kia không công-bằng khi
nói tới chiến thắng này. Quảng-Trị hàng ngày có mưa bom, mưa pháo
không ngừng nghỉ, địa-thế lúc nào cũng rung chuyển như là đang có
động đất.
Để đo lường được thế nào là cuộc chiến kinh-hoàng nhất thì phải dựa
theo sự tổn-thất. Sau 52 ngày kể từ ngày thay thế SĐ/ND (27-7-1972)
đến ngày hoàn-thành nhiệm-vu, đã có trên 3500 quân-nhân TQLC
hy-sinh, nhiều ngàn người bị thương.
Trong khi đó về phía quân-đội Bắc-Việt thì các SĐ 308, 304, 325 và
các Trung-Đoàn chiến-xa đã bị tổn-thất nặng nề; Riêng
hai Trung-đoàn Triệu Hải
phòng-thủ trong cổ-thành và Trung Đoàn 48 phòng thủ
trong Thị xã coi như bị xoá sổ: 5542 quân BV bị chết tại
trận, 83 bị bắt sống làm tù binh, vũ khí tịch thu được đủ loại chất
thành đống.
Tất cả 9 TĐ-TQLC đều trực-tiếp tham-chiến, được luân-phiên điều động
lên tuyến đầu (xem phóng đồ)
Giai đoạn 1 từ 27-7 đến 29-8
Phóng đồ hành quân của SĐ TQLC khi thay thế SĐ Nhảy Dù tại Quảng
Trị 27/7/1972
Giai đoạn 2 từ 29-8 đến 9-9
Phóng đồ hành quân của Lữ Đoàn 258 tại Quảng Trị từ 29/8 đến
9/9/1972
Giai đoạn 3 từ 9-9 đến 16-9-72
Phóng đồ hành quân từ ngày 9/9/1972 đến ngày 16/9/1972
Do đó TĐ3 và TĐ6 đã vào được cổ thành và cùng cắm cờ Vàng 3 sọc đỏ
lên tường thành ngày 15-9-1972. Nhưng lễ thượng kỳ chính thì được
tổ-chức vào hồi 12 giờ 45 ngày 16-9-72.
Tiểu Đoàn 6
TQLC
Tiểu Đoàn 3 TQLC
Theo Tôi nghĩ thì vì cũng không có nhiều thời giờ chuẩn bị nên Sư Ðoàn đã
chỉ định TÐ6 dựng cờ vì phái đoàn báo chí Ngoại quốc hiện có mặt ở
nơi đó gần với TÐ6 thuận tiện để họ chụp hình dựng cờ. Nếu mà ngày
hôm dựng cờ mà có được mỗi TÐ đề cử 1 người thì hợp tình hợp lý, vì
bên LÐ 258 một mình TÐ6 không thể nào vào được Cổ Thành Quảng Trị nếu
không có sự hỗ tương yểm trợ từ các TÐ 1, 2, 5 và 9 đã rất khó khăn
mới hoàn toàn kiểm soát được Thị xã.
Về phiá LÐ 147 thì Tiểu Ðoàn 7 và 8 cùng hợp lực với góp sức với TÐ3
tấn công vào Cổ Thảnh ở Phiá Ðông bắc.
Ba Tiểu Ðoàn Pháo Binh TQLC yểm trợ hoả lực rất hữu hiệu trong suốt
muà hè đỏ lửa, các đơn vị Yểm trợ khác như Thiết giáp và Thiết Quân
Vận tăng phái yểm trợ hỏa lực và tản thương. Còn 1 đơn vị mà nếu
không có sự cố gắng của họ thì chúng ta cũng bó tay, không có quân
số chiến đấu, tôi muốn nói đến những anh em đi tuyển mộ.
Tin SĐ/TQLC đã tái-chiếm Quảng-Trị được báo cáo về Saigon.
Tổng-Thống Nguyễn-Văn-Thiệu đã triệu-tập khẩn-cấp thành-phần
chính-phủ để gửi điện khen-ngợi đến Chuẩn-tướng Bùi-thế-Lân TL/TQLC
và toàn thể Sĩ-Quan HSQ và Binh sĩ TQLC đã lập chiến-công oanh-liệt
nhất trong cuộc chiến và cho biết sẽ ra thăm tất cả các anh em tại
Quảng-Trị.
Ngày 20 tháng 9 năm 1972, Tổng-Thống đã đến thị xã Quảng
Trị thăm TQLC, trong khi đại bác 130 ly của CSBV vẫn còn nổ vang.
Sau đây là thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khen ngợi nồng nhiệt
và khâm phục vô biên của Tổng Thống và Chính Phủ. Tôi trận trọng yêu cầu Đại Tướng chuyển đến Trung Tướng Tư Lệnh
Quân Đoàn 1, Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC cùng toàn thể đơn vị
và chiến sĩ TQLC đã đánh tan quân Cộng Sản xâm lược ra khỏi Thị Xã
và Cổ Thành Quảng Trị, lời ngợi khen nồng nhiệt nhất, đồng thời lòng
khâm phục vô biên của Tôi và toàn thể chánh phủ họp tại dinh Độc Lập
sáng hôm nay 16-9-72
Bốn ngày trước khi đúc kết chiến dịch 3 tháng thừa thắng xông lên
tái chiếm lãnh thổ và sau những tuần lễ đầy hy sinh gian khổ, toàn
thể các đơn vị thuộc mọi Quân binh chủng vùng địa đầu giới tuyến đã
ghi thêm những nét vàng son sáng chói vào Quân Sử hào hùng của Dân
Tộc
Mưu đồ của bọn Cộng Sản xâm lược muốn biến Quảng Trị thành một Bình
Long anh dũng, một Kontum kiêu hùng của chúng, đồng thời bám lấy một
địa danh tâm lý và chánh trị để lừa bịp dư luận đã bị toàn thể anh
em đánh tan ra mây khói.
Một lần nữa, Tôi nhiệt liệt khen ngợi toàn thể anh
em đã chiến thắng, Tôi kính cẩn nghiêng mình trước những chiến sĩ hy
sinh cho đại nghĩa dân tộc.
Và Tôi sẽ đến thăm anh em
Ký Tên
Tổng Thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Quân Đoàn 1 Quân Khu 1 gửi thư
điệp đến Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC ( Nguyên văn đính kèm ) Gửi Chuẩn Tướng
Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến
Tôi đã nhìn Quốc Kỳ tung bay trên nền trời Quảng Trị chỉ ít lâu sau
khi những bàn tay kiêu dũng của anh em kéo lên từ trong Cổ Thành hôm
16-9-72.
Tôi đã muốn thấy tại chỗ chiến thắng của anh em để ngay tại chiến
trường, tự cảm thấy hãnh diện được chỉ huy Sư Đoàn Thủy Quân Lục
Chiến trong một chiến dịch qui mô nhất của Quân Đội
Từ Bến Hải đến Cà Mâu, gót chân người chiến sĩ TQLC đã trải qua bao
nhiêu thử thách, gian khổ và chiến thắng. Nhưng phải nói rằng đây là
lần đầu tiên Sư Đoàn đã chiến đấu trong một hoàn cảnh đặc biệt, đối
đầu với nhiểu khó khăn nhất, với một kẻ thù đông gấp bội.
Vì thế chiến thắng Quảng Trị, đánh tan quân Địch, giải phóng thị xã,
là chiến thắng lớn nhất lẫy lừng nhất.
Đầu tháng 5 năm 72, khi Quảng Trị bị mất vào tay Địch, Sư Đoàn đã
trấn giữ được tuyến Mỹ Chánh và đã góp công đầu, cùng với các đơn vị
của Sư Đoàn Nhẩy Dù và Sư Đoàn 1 Bộ Binh trong nhiệm vụ giữ Huế.
Hàng trăm ngàn dân Trị Thiên đã phải di tản về Nam trước áp lực của
Địch, nhưng tại tuyến Mỹ Chánh anh em đã ngăn được sức tiến của quân
thù.
Những cuộc tấn kích hạn chế, sau đó đã được tổ chức trong vùng Hải
Lăng để dành lại thế chủ động và lũng đoạn các kế hoạch tiếp tục
tiến công của giặc. Sóng Thấn 5 ngày 13 tháng 5 tại Hải Lăng và Đa
Nghi. Sóng Thần 6 ngày 24 tháng 5 tại Mỹ Thủy, Sóng Thần 8 vượt
tuyến Mỹ Chánh ngày 8 tháng 6 đã đánh vào đầu Địch những đòn nặng,
tai hại cho kế hoạch tấn công của Địch, và đã chuẩn bị cho cuộc phản
công của quân ta ngày 28-6-1972 là ngày chiến dịch Lam Sơn 72 bắt
đầu.
Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù đã gây được một bất ngờ kỳ thú ngay
cho cả Địch quân cùng với các Quân binh chủng khác và với một tỷ lệ
quân số bạn Địch 1/4, anh em đã đẩy lui được Địch, tiêu diệt một
phần lớn tiềm năng chiến đấu của chúng
Và trận chiến gay go nhất đã khởi diễn từ 27-7-72 khi Sư Đoàn tiếp
nhận khu vực Thị xã Quảng Trị từ Sư Đoàn Nhẩy Dù. Chiến sĩ TQLC sau
51 ngày tiến chiếm từng tấc đất, từng ngôi nhà, đã dành lại được
toàn bộ Thị Xã Quảng Trị, diệt được trên 14 ngàn tên Địch, thu 4350
vũ khí, hủy hay thu 71 khẩu pháo, 73 chiến xa tính từ đầu tháng 5
năm 72 .
Giặc đã dùng lực lượng của 4 Sư Đoàn chủ lực để giữ Thị Xã Quảng
Trị, những Sư Đoản đã lừng danh với những chiến thắng ở Bắc, Trung
Việt và nhất là ở Điện Biên Phủ 308, 312, 325. Sư Đoàn TQLC đã đương
đầu với chúng, nhẫn nại hơn chúng, dũng cảm hơn chúng và đã chiến
thắng chúng, những “ anh hùng Điện Biên Phủ một thời “
Chiến thắng ấy đã được xây dựng với nhiều xương máu của chiến sĩ,
với sức chịu đựng vượt mức của anh em. Nhờ sự khéo léo và tài ba của
Chuẩn Tướng và các Sĩ Quan.
Tôi muốn qua thư này tỏ lòng khâm phục của Tôi đối với Sư Đoàn TQLC,
với những hy sinh vô bờ của anh em, và lập lại sự hãnh diện được chỉ
huy anh em trong một cuộc thử thách lớn nhất, trong một chiến dịch
quy mô nhất của Quân Đội
Tôi cũng yêu cầu Chuẩn Tướng chuyển lời khen ngợi của Tôi đến tất cả
Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ của Sư Đoàn
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
Tư Lệnh Quân Đoàn 1 Quân Khu 1
( Ký Tên )
Tôi được vinh dự đã lái xe đưa Tổng-Thống đến
thị xã đổ nát, có
Trung-Tướng Tư-Lệnh QĐ1 và Chuẩn-Tướng Tư-lệnh TQLC tháp-tùng. Trên
đường di chuyển, theo chương trình dự trù chạy qua nhà thờ La Vang,
lúc này hoàn toàn đổ nát, Tôi ngừng xe và Tổng Thống Thiệu xuống quỳ
gối cầu nguyện. Bức hình Tồng Thống Thiệu quỳ tại thánh đường La
Vang đã trở thành 1 poster lịch sử được phổ biến toàn quốc và cả thế
giới.
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đang cầu nguyện tại Vương Cung Thánh
Đường La Vang ngày 20 tháng 9 năm 1972
Nhân dịp viếng thăm này, Tổng-Thống đã ân thưởng Ðệ Tam Ðẳng Bảo Quốc
Huân Chương kèm theo Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu cho
Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, Ðại Tá Ngô Văn Ðịnh và Ðại Tá Nguyễn Năng
Bảo, Tổng Thống cũng ân-thưởng huy-chương và thăng-cấp cho nhiều
quân-nhân trong Sư-Ðoàn.
Sau cuộc chiến tái-chiếm Quảng-Trị, quân Bắc-Việt đã bị thiệt-hại
nặng.
Nếu LĐ/369/TQLC gồm TĐ2, TĐ5, TĐ9 và TĐ1 Pháo Binh TQLC đã không chặn được các lực-lượng quân BV ở Tuyến
Mỹ-Chánh thì có thể cuộc hành-quân tái chiếm Quảng-Trị đã không xẩy ra và chúng
có khả năng tiến thẳng đến Huế và Đà-Nẵng từ đầu tháng 5 /1972.
Những gì sẽ xẩy ra thì không thể lường trước được.
Nhờ chiến-thắng Quảng-Trị mà Miền Nam VN được an-bình thêm 3 năm.
Cựu Trung-Tá Gerald H. Turley là cố vấn TQLC rời Quảng Trị sau cùng trước
khi Quảng Trị lọt vào tay cộng quân vào ngày 1-5-72. Sau khi về Mỹ Ông được thăng cấp Ðại
Tá và đãm nhiệm chức phụ-tá Bộ-Trưởng Quốc-Phòng HK, ông đã viết
cuốn sách tựa dề là "The Easter Offensive". Trong
đó Ông hết lời
ca-tụng cấp chỉ-huy và quân-nhân TQLC các cấp đã chiến-đấu rất
anh-dũng, trong những điều-kiện gian-khổ khó-khăn đã đánh bại quân
xâm-lăng Bắc-Việt được trang bị tối tân. TQLC-VN chiến-đấu giỏi
không thua bất cứ binh-chủng TQLC nào trên thế-giới.
Ngoài ra, Tôi có đón đọc được bài viết sau đây của Giáo Sư Nguyễn
Ngọc Bích có liên quan tới Binh chủng TQLCVN. Ðọc bài này chúng ta
cũng hãnh diện là TQLCVN. Trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006, Trung Tâm Việt Nam ở
Ðại Học Texas Tech (Lubbock, TX) đã tổ chức một hội nghị chuyên đề
về “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Nhìn lại và tái thẩm định sau 30
năm” (“ARVN: Reflections and Reassessments After Thirty Years”).
Nhân dịp này, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đã được mời đọc bài diễn văn
quan trọng ở bữa ăn trưa (“luncheon keynote speech”) ngày đầu hội
nghị. Dựa vào nhiều tài liệu mới được tiết lộ gần đây, không trừ tài
liệu từ miền Bắc và các văn khố ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Ðốn và
Trung Cộng, bài diễn văn này đã trả lại được danh dự cho Quân Lực
Việt Nam Cộng Hoà và đem cuộc chiến lên một tầm nhìn mới. Trong bài
diễn văn Ông nói: " ngay cả khi Hoa kỳ bỏ cuộc như vậy, quân lực VNCH
vẫn tiếp tục chiến đấu anh dũng, đẩy lui được ba mũi dùi lớn của
quân Bắc Việt thọc vào miền Nam trong vụ Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. Thủy
quân lục chiến VN đã viết nên những trang sử oai hùng nhất trong
lịch sử quân sự ở VN khi vào Tháng 9 năm ấy, họ đổ xương máu ra để
chiến đấu lấy lại từng tấc đất một của tỉnh Quảng Trị (cuộc chiếm
lại Cổ Thành Quảng Trị phải xem là một trận Iwo Jima của VN)
Trận Quảng-Trị đã làm hao-tổn nhiều xương máu nhất trong Quân-sử
QLVNCH và Binh chủng TQLC VN. Riêng tôi, lúc nào cũng hãnh-diện đã
là một sĩ quan TQLC Việt Nam được tham dự trận tái chiếm Thị Xã và
Cổ thành Ðinh Công Tráng năm 1972. Tôi rất may mắn vẫn còn được mang
niềm hãnh diện Quảng Trị trong tuổi cao niên hiện nay. Không bao giờ
tôi quên được 3,500 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam đã hy sinh, nhiếu
ngàn người bị thương. Hầu hết còn rất trẻ.
Những gì mà chúng ta đang hưởng trên đất Mỹ, phần lớn là do những
hy-sinh của những anh-hùng vô-danh đó. Chúng ta có bổn-phận phải
tiếp tục chiến-đấu và phải làm tất cả những gì để cho thế-hệ con em
chúng ta biết về chiến-công oanh-liệt của TQLC tại Quảng-Trị ngày
16-9-72, một ngày phài được ghi vào Quân-sử của QLVNCH.
San Jose ngày 16 tháng 9 năm 2003 MX Ngô Văn Định
Hôm qua ồn ào thông tin mật mà tòe loe, kín mà hở, rằng Sài
Gòn sẽ bị lockdown (tạm dịch là phong tỏa). Lập tức có ngay những ông bà
quan cai trị (chắc bị đẩy làm người phát ngôn nhất thời) đứng ra tuyên
bố đó là tin đồn nhảm trên mạng xã hội. Với thể chế này, những thứ trên
mạng xã hội, và cả chính mạng xã hội nữa, đều rất chi bố lếu bố láo. Lại
nhớ từng có khá nhiều facebooker bị phạt, ít thì 2-3 triệu, nhiều thì
5-7 triệu đồng, về cái tội cầm đèn chạy trước ôtô.
Hôm nay 7 Tháng Bảy (song thất nhật), tin “đồn nhảm” đã thành sự
thật. Chính phủ, Bộ Y tế, chính quyền “Saigonpore” chính thức công bố từ
sau 0 giờ ngày 9 Tháng Bảy, tức nửa đêm mai, sẽ thực hiện chỉ thị 16
trên toàn thành phố, trong 15 ngày, rồi tùy tình hình sẽ tính tiếp. Gọi
Chỉ thị 16 cho văn vẻ thế thôi, chứ thực ra là phong tỏa, cách biệt,
ngăn cách, theo kiểu dân mạng là lockdown.
Tôi sống từ bé tới giờ ở thế chế này nên biết cái cách họ nói một
đằng làm một nẻo, nhưng cứ ngoan cố giấu diếm. Họ chỉ cốt giấu được tới
đâu hay tới đấy, nhưng họ không nghĩ rằng cách ấy cực kỳ tai hại, bởi
thiên hạ sẽ không tin vào bất cứ thứ gì họ nói nữa, hoặc họ nói gì thì
cứ phải hiểu ngược lại. Nhân vụ này, tôi kể lại chuyện họ mấy lần đổi
tiền, cũng cung cách đó, rất chi là… bản chất ngoan cố.
Đổi tiền 1978
Tháng Tư, 1978, tôi vào Sài Gòn đã tròn năm. Một năm ròng với biết
bao đổi thay khi chính thức bước vào đời. Hồi còn sinh viên, mọi thứ
thật đơn giản, trong trẻo, ngay cả sự vất vả, đói khổ, thiếu thốn cũng
được nhìn nhận rất nhẹ nhõm. Giờ thì thay đổi tận gốc. Chả khác gì cuộc
vật lộn với đời, lăn vào bãi bể nương dâu. Lúc này sống được đã khó,
chống chọi lại đủ thứ tai ách bủa vây lại càng khó hơn.
Đến khi tôi gõ những chữ này, thời gian đã trôi qua hơn 40 năm rồi,
nên trí nhớ về ngày tháng cứ chập chờn, nhớ nhớ quên quên. Người ta bảo
“cái gì không biết thì tra gu gồ”, nhưng tôi nhớ được đến đâu kể đến
đấy, kệ cụ gu gồ. Láng máng là sát cuối Tháng Tư 1978, một buổi tối, chú
Dương Cao Thăng, Chủ tịch Công đoàn Trường dự bị Đại học Tiền Giang
(91 Nguyễn Chí Thanh, phường 9, quận 5, TP.HCM) gọi đám anh em giáo viên
trẻ miền Bắc chúng tôi lại, bảo rằng sáng mai có mặt để làm theo sự
phân công của nhà trường. Cũng đoán được phần nào chuyện gì rồi bởi tin
đồn đổi tiền đã rộ lên từ mấy hôm.
Phường tôi ở là trọng điểm người Hoa tại Sài Gòn. Họ đang chộn rộn,
hoang mang lắm. Suốt mấy tối liền, tivi ra rả lên tiếng kêu gọi người
dân cần tỉnh táo, nêu cao cảnh giác, tin đổi tiền là đồn nhảm, do bọn
phản động chống phá cách mạng, do bọn bành trướng Bắc Kinh xúi giục, bà
con đừng có tin… Hết lãnh đạo phường, đến quận, đến thành phố lên tivi
trấn an dân chúng, vẫn điệp khúc hãy tin chính quyền, đừng mắc mưu kẻ
địch. Đám công chức, giáo viên chúng tôi thực ra chả quan tâm lắm bởi
làm gì có tiền mà đổi. Lương tháng 64 đồng, không có thêm bất cứ phụ cấp
hoặc thu nhập gì, còn gọi lương ba cọc ba đồng, vào đúng thời điểm đói
rách, ăn độn, thiếu thực phẩm, đói vàng cả mắt nên có đồng nào chén sạch
đồng ấy, lấy đâu tiền dành dụm mà đổi. Tuy vậy, cả đêm khó ngủ, chờ đến
sáng hôm sau. Mới tờ mờ sáng ngày 3 Tháng Năm, khác hẳn mọi hôm, loa
phường đã oang oang, thông báo lệnh đổi tiền. Nội dung cho biết đổi ở
đâu, mỗi người được đổi bao nhiêu, mỗi hộ bao nhiêu…
Tiền
mệnh giá 30 đồng, đồng tiền lạ không giống ai duy nhất trên thế giới,
chỉ người cộng sản An Nam mới nghĩ ra được! (chú thích của tác giả)
Số cán bộ, giáo viên trường tôi được đổi tại trụ sở Ủy ban phường 9
trên đường Nguyễn Tri Phương, đối diện Trường cấp III Trần Khai Nguyên.
Chú Thăng dặn dò, nhớ nhé, mỗi người được đổi 100 đồng, một hộ gia đình
được đổi 200, nếu nhà đông người được tối đa 500 đồng. Ai hoặc gia đình
nào có nhiều tiền hơn số quy định phải làm bản khai cụ thể, tiền đó ở
đâu ra, rồi số tiền ấy sẽ được gửi vào Ngân hàng Nhà nước, sau này xác
minh là tiền chính đáng thì rút ra dần, còn không rõ ràng sẽ bị tịch
thu.
Đó là ở thành phố, chứ vùng nông thôn, như Tiền Giang chẳng hạn, mấy
thầy cô cùng trường tôi cắm trụ dưới Cơ sở II than trời, bởi cá nhân chỉ
được đổi 50 đồng, hộ gia đình 100 đồng, hộ đông người tối đa 300 đồng.
Nhà tôi quê ngoài Hải Phòng cũng vậy, bu tôi chịu khó buôn bán, tiết
kiệm dành dụm, ăn chả dám ăn, tiêu chả dám tiêu, đổi có 300 đồng nên bị
mất ối tiền, nhưng bu tôi giấu không cho cả nhà biết, sợ bị… mắng.
Tôi vét voi mãi chỉ còn chưa đầy hai chục, chẳng vội vàng gì. Lão Vy
(Nguyễn Văn Vy đồng nghiệp, đồng hương, đồng môn của tôi) cũng chẳng khá
hơn, hình như có 21 hay 22 đồng. Độc thân cần quái gì dành dụm. Tay học
sinh bộ đội đi học chơi thân với chúng tôi, Đào Gia Thiệp người Thủy
Nguyên, có những hơn bốn chục. Cả đám cười như nghé. Đang dập dờn định
kéo nhau ra Ủy ban phường thì chị em cái Thu người Hoa bán tạp hóa-cà
phê ở dưới phố hớt hơ hớt hải chạy lên kiếm. Tôi hay trò chuyện với Thu
nên nó cũng mến tôi. Nó bảo anh ơi, nếu các anh chưa đủ suất thì đổi
giúp em với. Ba đứa chúng tôi nhận lời, cái Thu đếm tiền đưa 200 đồng,
cứ cảm ơn rối rít, rồi chạy vụt về, có lẽ đi tìm tiếp người khác nhờ
đổi. Nhà nó buôn bán nên có tiền.
Ngoài Ủy ban phường không khác cái chợ vỡ. Mặc cho công an phường và
dân phòng vòng trong vòng ngoài, dân chúng cứ rên rỉ, la hét, than thở,
chửi bới, năn nỉ, thôi thì đủ kiểu. Một ông sồn sồn nhìn là biết ngay
người Hoa, lớn tiếng, giọng lơ lớ, tỉu hà ma chúng bay, chúng bay là
quân lừa đảo, quân ăn cướp, cướp không mồ hôi nước mắt của chúng ông.
Mấy cậu thanh niên cờ đỏ đến nói gì đó, ông nhổ phì một phát, bỏ đi
không thèm nói thêm một lời.
Thực ra chỉ có bọn người nhà nước chúng tôi và dân lương thiện ngây
thơ tin vào tuyên truyền của nhà nước thôi, chứ đám có tiền thì họ đã
ngóng đón trước rồi. Tôi nghe kể hôm qua có gia đình người Hoa ở chợ An
Đông còn mua cả cần xé vé số để nếu hôm sau xổ số mà trúng sẽ có tiền
hợp pháp. Chú Thăng bảo rằng đổi tiền thế này về hình thức chỉ nhằm đánh
vào bọn tư sản thôi, chứ công nhân viên chức ba cọc ba đồng đâu có ảnh
hưởng gì. Rồi ông nói nhỏ, cũng là một dạng ăn cướp, ăn cướp hợp pháp.
Đau nhất là cướp chính của dân. Còn tôi thì hiểu rằng từ sau vụ này khó
mà tin được người nhà nước, tin vào mấy ông lãnh đạo, tin vào đài báo,
tivi nữa. Mới hôm trước khăng khăng rằng không đổi tiền, hôm sau tráo
trở nuốt lời làm ngược lại.
Xã hội sau vụ đổi tiền chả khác gì trải qua cơn bão, đầy bi kịch. Mấy
hôm sau, nghe người ta kể lại có những người bị mất của, sạt nghiệp do
đổi tiền đã thắt cổ hoặc nhảy cầu tự tử. Cộng đồng người Hoa bị đánh đòn
kinh tế nốc ao này càng thêm chán ngán, họ rục rịch chuẩn bị kéo nhau
về Hong Kong hoặc Trung Quốc. Số người vượt biên ngày càng tăng nhanh.
Trường tôi cũng có mấy thầy cô ra đi, trong đó có thầy Đái Phụng Thời,
dạy toán, Phó bí thư Đoàn trường, bạn tôi. Số tiền mà chị em Thu nhờ
đổi, chúng tôi lĩnh xong đưa trả lại không thiếu đồng nào. Một thời gian
sau chị em Thu cũng vượt biên. Cả đứa học trò tôi là Trịnh Hảo Tố Như,
người Hoa, nhà số 41 Nguyễn Chí Thanh, ngay sát ký túc xá 43 Nguyễn Chí
Thanh tôi ở, cũng cùng gia đình lặng lẽ đi trong đêm, sáng hôm sau khi
tôi xuống phố mới biết.
Cuộc đổi tiền năm 1978 đã gây ra bao nhiêu bi kịch, tang thương. Kẻ
cai trị mới đã lộ rõ bản chất ăn cướp, mà đối tượng không ai khác chính
là nhân dân. Kinh tế chẳng những không khá hơn mà ngày càng lụn bại. Và
càng bi kịch hơn nữa, sau đổi tiền có vài tháng, đồng tiền lại mất giá
nhanh vùn vụt, gần như chẳng còn bao nhiêu giá trị. Thày Vy đùa bảo
không khác gì tờ giấy lộn, còn tệ hơn cả khi chưa đổi.
Cuộc đánh úp tàn bạo năm 1985
Như đã kể, trải qua cuộc đổi-cướp tiền Tháng Năm 1978, tôi đã biết
sức mạnh của tiền và sự cay đắng mà đồng tiền đem lại. Nhưng phải nói,
đến lần đổi tiền thứ tư, vào Tháng Chín 1985, và cũng là lần cuối cho
đến tận bây giờ, tôi mới thực hiểu con người bị khốn khổ bởi đồng tiền
như thế nào. Và cần làm rõ thêm, bản thân tiền bạc chả có tội gì, nó chỉ
gây nên đau khổ khi nó được điều hành, chi phối bởi những thế lực cầm
quyền ghê gớm, tàn bạo.
Suốt mấy năm trời, sự nghèo đói mò đến tận chân giường. Những nhà
trước kia khá giả một chút giờ cũng bắt đầu lôi đồ đạc, vật dụng sinh
hoạt ra bán dần. Sau cuộc chạy loạn “nạn kiều” của người Hoa năm
1978-1979 thì có lẽ cuộc chạy ăn của dân chúng, công chức, nhân viên nhà
nước trước năm 1985 gây sôi động Sài Gòn nhất. Mặt mũi ai cũng vêu vao,
má hóp lại, da nhăn nheo đen sạm. Thương nhất mấy cô giáo, gầy còm,
xanh xao vẫn phải đứng lớp ròng rã. Thầy Võ Thanh Long dạy lý – một
trong những thầy giáo cự phách của Trường DBĐH, cũng như các thầy Trần
Mạnh Hảo (toán), Cung Bỉnh Duyệt (lý), Nguyễn Cương (hóa), Nguyễn Văn Vy
(văn), Phương Văn Dần (Nga)… cười méo xẹo – nói rằng giờ là lúc “thầy
giáo tháo giầy”. Chưa bao giờ câu nói đùa ấy đúng cay đắng chua chát như
lúc này. Thầy Hảo thì bảo cứ nói “giáo chức – dứt cháo”, cũng đúng quá
đi mất.
Xung quanh chợ An Đông (quận 5) gần trường tôi hình thành mấy lề
đường chợ trời, người ta đem đủ thứ ra đó bán, từ cái tủ lạnh, tivi vốn
rất hiếm lúc bấy giờ, đến cái thìa chiếc muỗng bằng inox, thậm chí cả
cái dây kéo fermeture cũ dùng rồi cũng tháo khỏi quần áo cũ bày ra bán.
Miễn thứ nào có người mua là bán thì mới có tiền mua gạo mua cá cho khỏi
chết đói. Hồi người Hoa chạy, tôi còn lang thang lề đường kiếm tìm
những thứ đồ rẻ, mấy con dao ăn, bức tranh khắc gỗ (giờ vẫn còn) nhưng
đến kỳ này thì tiền cũng chả có để mua.
Đồng
tiền mệnh giá 10 đồng này (mệnh giá cao nhất trước năm 1978)được
dân gian âu yếm đặt tên là “cụ mượt” (chú thích của tác giả)
Đồng lương vẫn thế nhưng tiền mất giá kinh khủng, vừa lĩnh ở phòng
tài vụ xong, ra đến cửa là đã có thể vơi đi cả nửa do trả nợ. Bóp mồm
bóp miệng lắm cũng chỉ kéo được hơn hai chục ngày với số tiền còm ấy.
Vài năm trước, lương còn đủ mua được chục ký gạo, hằng ngày nhặt nhạnh
mớ rau, con cá vụn…, còn giờ tan trường là cúi mặt vội về, không dám la
cà ngoài chợ nữa. Thằng con đầu lòng tôi, sinh Tháng Năm 1984 tính toàn
bộ tuổi nhũ nhi của nó chỉ được uống đúng một hộp sữa Meiji hơn 400gr
khi nó bị ỉa chảy. Hôm chạy xe đạp tới đường Nguyễn Thông quận 3 mua hộp
sữa ấy, tôi hiểu rằng mình sẽ phải nhịn ăn trong nhiều ngày tới.
Lạ ở chỗ, đến năm 1984-1985 đồng tiền không những mất giá khủng khiếp
mà cũng rất hiếm. Trường tôi tháng nào cũng nợ lương giáo viên, nghe
đâu phòng tài vụ của anh Trần Văn Thông (trùng tên với tôi, khác họ) bảo
rằng nhà nước không có tiền (chẳng bù bây giờ, cứ thiếu tiền là in, kệ
cụ lạm phát). Mấy đứa em họ tôi làm công nhân cũng than xí nghiệp không
có tiền. Sao người ta xì xào nhà nước in tiền liên tục, nhờ Tiệp Khắc in
nhiều lắm. Vậy thì tiền nó chạy đi đâu? Hàng hóa khan hiếm, tiền mất
giá và thiếu hụt, cuộc sống đi xuống từng ngày, tất cả in khắc vào gương
mặt. Vợ tôi đang thất nghiệp, ở nhà chăm cu con đầu lòng, mỗi lần thấy
chồng thất thểu từ trường về, chán chả hỏi gì nữa, bởi có hỏi cũng vẫn
những câu trả lời cũ kỹ vô hồn. Quả thật, mình đang sống mà có cảm giác
tất cả đều rất cũ, như sống thời xửa thời xưa kiếp trước chứ không phải
bây giờ, sống hộ ai đó chứ không phải cho chính mình.
Nhìn những khuôn mặt xanh xao, xám xịt, quắt queo, gò má nhô ra của
người thân, của đồng nghiệp, bạn bè, tôi tự hỏi chả biết dòng đời còn
trôi chảy đến đâu nữa. Đành phó mặc dòng đời mà sống thôi.
Từ nửa cuối Tháng Tám 1985 đã râm ran tin đồn đổi tiền. Ông bạn tôi,
thầy giáo Nguyễn Văn Vy, người huyện Thủy Nguyên, học trước tôi một
khóa, vào Sài Gòn dạy trước tôi một năm, là người vốn rất hiền lành
chuẩn mực, vậy mà cáu tiết “đổi đéo gì đổi lắm thế”, cứ như thể cuộc đổi
tiền ghê rợn lần trước, năm 1978, mới vừa xảy ra vậy. Có nhẽ sự ám ảnh
ấy nó đeo đẳng, kéo dài, đau đớn quá, khó có thể quên. Cứ qua mỗi ngày,
tin đồn lại càng rộ càng đậm.
Đám đàn ông người Hoa cởi trần hoặc áo may ô ba lỗ tuổi sồn sồn sáng
nào cũng ngồi cà phê chỗ góc vườn hoa ven đường An Dương Vương gần nhà
thờ Thánh Jeanne D’Arc, quận 5 bàn gì bí mật lắm. Thầy Cung Bỉnh Duyệt
bảo đó là những xì thẩu, họ quyết định về kinh tế lên hay xuống của Sài
Gòn. Cứ xong cữ cà phê sáng của họ thì lại có “đường lối” kinh tế cụ thể
cho ngày ấy. Giá vàng, giá trị đồng tiền, gạo nước, vải vóc, tôm cá lên
xuống ra sao đều được quyết định từ cái góc xộc xệch nhếch nhác này.
Thầy Duyệt cười, đổi tiền hay không, cứ ra đó là có thể biết. Đám ấy
không quyết định việc đổi tiền nhưng nó biết chắc chắn có đổi tiền hay
không. Nó không bị mắc mưu bị đánh úp như hồi năm 1978 nữa.
Mỗi lần nhà nước đổi tiền là mỗi lần đồn đoán, lo sợ, giải thích,
phân trần, trấn an. Lần này 1985 cũng vậy. Truyền thông nhà nước đưa một
số vị lãnh đạo có tên tuổi lên tivi, lên đài phát thanh khuyên nhân dân
hãy tin tưởng vào đảng và nhà nước, đừng mắc mưu bọn bóc lột, bọn chống
phá cách mạng, bọn bành trướng Bắc Kinh. Nhưng dân thì đã rút ra được
kinh nghiệm xương máu, cứ bao giờ có ông to bà nhớn nào lên kêu gọi dụ
dỗ thì chỉ vài ba ngày sau là đổi tiền. Đến giữa Tháng Chín, tôi nhớ
láng máng ngày 13 hay 14 Tháng Chín chi đó, thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn
Năm khi họp ban giám hiệu với các tổ trưởng bộ môn đã xì ra thông tin sẽ
có đổi tiền, thầy bảo nghe thì biết vậy, đừng nói lung tung. Trò đời,
với những thứ quốc cấm ấy thì giấu làm sao được. Tôi chỉ về hé với thầy
Vy, bởi tôi cũng chẳng biết liệu có đổi hay không. Thầy Vy nói, tao với
mày, cũng như đám đánh Mỹ quá đà tụi mình, có mấy đồng bạc ranh, đổi hay
không đổi sợ chó gì…
Ngày 14.9, ông anh trai tôi đang là trưởng phòng ngoài Sở Tư pháp Đà
Nẵng vào công tác. Anh có nhiệm vụ giữ tiền ăn, tiền sinh hoạt cho cả
đoàn cán bộ của sở. Tôi kể chuyện có tin đồn đổi tiền, anh Uy tôi bảo
nếu đổi thì đổi chứ có sao. Đến chiều cùng ngày, lại ông em họ bên vợ
tôi từ An Giang lên Sài Gòn, ôm một đống tiền lên mua đinh, mua sắt
thép, nhà nó có sạp hàng ở chợ Mỹ Luông, thị trấn huyện Chợ Mới. Người
thứ ba nghe tôi bật mí chuyện đổi tiền là nó. Nó, cậu Tư Trung lo lắng
bảo chỉ mong sao mai em mua hàng, trả hết tiền hàng xong, về đến quê thì
hãy đổi. Cả nhà tôi, cả ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh nơi tôi ở,
sống trong tâm tạng hồi hộp, phấp phỏng lo sợ, cứ như chuẩn bị đón cơn
bão lớn.
Cũng như lần trước, nhà nước đánh úp dân. Đổi tiền chỉ
có dân chết bởi dân luôn sẵn lòng tin vào nhà nước. Đám xì thẩu người
Hoa lần này bình chân như vại. Sáng sớm 15.9, loa phát lệnh, giống như
thiết quân luật, ai ở đâu ở yên đó để nghe nhà chức trách thông báo.
Việc đổi tiền sẽ chính thức tiến hành từ 6 giờ sáng 15.9. Loa nói rằng
nhà nước đang tiến hành cải cách kinh tế để đưa nền kinh tế đất nước
tiến lên vững chắc theo con đường xã hội chủ nghĩa, cụ thể sẽ làm cuộc
cách mạng về giá – lương – tiền. Đổi tiền để đảm bảo giá trị của đồng
tiền ngân hàng nhà nước, giá cả sinh hoạt, giá trị đồng lương. Lần này
đảng và nhà nước sẽ kéo đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng, đẩy lùi những
khó khăn, thiếu thốn. Đồng bào hãy tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng
và nhà nước. Hãy thực hiện đổi tiền trong trật tự, theo đúng quy định…
Theo đúng quy định, nghĩa là kỳ này 1 đồng tiền mới ăn 10 đồng tiền cũ,
mỗi cá nhân chỉ được đổi 100 đồng mới (tôi nhớ đồng tiền này màu nâu).
Hộ có 3 người như gia đình tôi được đổi tối đa 250 đồng, hộ đông người
như nhà chú Thăng được đổi tối đa 500 đồng. Để có được 250 đồng mới, tức
là nhà tôi phải có 2.500 đồng, gớm, có mà ăn cướp ngân hàng cũng chả
kiếm đâu ra số tiền lớn như thế. Chỉ có điều, lần này chị em cái Thu
dưới phố cũng không thấy lên nhờ, mà có nhờ tôi cũng chẳng dám nhận bởi
còn bọc tiền quỹ mà ông anh đang giữ, lỡ có bề nào anh ấy nhờ thì mình
phải giúp. Và nhất là tiền mua đinh mua sắt của cậu Tư Trung, phải giúp
nó, chứ không thì gay.
Ngoài điểm đổi tiền, cũng vẫn chỗ cũ, trụ
sở UBND phường 9, quận 5 trên đường Nguyễn Tri Phương, tiếng loa ra rả
thông báo cuộc đổi tiền bắt đầu từ 6 giờ sáng, kê khai đến 12 giờ trưa,
lượng tiền được đổi… Ghê nhất là 1 ăn 10, và chỉ được đổi tối đa lấy 100
đồng tiền mới, có bao nhiêu cũng mặc lòng. 100 đồng ấy cho nhận ngay.
Số còn lại, sẽ căn theo bản kê khai, nếu xét thấy hợp lý thì về sau sẽ
trả tiếp, còn không thì tịch thu. Phải nói, đó là cuộc ăn cướp có bài
bản, được nhà nước và pháp luật bảo trợ. Đang có 10 đồng, tự dưng chỉ
còn 1 đồng, mất tiêu 9 đồng, dù nhà nước khuyến cáo rằng 1 đồng mới có
giá trị bằng 10 đồng cũ nhưng thị trường đâu có chấp nhận sự duy ý chí
ấy. Thực tế cho thấy chỉ khoảng vài tháng sau (tôi nói vài tháng là hơi
nhiều), đồng tiền mất giá xuống nhanh như tên bắn, lại gần trở về mốc
lạm phát cũ. Vài tháng đầu sau đổi tiền còn có hiện tượng hiếm tiền lẻ,
đi ăn bát phở bình dân, đi cúp cái tóc, đưa tờ 50 màu xanh hoặc tờ 100
màu nâu ra, người ta lắc đầu quầy quậy bởi không có tiền thối (trả lại),
có khi phải nhịn đói mà về. Hồi đó người ta ưu tiên cho 2 đối tượng
“tiền lẻ, thẻ thương binh”. Tuy nhiên, chỉ vài tháng, đồng tiền mệnh giá
100 đồng còn giá trị phân nửa, và cứ xuống đến tận đáy trong một nền
kinh tế èo uột, khan hiếm hàng hóa, vốn là thứ để bảo đảm giá trị đồng
tiền.
Ông anh tôi đeo cái túi đựng tiền của cơ quan ra điểm đổi
tiền, xếp hàng giữa muôn trùng người chen lấn, mồ hôi đầm đìa. Cậu Tư
Trung em vợ tôi cũng vậy. Tôi đứng ngoài nhìn vào mà chịu, chả làm sao
giúp được. Hai vị ấy đến gần 12 giờ mới kê khai xong, nhà chức việc hẹn
ngày mai ra giải quyết tiếp. Về đến nhà, ông nào ông nấy khướt như cò
bợ, chán nản mệt mỏi chả muốn ăn uống gì. Ông Uy còn phát hiện chiếc túi
xà cột đựng tiền đem từ Liên Xô về bị rạch một đường rõ dài, sắc lẻm.
May mà nó có nhiều lớp, tiền để phía trong nên không mất đồng nào.
Đổi tiền, về nguyên lý, là để cứu nền kinh tế khi đồng tiền bị mất giá,
lạm phát quá cao (ngoài trường hợp thay đổi chế độ thì dĩ nhiên đồng
tiền phải đổi) nhưng thực chất chỉ đánh vào người dân, người làm ăn chân
chính. Nó là cuộc cướp bóc trắng trợn, nhưng cũng đầy thủ đoạn, không
cần biết gì đến thiệt hại của dân chúng. Nhiều người, nhất là người về
hưu, người già, dành dụm hoặc được con cháu cho ít tiền, đem gửi tiết
kiệm lấy tiền lãi sống qua ngày, đến khi đổi tiền bị mất gần hết, 10
đồng chỉ còn 1, rồi tiền mất giá thì coi như mất hết. Sau cuộc đổi tiền
1985, hàng triệu người bị rơi vào bi kịch tán gia bại sản ấy. Người ta
hay kể với nhau chuyện ai đó bán con bò, đem tiền gửi tiết kiệm, tiền
mất giá, sau đổi tiền chỉ còn mua được vài ký thịt. Cười ra nước mắt.
Sau này, người ta cứ đổ qua đổ lại thất bại của chính sách giá – lương –
tiền, của cuộc đổi tiền năm 1985 tối tăm trời đất cho ông Tố Hữu, nhà
thơ làm kinh tế. Đành là ông Tố Hữu cũng có trách nhiệm bởi ông ấy làm
Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng (tức Phó thủ tướng thứ nhất)
chuyên trách về kinh tế, nhưng trút hết rác rưởi vào ông nhà thơ là
hành vi tầm thường, tiểu nhân. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thủ tướng)
khi đó là ông Phạm Văn Đồng, Tổng bí thư là ông Lê Duẩn, rồi còn đám ông
Đỗ Mười, Phạm Hùng, Trường Chinh, bao nhiêu ông thét ra lửa, cuối cùng
chạy tội, né tránh cả. Đến đại hội 6 vào tháng 12.1986, ông Tố Hữu bị
văng ra, và người ta xoa tay coi như đã làm hả hê lòng dân chúng khi trị
tội một kẻ đã đẩy nền kinh tế của đất nước, cuộc sống của mấy chục
triệu người đến bờ vực thẳm. Cũng chỉ là trò Tào Tháo mượn đầu quan coi
lương Vương Hậu để yên lòng quân sĩ thời Tam Quốc mà thôi.
Những
kẻ tham quyền cố vị, dốt nát, chỉ cốt bảo toàn đường lối chính trị, khi
chúng làm kinh tế, ắt chúng sẽ phá nát nền kinh tế. Một xã hội mà cứ đổi
tiền xoành xoạch, đủ biết tài cán làm kinh tế của những kẻ cai trị đến
mức nào. Đồng tiền thấm bao nhiêu mồ hôi, nước mắt con người, in dấu số
phận con người, trong tay những kẻ ấy, cũng chả khác chi tờ giấy lộn.
Cho nên, cứ nhớ đến chuyện đổi tiền lại rùng mình khiếp đảm.
Khi còn ngồi ở ghế
trường đại học, chúng tôi được các thầy cô (nhất là các thầy cô dạy lịch
sử đảng ta, Nhà nước ta) dạy: Chỉ có sử học dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa mới có cái nhìn khách quan trung thực mà thôi. Sử học phong kiến,
tư bản chỉ phục vụ lợi ích cho giai cấp cầm quyền của họ cho nên không
khách quan.
Nói
đến sử học là nói đến khách quan, trung thực. Vậy sử học dưới chế độ
cộng sản Việt Nam hiện nay có khách quan và trung thực không?
Dịp
ngày 30/4/2021 vừa qua, công chúng được xem bộ phim tài liệu điều tra
“Chuyện trưa 30/4/1975” với thời lượng 1 giờ 12 phút do một nhóm văn
nghệ sĩ của “ta” (Phạm Việt Tùng- Đạo diễn, Nghệ sĩ ưu tú; Trần Đăng
Khoa- Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Trần Thu Hằng- Cựu Tổng biên
tập Báo Phụ nữ Thủ đô; Minh Đức- Cựu Phóng viên VOV; Nguyễn Thu Hà-
Chuyên viên Bảo tàng HCM; Chu Thùy Trang- Phóng viên VTC) thực hiện [1].
Sau khi bộ phim tài liệu được công chiếu, Trần Văn có bài viết “Sự thật là xa xỉ phẩm mà ‘ta’ không muốn sắm!” đăng trên trang web Báo Tiếng Dân có đoạn viết: “Hệ
thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam tiếp tục ngậm tăm cho
dù đồng chí, đồng bào tiếp tục hối thúc chính thức trả lại sự thật cho
lịch sử đối với hai sự kiện: xe tăng mang số hiệu 390 chứ không phải xe
tăng mang số hiệu 843 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975; Ông Bùi
Văn Tùng chứ không phải ông Phạm Xuân Thệ soạn Tuyên bố đầu hàng để ông
Dương Văn Minh- Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa- đọc trên Đài
Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4/1975”[2].
Ông Nguyễn Đình Cống đã nêu quan điểm của ông về vấn đề tranh cãi này:
“Không biết vì kém trí tuệ hay vì một âm mưu nào khác mà người ta để
cho cuộc tranh cãi kéo dài, nếu việc đó vào tay tôi chỉ cần khoảng một
giờ, tôi giải quyết xong, êm thấm trả sự thật về cho lịch sử”[3].
Lý
do tại sao gần nửa thế kỷ trôi qua với những chứng cứ lịch sử rõ ràng
mà đảng ta, Nhà nước ta chưa “trả sự thật về cho lịch sử”?
Giáo sư Hà Văn Tấn nhận định về lịch sử của ta: “Lịch
sử là khách quan, sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập
ngoài ý thức của chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan
và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau” và “Các nhà sử
học chúng ta thường coi là mác xít, nhưng bệnh thiên lệch cường điệu một
cách phiến diện một mặt nào đó, lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm.
Cũng chính vì vậy nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua."[4]
Ông Dương Trung Quốc nhận xét về Sử học ở Việt Nam: “Cái
thách đố là tính hấp dẫn của nó. Tính hấp dẫn theo tôi là phải gắn với
hai thuộc tính quan trọng của lịch sử đó là tính trung thực và sự công
bằng. Rõ ràng sử học Việt Nam trong thời gian rất dài nó phục vụ chính
trị. Cái nhiệm vụ chính trị tôi cho là không sai nhưng nó đã xơ cứng
rồi, nó làm cho chương trình không tạo nên sự hấp dẫn cho bọn trẻ”[5]
Nhà văn Nguyên Ngọc có cái nhìn:
“Học chính trị là quá cần thiết chứ và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng
sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn nên
lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái
kia. Cũng không phải làm “thống soái” để cho tất cả những cái khác phải
châu đầu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể
thay thế của nó để làm nên con người ra người.
“Nói
trắng ra, hiện nay người ta chán ghét học văn, học sử là vì dạy văn thì
có thật sự dạy văn đâu, mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy
chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác”[6]
Không được chính trị hóa sử học. PGS.TS. Phạm Quốc Sử nhận định: “Lịch
sử thì khách quan, nhưng sử học và dạy học lịch sử thì không phải như
vậy. Trong sử học nguyên tắc tối thượng là tôn trọng sự thật, nhưng điều
này thường bị vi phạm, bởi nó buộc sử học phải quỳ gối phục vụ cho mục
đích chính trị mà có trường hợp dẫn đến xuyên tạc sự thật”
PGS.TS. Phạm Quốc Sử gọi sử học Việt Nam hiện nay là “sử học quốc doanh”, “sử học nhà nước’: “Sử
học vinh quang thật nhưng lại rất dễ phạm phải những căn bệnh nặng,
những lỗi không nhỏ. Tiếc thay sử học nước ta đã không tránh được một
thứ “sử học nhà nước”, “sử học quốc doanh” (phân biệt với sử học chân
chính) đang ngự trị”
PGS.TS.Phạm Quốc Sử cho rằng sử học và dạy học lịch sử ở Việt Nam đã bị tiêm chủng “vắc xin”: “Có
người bảo ngành sử học các ông hoàn toàn chạy theo chính trị. Chủ yếu
ca ngợi và lặp đi lặp lại nên rất nhàm. Điều này đúng nhưng chưa đủ.
Đúng bởi lẽ sách vở nhiều nhưng chất lượng sử học rất thấp. Song, thử
hỏi, nếu anh bị buộc phải tiêm “vắc xin” anh có chống lại được không?”và
“Từ rất sớm, sử học và dạy học lịch sử nước ta đã được tiêm những liều
“vắc xin” khá nặng, khiến cho đối tượng bị tê cứng, hết sinh khí”[7].
Nhà giáo Hà Văn Thịnh trả lời với bà Mạc Việt Hồng: “Tôi
nói thật với chị, lịch sử Việt Nam hiện đại chỉ có 30% sự thật, 70% giả
dối. Đó là điều rất đau lòng. Ví dụ đánh nhau 30 năm với Pháp, Mỹ mà
Việt Nam không thua trận nào là không thể chấp nhận được”[8]
Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định việc dạy và học lịch sử hiện nay bị bóp méo: “Người
ta đã biến một bộ môn khoa học trở thành một bộ môn chính trị để tuyên
truyền, để minh họa cho đường lối chính sách của nhà nước chứ không phải
cho một ngành khoa học. Vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay đã bị bóp
méo. Nó được xây dựng trên một nền tảng khoa học. Chính vì vậy nên thầy
không muốn dạy mà trò thì không muốn học”[9].
Nhiều nhà giáo dạy môn lịch sử khi về hưu đã nói: Chúng tôi dạy theo sách! (sách ghi sao dạy y như vậy không cần biết đúng sai).
Trên
đây là những phát ngôn nhận định về thực trạng nền sử học Việt Nam hiện
nay của những người được giáo dục đào tạo trong môi trường xã hội chủ
nghĩa, chứ không phải của những người được các thế lực thù địch nuôi
dưỡng và đào tạo!
Bên dưới bài viết “Sự
thật là xa xỉ phẩm mà ‘ta’ không muốn sắm” đăng trên
facebook.com/tiengdanbao có bình luận của độc giả Duy Hung Tran: “Không
tôn trọng lịch sử từ những việc bình thường đến những sự kiện trọng đại
thì hậu quả là lòng tin bị mất. Từ sự kiện Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé rồi
sự kiện xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập 30-4-1975 và viết bài cho
Dương Văn Minh đầu hàng đọc trên đài Sài Gòn…đã gieo vào lòng người sự
khó tin khác. Gorbachev nói đúng”.
Bình luận của độc giả Nguyễn Khuông đăng bên dưới bài viết “Nếu vào tay tôi” trên facebook.com/tiengdanbao: “Sự
thật thì chỉ có một, nói dối, giả dối thì vô cùng. Kể cũng lạ, sự thật
sờ sờ như thế mà hàng chục năm nay cùng hàng lố, hàng lốc cơ quan thanh
tra nhà nước, quân đội…mà vẫn chưa có kết luận cuối cùng?! Không lẽ Phạm
Xuân Thệ mang hàm Trung tướng cùng danh hiệu AHLLVT nên không dám làm
‘mất thể diện’???”
Kinh Thánh viết: “Ai trung tín trong việc nhỏ, sẽ trung tín trong việc lớn. Ai gian dối trong việc nhỏ, sẽ gian dối trong việc lớn”.
Ông bà ta nói: “Một sự thất tín vạn sự không tin”.
[4]
– Gs. Hà Văn Tấn, Lịch sử, sự thật và sử học(đăng trên Tạp chí Tổ quốc
vào tháng giêng năm 1988. Được in lại trong tác phẩm: Một số vấn đề lý
luận sử học, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2007)
[5] – Bài viết : Học sinh Việt Nam quá kém môn sử. Vì đâu? Của T/g Mặc Lâm
(VNTB) – Ông Hương đã thực hiện lời hứa, từ chối
lời mời di tản của người Mỹ và người Pháp, từ chối nhận “quyền công
dân” dưới thể chế cộng sản, mất đi trong nghèo túng và bệnh hoạn.
Trong buổi lễ nhậm chức Tổng thống ngày 21/4/1975 ông Trần văn Hương đã hứa:
“Tôi xin hứa với anh em trong quân đội là ngày nào
anh em còn chiến đấu, tôi luôn luôn đứng bên cạnh anh em và ngày nào,
chẳng may, mà đất nước không còn nữa thì cái nắm xương khô của tôi sẽ
nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em binh sĩ.”
Ông Hương đã thực hiện lời hứa, từ chối lời mời di
tản của người Mỹ và người Pháp, từ chối nhận “quyền công dân” dưới thể
chế cộng sản, mất đi trong nghèo túng và bệnh hoạn.
Nhân dịp 30/4 năm nay xin được ôn lại lịch sử của Tổng thống Trần văn Hương một người quốc gia suốt cuộc đời vì nước vì dân.
Thời thuộc địa
Ông Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại Vĩnh Long trong một gia đình nghèo nhờ học giỏi ông được ra Hà Nội học tiếp.
Ở Hà Nội ông Hương học cùng trường Cao đẳng Sư phạm,
cùng thời với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học người sáng lập Việt Nam Quốc
Dân đảng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.
Ông Hương không chọn con đường đấu tranh cách mạng mà
tiếp tục con đường giáo dục khi tốt nghiệp ông về dạy môn văn chương và
luận lý tại trường Collège Le Myre De Villers.
Trường này ông Hương cũng đã theo học và đã được
thành lập từ năm 1879 là ngôi trường xưa nhất tại Việt Nam, năm 1953
được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu rất nổi tiếng nhờ
đào tạo được nhiều nhân tài cho Việt Nam.
Bắt đầu tham chính
Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp rồi trao trả độc
lập cho Việt Nam, Vua Bảo Đại cho thành lập Chính phủ Trần trọng Kim và
bổ nhiệm ông Trần Văn Hương làm Đốc Học lo việc giáo dục tại tỉnh Tây
Ninh.
Đến tháng 8/1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền,
Vua Bảo Đại thoái vị, ông Hương tham gia Việt Minh và được giữ chức Chủ
tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh.
Đến năm 1946, ông Hương thấy Việt Minh quy chụp cho
nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu, ông về quê tuyên bố bất
hợp tác với Việt Minh rồi lên Sài Gòn làm cho một tiệm thuốc Tây.
Năm 1953, ông Hương cùng ông Trần Văn Văn và một số
nhân sĩ quốc gia thành lập đảng Phục Hưng, ông Hương được cử làm chủ
tịch đảng.
Đấu tranh cho dân chủ
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm
Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không
cho biết lý do.
Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia
thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo
tại khách sạn Caravelle.
Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng
thống Ngô Ðình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp
tác với chính phủ nếu được yêu cầu.
Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo
chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có
viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo
ở trong tù).
Dấn thân chính trị
Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, ông Trần Văn Hương
lại được bổ nhiệm làm Đô trưởng Sài Gòn, nhưng chỉ vài tháng ông được
Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mời ra làm Thủ tướng.
Ông làm thủ tướng được 84 ngày thì Trung tướng Nguyễn Khánh lật đổ Chính phủ dân sự và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu bị truất phế.
Người con trai đầu của ông Hương tên là Trần Văn Dõi
tự là Lưu Vĩnh Châu theo Việt Minh ra Bắc khi biết ông Hương làm Thủ
tướng có viết một lá thư nhờ ông Ung Văn Khiêm là Bộ trưởng Bộ Nội Vụ
Bắc Việt trao cho ông Hương.
Ông Hương nhận thư, thảo luận với người con thứ tên
là Trần Văn Ðính cả hai đồng ý chuyện quốc gia phải đặt trên chuyện gia
đình, bởi thế ông đã từ chối không liên lạc với người con ở miền Bắc.
Năm 1967, ông Hương cùng ông Mai Thọ Truyền lập liên
danh Người Gieo Mạ ra tranh cử Tổng thống nhưng chỉ được 10% phiếu cử
tri ủng hộ đứng hàng thứ tư.
Cộng tác với ông Thiệu
Tháng 5/1968, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu mời ông
Hương ra làm Thủ tướng nhưng cũng chỉ được 96 ngày thì ông xin từ chức
cũng không cho biết lý do.
Việc ông Hương nhận lời ông Thiệu làm nhiều người ủng
hộ ông thất vọng, vì trước đó liên danh Người Gieo Mạ đã cùng các liên
danh thất cử khác họp báo tố cáo có gian lận bầu cử và yêu cầu Quốc Hội
Lập Hiến hủy bỏ kết quả bầu cử để tổ chức một cuộc bầu cử khác.
Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế hỏi ông Hương vì sao ông đã nhận lời làm Thủ tướng được ông trả lời như sau:
“… Lúc đó chỉ có ông Thiệu là có khả năng chống
cộng thật sự, lại nữa vụ Mậu Thân cho thấy Việt cộng đã mạnh lắm rồi, mà
Hoà Kỳ thì lại có ý chủ hòa, ông Johnson thì ép mình phải đi hoà hội
Paris… nên cần phải ủng hộ ông Thiệu.”
Giáo sư Thế nhận xét: ông Hương có lập trường chống
cộng triệt để nhưng ông cũng là một người yêu nước chân chính để vì đại
cuộc mà bỏ qua mâu thuẩn cá nhân.
Liên danh với ông Thiệu
Năm 1971, ông Hương đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và đắc cử chức vụ Phó tổng thống.
Ông Hương rất liêm chính nên những kẻ tham nhũng rất
sợ ông, miền Trung bị lụt ông tới ngay để thăm dân và cứu trợ, trong
chiến dịch Hạ Lào khi Hoa Kỳ thất hứa không trợ giúp không quân cho miền
Nam ông họp báo chỉ trích Mỹ…
Báo chí đặt cho ông danh hiệu “Cụ Già Gân” còn dân
chúng miền Nam trân quý kêu ông bằng “Cụ Hương” vì là văn viết nên tôi
xin phép gọi bằng ông Hương.
Trong việc điều hành đất nước ông Hương rất gắn bó
với ông Nguyễn văn Thiệu cho đến khi ông Thiệu từ chức dựa trên Hiến
Pháp chính thức trao quyền Tổng thống cho ông.
Từ chức tổng thống…
Trong bài diễn văn trước Lưỡng Viện Quốc Hội ngày
26/4/1975, Tổng Thống Trần Văn Hương cho biết đã tiếp xúc với Đại tướng
Dương Văn Minh để mời ông Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng, nhưng ông
Minh không chịu mà đòi phải nhường cho ông Minh chức Tổng thống.
Ông trả lời ông Minh là không thể trao quyền cho ông
ấy vì còn có Quốc Hội và phải tuân theo Hiến Pháp vì thế ông cho Quốc
Hội biết để mọi người bàn tính và quyết định.
Ngay ngày hôm sau Quốc Hội họp, đồng ý sửa lại Hiến
Pháp và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh để thương thuyết
với phía cộng sản.
Sang ngày 28/4/1975, ông Hương chính thức từ chức và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh.
Từ chối di tản…
Ngày 29/4/1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin có đến
nhà gặp ông Hương vừa để từ giã về nước, vừa để gởi lời Chính Phủ Hoa Kỳ
mời ông Hương sang Mỹ lánh nạn, ông trả lời:
“Thưa Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm, đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.
“Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại sứ, nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi.
“Tôi cũng dư biết cộng sản sẽ vào Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.
“Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ,
tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ phần nào niềm đau đớn tủi nhục,
nổi thống khổ của người dân mất nước.
“Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.”
Trước đó, Tòa Đại Sứ Pháp cũng ngỏ lời sẵn sàng đưa ông rời khỏi Việt Nam để đi Pháp.
Nước mất nhà tan
Theo Hồi ký của bà Phan Cẩm Anh vào tối ngày
30/4/1975 hai vợ chồng cháu ông Hương là đại úy Phan Hữu Cương và trung
úy Trần Mai Hương (là bạn thân của bà Phan Cẩm Anh) đã uống thuốc ngủ
tuẩn tiết ngay tại nhà ông Hương.
Đại úy Phan Hữu Cương là cháu ruột kêu ông Hương bằng
cậu và cũng là sĩ quan cận vệ cho ông Hương nên gia đình ở chung với
ông Hương.
Họ để lại lời trăng trối: “…xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù…”, người nhà phát hiện nhưng chỉ cứu được người vợ.
Nghe tin buồn cháu tuẩn tiết ông Hương vào phòng đóng
cửa im lặng, trầm mình trong nỗi đau của một người đã từng trên cương
vị lãnh đạo đất nước, giờ đây bi phẩn chứng kiến cảnh quốc gia suy vong,
gia đình tang chế, nỗi đau khổ của ông ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà
được ông hé môi thố lộ.
Từ chối “quyền công dân”
Theo hồi ký của Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế sau khi
bỏ Việt Minh ông Hương lên Sài Gòn sống với gia đình bên vợ của ông Thế
trong cả chục năm.
Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi ông Hương từ chức Thủ
tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết ông không có nhà riêng nên tỏ ý
muốn cấp cho ông một căn nhà.
Ông Hương chọn một căn biệt thự nhỏ và cũ nằm ở cuối
con hẻm đường Phan Thanh Giản. Ông Thiệu muốn sửa lại căn nhà nhưng ông
Hương không đồng ý vì không muốn tốn hao ngân sách quốc gia.
Ngày 28/4/1975 sau khi từ chức tổng thống, ông Hương
dọn về ngôi nhà này, vách tường của ngôi nhà đã có nhiều chỗ nứt nẻ, nền
nhà nhiều chỗ gạch vỡ tung lên, màu vôi đã trải qua nhiều năm tháng
vàng uế không được trùng tu sơn quét.
Giáo sư Lâm Vĩnh Thế cho biết sau Hội Nghị Hiệp
Thương Thống Nhất Hai Miền Nam Bắc, nhà cầm quyền Hà Nội quyết định trao
trả “quyền công dân” cho ông Hương tại ngôi nhà trước sự hiện diện của
báo chí, các đài truyền thanh, truyền hình, nhằm tuyên truyền cho nhà
cầm quyền cộng sản Hà Nội.
Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi một cán bộ cộng sản đọc
“chính sách khoan hồng và rộng lượng” của nhà nước đối với những “thành
phần” như ông Hương, ông trả lời:
“Tôi xin phép từ chối, không nhận cái quyền công
dân này vì dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ,
nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị
giam cầm trong các trại cải tạo.
“Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công
dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được thả và nhận
lại quyền công dân.”
Những năm tháng cuối đời
Vì từ chối nhận “quyền công dân” ông Hương không được
cấp hộ khẩu, không được cấp phiếu mua lương thực, mà còn bị quản thúc
ba năm không được bước ra khỏi nhà.
Ông Hương phải sống đạm bạc, thiếu thốn, ốm đau và
cũng như những người miền Nam khác để có thể sống qua ngày ông phải bán
dần đồ vật trong nhà từ bộ áo vest cũ đến những đồ kỷ niệm.
Bà Trần Văn Văn và bạn bè từ Pháp gởi thuốc về giúp
ông chữa trị, thuốc không dùng hết cũng được mang ra chợ trời thêm chút
gạo bó rau cho gia đình.
Có lần ông Hương bị té xỉu phải đưa vào bịnh viện cấp
cứu, khi tỉnh dậy thấy bịnh viện chỉ dành cho cán bộ cộng sản ông nhứt
định đòi phải đưa ngay về nhà.
Bà Phan Cẩm Anh bạn thân của cháu gái ông Hương có
chồng là bác sĩ mới ra trường, khi biết ông Hương bệnh nặng cần người
chăm sóc, ông chồng bác sĩ đã tình nguyện thường xuyên đến tận nhà để
chăm sóc cho ông.
Muốn nằm cạnh anh em binh sĩ
Tổng thống Trần văn Hương mất ngày 27/1/1982, gia
đình nghèo đến độ không còn tiền mua hòm, người tài xế cũ của ông xin
được phúng điếu chiếc quan tài, người chủ trại hòm ở Chợ Lớn, một người
Việt gốc Hoa, nghe nói mua cho ông Tổng thống xin chỉ lấy nửa giá tiền
của chiếc quan tài.
Ông Hương có ước nguyện được chôn trong nghĩa trang
Quân Đội Biên Hòa để được nằm bên anh em binh sĩ nhưng không được cộng
sản chấp nhận, nên người nhà đã quyết định hỏa táng ông tro cốt được rải
trong khu vực.
Hơn 40 năm qua người Việt quốc gia vẫn trân quý công
ơn của ông, ở hải ngoại nhiều cộng đồng đến ngày ông mất đã cử hành lễ
giỗ để tri ân một người đã một lòng một dạ xây dựng Việt Nam Cộng Hòa.
Người Việt quốc gia tiêu biểu
Ôn lại cuộc đời Tổng thống Trần Văn Hương làm tôi nhớ
lại một định nghĩa được học giả Phạm Quỳnh viết trong bài “Đi tìm một
chủ nghĩa Quốc Gia” xuất bản năm 1938:
“Một người theo chủ nghĩa quốc gia là một người
hết lòng gắn bó với đất nước và nòi giống mình, có một ý thức cao về
tình đoàn kết quốc gia và truyền thống lịch sử; là một người yêu nước,
nhưng yêu nước không chỉ bằng tình cảm mà còn bằng lý trí, một người
muốn nâng mức độ yêu nước của mình lên thành một chủ thuyết đạo đức và
chính trị.”
Ông Hương quả là một mẫu người tiêu biểu theo chủ
nghĩa quốc gia, ở miền Nam có không ít những người như ông, nhưng dường
như họ đã thất bại xây dựng được một chủ thuyết về đạo đức và chính trị
chung cho cả nước, để cuối cùng bị chủ nghĩa (quốc tế) cộng sản xóa
nhòa.
Thế kỷ thứ 21, người Việt lại phải đối đầu với chủ
nghĩa (quốc tế) toàn cầu mà mục tiêu cũng là xóa bỏ văn hóa, đạo lý,
truyền thống dân tộc và xóa nhòa mọi nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội
và cả biên giới của mọi quốc gia.
Đã đến lúc người Việt cần tìm hiểu những điểm mạnh,
điểm yếu, những thành công và thất bại của ông cha, để cùng nhau gìn giữ
và phát triển những điều hay, lẽ phải, đồng thời bảo vệ được bờ cõi ông
cha để lại.