Tuesday, July 23, 2019

NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE

Trần Gia Phụng


Nội dung hiệp định Genève đã được viết và nói nhiều. Bài nầy xin trình bày những chuyện bên lề hiệp định Genève.
 
1) Đầu tiên, hội nghị tứ cường Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô khai mạc tại Berlin ngày 25-1-1954. Đại diện Liên Xô là ngoại trưởng Mikhailovich Molotov đề nghị mời thêm Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (tức Trung Cộng) cùng họp. Ngày 26-4-1954, hội nghị gồm tứ cường và có thêm Trung Cộng, khai mạc tại Dinh Quốc Liên (Palais des Nations) ở Genève, một ngày bàn về Triều Tiên và một ngày về Đông Dương.
 
2) Phái đoàn Anh do ngoại trưởng Anthony Eden lãnh đạo. Phái đoàn Hoa Kỳ do ngoại trưởng John Foster Dulles dẫn đầu. Đứng đầu phái đoàn Pháp là ngoại trưởng Georges Bidault. Qua tháng 7-1954, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Mendès-France thay thế. Phái đoàn Liên Xô do ngoại trưởng Vyacheslav Mikhailovich Molotov lãnh đạo và phái đoàn Trung Cộng do thủ tướng kiêm ngoại trưởng Châu Ân Lai dẫn đầu.
 
3) Khi gặp Châu Ân Lai ở phòng Giải lao Dinh Quốc Liên, John Foster Dulles không bắt tay xã giao Châu Ân Lai và bỏ ra khỏi phòng ngay tức khắc. (Ural Alexis Johnson và Jef Olivarius McAllister, The Right Hand of Power, New Jersey, Nxb. Prentice Hall, 1984, tr. 204.) Foster Dulles rời Genève, thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Bedell Smith thay thế.
 
4) Trong phiên họp ngày 2-5-1954, Liên Xô đề nghị mở rộng thành phần tham dự, mời thêm các nước trong hai phe lâm chiến ở Đông Dương. Hội nghị chấp thuận. Như thế, về vấn đề Đông Dương, ngoài ngũ cường, hội nghị Genève có thêm Quốc Gia Việt Nam (QGVN), Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tức Việt Minh, Lào và Cambodge (Cambodia hay Cao Miên). Chín phái đoàn bắt đầu họp ngày 8-5-1954, một ngày sau khi kết thúc trận Diện Biên Phủ (7-5-1954).
 
5) Phái đoàn QGVN do ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định làm trưởng phái đoàn. Một tuần sau, từ 14-5-1954, phó thủ tướng Nguyễn Trung Vinh được cử qua làm trưởng phái đoàn thay Nguyễn Quốc Định, nhưng ông Định vẫn ở lại trong phái đoàn. Khi Ngô Đình Diệm được quốc trưởng Bảo Đại cử làm thủ tướng, chính thức cầm quyền từ ngày 7-7-1954 (Song thất), thủ tướng Diệm cử tân ngoại trưởng Trần Văn Đỗ qua Genève thay thế Nguyễn Trung Vinh. Phạm Văn Đồng, phó thủ tướng VNDCCH, thay Hoàng Minh Giám, giữ chức bộ trưởng Ngoại giao từ ngày 29-4-1954, dẫn đầu phái đoàn VNDCCH. Phoui Sananikone, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại giao và Nội vụ, lãnh đạo phái đoàn Lào; trong khi Tep Phan, bộ trưởng Ngoại giao, dẫn đầu phái đoàn Cao Miên. (Trần Văn Tuyên, Hội nghị Genève, hồi ký, Sài Gòn: Nxb. Chim Đàn, 1964, tt. 21-23.)
 
6) Trước hội nghị Genève, Châu Ân Lai cùng với Hồ Chí Minh đến Moscow ngày 1-4-1954 để thảo luận lập trường của khối CS. Ông còn đến Moscow thêm hai lần (6-4 và 20-4) để tìm hiểu và dung hợp lập trường giữa hai nước CHNDTH và Liên Xô trước khi qua Genève. Trong các cuộc thảo luận giữa Châu Ân Lai với giới lãnh đạo Liên Xô, đều có Hồ Chí Minh tham dự. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 5 “Dốc sức lên kế hoạch”. (diendan@diendan.org.)
 
7) Từ khi hội nghị Genève khai mạc (8-5) cho đến khi hội nghị chấm dứt (21-7), vào đầu mỗi phiên họp, các phái đoàn CS sắp hàng một, đi vào hội trường. Đi đầu là phái đoàn Liên Xô do Molotov dẫn đầu; sau đến phái đoàn Trung Cộng do Châu Ân Lai dẫn đầu và cuối cùng là phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Sau mỗi phiên họp, các phái đoàn CS cũng sắp hàng đúng thứ tự trên, ra khỏi hội trường và dầu trễ, các phái đoàn CS đều vào họp riêng rồi mới giải tán. (Trần Văn Tuyên, sđd. tt. 24. Lúc đó Trần Văn Tuyên là một thành viên trong phái đoàn QGVN, chứng kiến việc nầy.) Kiểu họp nầy CS gọi là “họp giao ban”.
 
8) Sau hơn một tháng họp hành chưa có kết quả, hội nghị tạm nghỉ ngày 20-6 và dự tính sẽ họp lại ngày 10-7. Các phái đoàn về nước tham khảo ý kiến. Trong thời gian nầy, xảy ra ba sự kiện quan trọng là:
a) Ngô Đình Diệm được quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng toàn quyền dân và quân sự Quốc Gia Việt Nam. Thủ tướng Diệm đề cử tân ngoại trưởng Trần Văn Đỗ làm trưởng phái đoàn QGVN tại Genève.
b) Mendès France lên làm thủ tướng ở Pháp. Điều trần trước quốc hội Pháp, Mendès France tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ (khoảng một tháng.) Mendès France chính thức nhận chức ngày 21-6-1954. Nếu tính thêm bốn tuần lễ thì vào 20-7-1954.
c) Châu Ân Lai mời Hồ Chí Minh qua Liễu Châu (Liuzhou), tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), hội đàm từ 3-7-1954. Châu Ân Lai báo cho Hồ Chí Minh và phái đoàn CS biết rằng có ba cách để đối phó với tình hình mới: 1) Thượng sách là hòa. 2) Trung sách là đánh rồi hòa. 3) Hạ sách là đánh tiếp. Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh chấp nhận thượng sách là hòa, để tránh mở rộng chiến tranh, vì nếu tiếp tục mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ có thể sẽ can thiệp. Châu Ân Lai còn bàn thêm rằng, sau khi chia hai Việt Nam, Việt Minh rút quân về phía bắc, nhưng cài người và cất giấu võ khí ở lại. Hồ Chí Minh và phái đoàn chấp nhận kế hoạch nầy của Châu Ân Lai.
 
9) Khi hội nghị tái nhóm, Mendès France đích thân đến Genève, hội đàm với ngoại trưởng Liên Xô Molotov ngày 10-7, và ngoại trưởng Trung Cộng Châu Ân Lai ngày 12-7. Ba nước Pháp, Liên Xô và Trung Cộng thỏa thuận giải pháp chia hai nước Việt Nam. Pháp đòi chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 18; Trung Cộng đề nghị vĩ tuyến 16, rồi đổi vĩ tuyến 17. Tối 12-7, Châu Ân Lai gặp Phạm Văn Đồng, áp đặt ý định của các cường quốc. Phạm Văn Đồng tuy đòi chia ở vĩ tuyến 16, nhưng cuối cùng đành chấp nhận vĩ tuyến 17, dọc theo sông Bến Hải. Đại biểu QGVN là bác sĩ Trần Văn Đỗ phản đối việc chia cắt đất nước bất cứ nơi đâu.
 
10) Cuối cùng, hiệp ước đình chỉ chiến tranh được ký kết sau 12 giờ đêm 20-7, qua sáng 21-7-1954 trong lúc kim đồng hồ tại dinh Quốc Liên (Palais des Nations), vẫn được giữ nguyên ở vị trí 12 giờ đêm 20-7-1954, cho đúng với lời hứa của Mendès-France khi nhận chức thủ tướng Pháp ngày 21-6-1954.
 
11) Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (Hiệp định đình chiến Genève) ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định thuần tuý quân sự, chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17, và nói về việc mỗi bên rút quân, tập trung quân, thời hạn chuyển quân, mà hoàn toàn không đề cập đến một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.
 
12) Ngày hôm sau (21-7), các phái đoàn họp tiếp và “thông qua” bản “Tuyên bố cuối cùng ngày 21-7-1954 của Hội nghị Genève về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. (Déclaration finale du 21 juillet 1954 de la conférence de Genève sur le problème du rétablissement de la paix en Indochine). Đây chỉ là lời tuyên bố, không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố nầy. Khi chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Cộng, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ không đồng ý, không ký tên vào bản tuyên bố, và đưa ra tuyên bố riêng của mình.
 
13) Bản tuyên bố nầy gồm 13 điều, trong đó điều 7 ghi rằng: “Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” Bản tuyên bố nầy không có chữ ký của các phái đoàn, chỉ có tính cách dự kiến tương lai, thì về pháp lý, không có tính cách cưỡng hành nghĩa, là không bắt buộc thi hành.
 
14) Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo thi hành hiệp định Genève, tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định Genève. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, không có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN vi phạm hiệp định Genève. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đầy đủ và đúng đắn hiệp định.
 
15) Trong khi đó, chủ tịch nhà nước VNDCCH là Hồ Chí Minh (HCM) hội họp với thủ tướng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa hay Trung Cộng là Châu Ân Lai tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng) từ 3 đến 5-7-1954, quyết định bí mật lưu cài cán bộ đảng viên và chôn giấu võ khí ở lại NVN, trường kỳ mai phục, để chuẩn bị tiếp tục chiến tranh. Trong số cán bộ được cài lại, có Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiến… Như thế, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, và quyết định tiếp tục chiến tranh trước khi ký kết hiệp định.
 
16) Thế mà cộng sản Bắc Việt Nam tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lấy điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng…” ghép vào hiệp định Genève, rồi khăng khăng buộc tội Nam Việt Nam tức Việt Nam Cộng Hòa không tôn trọng hiệp định Genève. Đây là một vụ “đánh lận con đen”, bóp méo lịch sử, vì hiệp định Genève hoàn toàn không quy định việc tổ chức tổng tuyển cử. Như thế, việc Bắc Việt Nam đưa ra lý do Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định Genève về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, hoàn toàn không đúng với nội dung hiệp định Genève.
TRẦN GIA PHỤNG
(DALLAS, 20-7-2019)

Friday, July 5, 2019

ĐỒI MỚI CHÍNH TRỊ ĐỂ HÒA GIẢI DÂN TỘC

Nguyễn Quang Duy

Chuyện tưởng chừng mọi người đều biết nhưng lời phát biểu của Thủ tướng Lý Hiển Long: Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia, đụng phản ứng dữ dội của phía Hà Nội.


(2)       
Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn được vinh thăng Phó Đề đốc, trở thành vị tướng thứ 4 của Quân lực Hoa Kỳ, cho biết gia đình ông gồm 7 người, nhỏ nhất chỉ 2 tuổi, bị cộng sản xử tử trong biến cố Mậu Thân 1968.Gần đây có hai sự kiện đáng để chúng ta suy ngẫm:
(1)       Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố Hà Nội “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia; và

Phép thử lòng tin chiến lược…
Ngày 15/11/2018, bế mạc Thượng đỉnh ASEAN thường niên tại Singapore, Thủ tướng Lý Hiển Long chia sẻ đã đến lúc ASEAN phải chọn giữa Mỹ-Trung.
ASEAN hình thành với 5 nước nhỏ vào năm 1967 nhằm chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, Hà Nội chính là nỗi đe dọa của các nước này.
Chuyện tưởng chừng mọi người đều biết nhưng lời phát biểu của Thủ tướng Lý Hiển Long: Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia, đụng phản ứng dữ dội của phía Hà Nội.
Điều này cho thấy Hà Nội đã hòa hợp trở thành một thành viên ASEAN, nhưng chưa muốn nhìn nhận và hòa giải với quá khứ lịch sử.
Như thế sự đoàn kết ASEAN khó có thể được duy trì khi phải chọn giữa Mỹ-Trung, chuyện đối đầu hay phong tỏa lẫn nhau sẽ dễ dàng xảy ra.
Như một phép thử lòng tin, Thủ tướng Lý Hiển Long một chính trị gia lão luyện, nhìn xa trông rộng, mới 3 lần nhắc thẳng chuyện cũ, đáng buồn Hà Nội chưa nhận ra vấn đề.
Năm 2013, cũng tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, báo chí ca ngợi cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về bài phát biểu xây dựng “lòng tin chiến lược” trong Khối ASEAN.
Nhưng thực tế cho thấy Hà Nội chưa hòa giải, chưa chấp nhận sự thật để tạo niềm tin với các quốc gia khác, chiến lược như vậy chỉ là lời nói đầu môi.

Hà Nội sa bẫy và sa lầy…
Phản ứng của phía Hà Nội còn cho thấy họ chưa học được bài học đã sa vào bẫy của Trung cộng và sa lầy tại Campuchia.
Thời nội chiến Bắc Nam, Hà Nội cũng đã từng đu dây giữa hai nước đàn anh Nga Sô và Trung cộng, nhưng cuối cùng phải phụ thuộc vào Nga.
Có bằng chứng cho thấy Trung cộng đã gởi hằng chục ngàn cố vấn sang Campuchia trong thời gian 1975-79 để đối đầu với Việt Nam. Họ tham mưu Khmer đỏ quấy rối biên giới Việt Nam và cố vấn cho Khmer đỏ rút quân về biên giới Thái Lan để Việt Nam sa vào bẫy và sa lầy tại Campuchia.
Nhiều quốc gia cấm giao thương với Việt Nam và cô lập Việt Nam. Liên Hiệp Quốc liên tục làm áp lực để Hà Nội rút quân.
10 năm dân Việt phải gánh chịu khó khăn phục vụ chiến tranh. Thanh niên thiếu nữ Việt phải ra chiến trường làm nghĩa vụ quốc tế và nhiều người đã chết hay bị thương trên đất Campuchia, Lào và cả ở Thái Lan.
Khi Khối Cộng sản Đông Âu và Nga Sô sụp đổ, Hà Nội lại quay về với Bắc Kinh ký kết Hiệp ước Thành Đô 1990, rút quân khỏi Campuchia và chịu ảnh hưởng của Trung cộng từ đó đến nay.
Quan điểm Việt Nam “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia được hình thành từ thực tế và đã trở thành một quá khứ lịch sử.
Hà Nội dễ dàng mang quân chiếm lãnh thổ Campuchia nhưng không lấy được lòng dân.
Đa số dân Campuchia xem Việt Nam là đội quân "xâm lược" với tham vọng bá chủ Đông Dương, hằng triệu người Campuchia phải bỏ nước ra đi.
Hà Nội cũng đã thống nhất Bắc-Nam, nhưng sau 44 năm cai trị vẫn chưa thống nhất được lòng dân, hòa hợp nhưng không hòa giải.

Hà Nội theo Mỹ?
Việc Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc tay giương cao cờ Mỹ ngay giữa thủ đô Hà Nội, việc các phái đoàn Mỹ-Việt liên tục viếng thăm nhau, việc Mỹ viện trợ cho Hà Nội, bán vũ khí và mở rộng giao thương cũng chỉ là những dấu hiệu hòa hợp hay hợp tác.
Còn hòa giải lịch sử và hòa giải ý thức hệ tự do và cộng sản vẫn chưa được tiến hành.
Mỹ vẫn công khai xem Việt Nam là một quốc gia cộng sản, đàn áp tự do nhân quyền, một quốc gia phi thị trường phụ thuộc vào Trung cộng.
Chiến tranh nếu xảy ra và giả sử Hà Nội có đứng về phía Hoa Kỳ, Việt Nam lại một lần nữa bị động, sụp bẫy, sa lầy để trở thành bãi chiến trường như đã xảy ra trong chiến tranh lạnh Mỹ-Tàu-Nga trước đây.

Quá khứ đau thương…
Vào Tết Mậu Thân 1968, Chuẩn tướng Tư lệnh Cảnh sát Quốc Gia Nguyễn Ngọc Loan dùng súng ngắn bắn vào đầu một tù binh cộng sản mặc thường phục hai tay đang bị trói.
Cuộc xử tử tù binh Bảy Lốp nhanh chóng được nhiếp ảnh gia Eddie Adams chụp lại và hình ảnh được phổ biến cho thấy sự tàn khốc chiến tranh Việt Nam.
Hình xử tử tù binh Bảy Lốp được phe cộng sản và phản chiến sử dụng gây phẫn nộ dư luận và dẫn đến chiến thắng của cộng sản Bắc Việt 30/4/1975.
Nhưng ít ai biết chính tù binh Bảy Lốp, Nguyễn Văn Lém, trước đó vài giờ đã xử tử cả gia đình Trung tá thiết giáp Nguyễn Tuấn vì ông từ chối không cộng tác với cộng sản.
Ông Tuấn bị chặt đầu, vợ ông bà Từ Thị Như Tùng và sáu người con bị bắn bằng tiểu liên, nhỏ nhất mới 2 tuổi, chỉ một bé trai lên 6 tuổi may mắn được cứu sống.
Trong lễ kỷ niệm 55 năm ngày Đồng Minh tham chiến tại Việt Nam, Đại tá Hải quân Nguyễn Từ Huấn xác nhận ông chính là cậu bé 6 tuổi được cứu sống trong khi toàn thể gia đình bị cộng sản xử tử.
Ông Huấn cho biết gia nhập Quân Đội Hoa Kỳ để theo con đường cha Cố Đại Tá Nguyễn Tuấn, tiếp tục góp phần cho một Việt Nam tự do.
Ông cho biết chính nhờ công của các chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà cộng sản đã bị ngăn chặn ở Việt Nam và bị giải thể tại Đông Âu và Nga Sô.
Ngày nay cộng sản chỉ còn tồn tại vài nơi và ông tin ngày chiến thắng đã cận kề.
Như vậy hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa có được 4 vị tướng hiện dịch trong Quân Lực Hoa Kỳ.
Cùng lúc là tin chuẩn tướng Lục Quân Lập Thể Flora được đề cử thăng cấp thiếu tướng.
Với người Việt Nam Cộng Hòa thì 30/4/1975 là ngày miền Bắc xâm chiếm miền Nam. Hà Nội đã thống nhất Bắc-Nam, nhưng chưa hòa giải, chưa thống nhất được lòng dân.
Trên 2 triệu người bỏ nước ra đi, ½ triệu người chết trên đường tìm tự do là phản kháng tiêu biểu nhất của người dân.
Người Việt hải ngoại nay đã hội nhập vào và đã có khả năng ảnh hưởng đến chính trị các quốc gia tự do. Ở Mỹ đã có dân biểu trong Quốc Hội cả liên bang lẫn tiểu bang.
Tổng thu nhập GDP của người Việt hải ngoại ước tính hơn cả GDP của toàn Khối ASEAN, chưa kể đến khối tài sản mà họ tư hữu.
Nhiều người có trình độ khoa học kỹ thuật, chuyên môn cao, có kinh nghiệm làm việc ở các quốc gia tân tiến và có tấm lòng mong ước ngày Việt Nam tự do để góp phần phục hưng đất nước.

Miền Nam mến yêu…
Miền Nam trước đây là miền đất tự do dân chủ, chính sách cải cách ruộng đất đã hoàn tất, quyền tư hữu ruộng vườn đã thuộc về nông dân.
Sau 30/4/1975, người miền Nam trở thành người bị trị, quyền tự do ứng cử và bầu cử bị tước đoạt, tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn bị chiếm đoạt.
Miền Tây vựa lúa miền Nam, giàu có biết bao, ngày nay dân không đủ sống phải tha hương cầu thực…

Đổi mới chính trị để hòa giải dân tộc…
Sức mạnh của một quốc gia dựa trên lòng dân đồng thuận.
Sự đồng thuận chỉ có thể có khi tiếng nói mọi công dân được tôn trọng và chỗ đứng mọi người đều ngang nhau, một xã hội tự do, dân chủ, thượng tôn luật pháp.
44 năm đã quá đủ để chứng minh chế độ cộng sản chọn sai đường không mang lại đồng thuận dân tộc.
Tham nhũng cường hào ác bá tràn ngập khắp nơi.
Dân nghèo khó, quan chức giàu có, đất nước kiệt quệ.
Đã đến lúc Hà Nội phải trao trả các quyền tự do cho dân, trả lại tư hữu ruộng đất cho dân, chuyển đổi từ một thể chế cộng sản sang một thể chế tự do, dân chủ.
Thay đổi thể chế chính trị, Hà Nội cũng chứng tỏ đã hòa giải với khuynh hướng cải cách ngay trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính Ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng sản ông Trần Xuân Bách vào năm 1989 đã cố vấn cho Bộ Chính Trị như sau:
“Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ.
“Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện.
“Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to.
“Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn.
“Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”
Đổi mới kinh tế như hòa hợp, còn đổi mới chính trị chính là hòa giải.
Lẽ ra đổi mới chính trị phải làm trước, người dân phải được quyền quyết định con đường phát triển và quyền giám sát việc nhà nước quản trị quốc gia.
Đến nay hòa giải vẫn chưa được tiến hành, đổi mới chính trị vẫn bị đình trệ.
Ông Trần Xuân Bách từng là Phó Chính ủy Bộ chỉ huy tối cao cuộc tấn công vào Campuchia và sau đó làm trưởng Ban B68 chỉ huy bộ máy hành chính của Campuchia nên chắc đã hiểu rõ những thảm bại của dân tộc trong cuộc chiến tại Campuchia.
Trước đe dọa bành trướng và chiến tranh của Bắc Kinh, việc cải cách chính trị, hòa giải và tìm đồng thuận dân tộc là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng.
Chưa quá trễ để đảng Cộng sản thay đổi thể chế, giảm thiểu đau thương và thiệt hại cho dân tộc.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
13/06/2019
Mời xem lời phát biểu của Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn:

Sunday, June 2, 2019

THE LONGEST DAY

Một bài hát trong phim - Ngày dài nhất. 
Ngày dài nhất là một bộ phim chiến tranh năm 1962 dựa trên cuốn sách The Longest Day (1959) của Cornelius Ryan, về cuộc đổ bộ D-Day tại Normandy vào ngày 6 tháng 6 năm 1944, trong Thế chiến II. Bộ phim được sản xuất bởi Darryl F. Zanuck, người đã trả cho tác giả Ryan 175.000 đô la cho bản quyền phim. Kịch bản là của Ryan, với tài liệu bổ sung được viết bởi Romain Gary, James Jones, David Pursall và Jack Seddon. Được đạo diễn bởi Ken Annakin (ngoại cảnh Anh và Pháp), Andrew Marton (ngoại cảnh Mỹ) và Bernhard Wicki (cảnh Đức).
Many men came here as soldiers 
Many men will pass this way 
Many men will count the hours 
As they live the longest day 
Many men are tired and weary 
Many men are here to stay 
Many men won't see the sunset 
When it ends the longest day 
The longest day the longest day 
This will the longest day 
Filled with hopes and filled with fears 
Filied with blood and sweat and tears 
Many men the mighty thousands 
Many men to victory 
Marching on right into battle 
In the longest day in history

Ngày dài nhất, phim đen trắng, có một dàn diễn viên lớn bao gồm John Wayne, Kenneth More, Richard Todd, Robert Mitchum, Richard Burton, Steve Forrest, Sean Connery, Henry Fonda, Red Nút, Peter Lawford, Eddie Albert , Jeffrey Hunter, Stuart Whitman, Tom Tryon, Rod Steiger, Leo Genn, Gert Fröbe, Irina Demick, Bourvil, Curt Jürgens, George Segal, Robert Wagner, Paul Anka và Arletty. Nhiều người trong số các diễn viên này đóng vai trò chủ yếu là xuất hiện. Ngoài ra, một số thành viên trong đoàn - bao gồm Fonda, Genn, More, Steiger và Todd - đã hành động như những người phục vụ trong chiến tranh, với thực tế là một trong những sĩ quan Anh đầu tiên đổ bộ vào Normandy trong Chiến dịch Overlord và thực tế anh ta đã tham gia vào cuộc tấn công trên cầu Pegasus. Bộ phim đã tuyển dụng một số chuyên gia tư vấn quân sự của phe Trục và Đồng minh, những người đã tham gia thực sự vào D-Day. Nhiều người đã được tái hiện vai diễn trong phim. Những người này bao gồm: Günther Blumentritt (một cựu tướng quân Đức), James M. Gavin (một tướng Mỹ), Frederick Morgan (Phó Tham mưu trưởng tại SHAEF), John Howard (người chỉ huy cuộc tấn công trên không vào Cầu Pegasus), Lord Lovat ( người chỉ huy Lữ đoàn đặc nhiệm số 1), Philippe Kieffer (người chỉ huy quân của mình trong cuộc tấn công vào Ouistreham), Pierre Koenig (người chỉ huy Lực lượng Pháp tự do trong cuộc xâm lược), Max Pemsel (một tướng Đức), Werner Pluskat Ai là sĩ quan Đức đầu tiên nhìn thấy hạm đội tấn công ), Josef "Pips" Priller (phi công) và Lucie Rommel (góa phụ của tướng Đức Erwin Rommel).
 

Tuesday, May 28, 2019

44 NĂM SAU, NHÌN LẠI MỐI ĐAU

Phan Nhật Nam

 


Người dân miền Nam Việt Nam đào những tuyến hào chống xe tăng nhằm bảo vệ thị trấn Phú Giáo khỏi cuộc tấn công có thể xảy ra từ miền Bắc. Thị trấn Phú Giáo nằm trong tỉnh Bình Dương, cách Sài Gòn khoảng 25 dặm về phía Bắc. (Hình: Flickr manhhai)

 

  Kính gởi tất cả

Người Việt còn sống hay đã chết (1975-2019) 
Dẫn Nhập 
Mỗi người, mỗi tập thể, mỗi dân tộc có một đời sống, lần chết với định mệnh riêng. Dân tộc Việt cảm nhận, thấy ra sự huyền nhiệm kia qua con Số Ba: Lễ thờ cúng với phẩm vật Tam Sanh; nhà Ba Gian; Ba Miền Bắc, Trung, Nam; Cờ Quẻ Ly; Cờ Vàng Ba Sọc…
Người Việt thấu hiểu cốt lõi cấu trúc siêu hình, lẽ huyền vi kia qua Nỗi Đau và Cơn Thống Khổ vô lường với thân phận của mỗi người trên quê hương điêu linh qua những Tháng Ba của năm 1972,  1975. Người Việt hải ngoại vừa qua Tháng Ba, đang ở Tháng Tư, 2019, những thời điểm khiến nhớ lần vỡ trận Ban Mê Thuộc, 10 Tháng Ba, 1975, khởi đầu bi kịch nước mất nhà tan năm mươi lăm ngày sau, 30 Tháng Tư, 1975.
Nay 44 năm sau 1975, thời gian đủ để nhìn lại sự việc của quá khứ từ đó nhận ra những tất yếu của lịch sử. Những điều tất yếu mà dân tộc Việt buộc phải nhận lãnh từ phận nghiệp điêu linh. Những thế hệ người Việt sinh nơi miền Nam, lớn lên sau 1975 phần đông trên đất Mỹ có thể ngạc nhiên với thắc mắc: Tại sao một miền Nam có đủ tất cả những ưu thế so với với miền Bắc, cụ thể thuộc về phe dân chủ-tự do được Mỹ và Tây Âu yểm trợ, giúp sức. Vậy thì từ đâu, vì sao, VNCH chỉ một sớm một chiều sụp vỡ một cách nhanh chóng sau 55 ngày do Bắc Việt Cộng Sản tấn công? Tại sao? 
Một.
Tháng Ba mở đầu mùa Hè khốc liệt 1972; và Tháng Ba sau ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình 27 Tháng Giêng, 1973, mà hai tháng sau 27 Tháng Ba, 1973, là hết thời hạn thi hành giai đoạn bốn bên, và miền Nam bắt đầu nhận chịu số phận khốn đốn khi tỉnh Phước Long bị Cộng Sản lấn chiếm, Tháng Mười Hai, 1974, cùng lúc viện trợ Mỹ bị cắt giảm toàn diện, Hạm Đội 7 quay mũi về Trung Đông. Qua đầu Xuân Tháng Ba, 1975, thêm một lần miền Nam phải giáp mặt với câu hỏi… Bao giờ Cộng Sản tấn công? Cộng Sản sẽ tấn công ở đâu? Không ai ở Sài Gòn có câu trả lời chính xác.
Đầu năm 1975, phía Cộng Sản Bắc Việt đã nối được con đường từ Cao Nguyên Trung Phần xuống đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lộ rõ ý định cắt đôi miền Nam theo trục quốc lộ 19 nối Bình Định – Pleiku như đã thực hiện trong chiến tranh 1946-1954. Và đây là tiền đề của cuộc Tổng Công Kích 1975 mà Hà Nội đã quyết thực hiện bước cuối cùng để tiến chiếm miền Nam?
Bây giờ thì ai cũng thấy ra như thế, nhưng lúc ấy, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, cụ thể với Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn II ở Pleiku, lúc ấy không thể có quyết đoán cụ thể nào khi từ năm 1972, phần cực Bắc của Cao Nguyên Trung Phần, cứ điểm Đắk-tô, quận lỵ Tân Cảnh, dãy Căn Cứ 5, 6, các trại lực lượng đặc biệt đã thuộc về vùng kiểm soát của binh đội miền Bắc.

Phi trường Long Xuyên. (Hình: Flickr manhhai)

Đầu năm 1975, Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng Cộng Sản, Bộ Tổng Quân Ủy quân đội Bắc Việt chuẩn bị tấn công miền Nam sau khi rút kinh nghiệm thất bại từ Mậu Thân 1968, do đã quá phân tán lực lượng trên mục tiêu trải dài qua 40 tỉnh, thành phố miền Nam. Cụ thể trong Tổng Công Kích Xuân – Hè 1972, cuộc tấn công đã không hoàn tất mục tiêu chiến lược là đánh sụp toàn bộ hệ thống quân sự-chính trị-hành chánh của VNCH, để yểm trợ chính trị cho Hội Nghị Ba Lê đang ở thời điểm quyết định trước khi ký kết (27 Tháng Giêng, 1973). Quan trọng hơn hết, vào Tháng Ba, 1975, người Mỹ đã thực sự rút chân ra khỏi Việt Nam.

Cũng không phải đợi năm 1975 mà từ những năm 1972, và cũng chẳng phải là chuyên viên quân sự-chính trị chiến lược cao cấp, chỉ người có lưu tâm đến thời cuộc, chiến cuộc cũng có thể nhìn thấy tình hình quân sự nguy ngập của miền Nam.
Từ sau trận chiến mùa Hè 1972 một phần cực Bắc của Cao Nguyên Trung Phần, gồm cứ điểm Darkto, quận lỵ Tân Cảnh, dãy Căn Cứ 5, 6, các trại lực lượng đặc biệt đã thuộc về vùng kiểm soát của Cộng Sản miền Bắc. Có nghĩa Bắc quân đã nối được con đường từ Cao Nguyên Trung Phần xuống đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi, lộ rõ ý định cắt đôi miền Nam theo trục quốc lộ 19 Bình Định – Pleiku như một lần thực hiện trong chiến tranh 1946-1954.
Nhưng không chỉ có thế, năm 1975 Bộ Chính Trị, Bộ Tổng Quân Ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam đã điều quân dưới Nghị Quyết chiến lược số 21 (Nghị quyết nầy được Trung Ương Cục Miền Nam phổ biến với bí số 12).
“Cuộc tấn công toàn diện ở miền Nam Việt Nam phải được thực hiện đồng loạt và tràn ngập, liên kết ba mũi, chủ động cả ba mặt trên khắp ba vùng…” Ba mũi là tấn công quân sự, tấn công chính trị, tấn công binh vận. Ba mặt, diện quân sự, diện chính trị, diện ngoại giao. Ba vùng gồm vùng Cộng Sản đã kiểm soát được; vùng tranh chấp (xôi đậu); và vùng Việt Nam Cộng Hòa.
Với chỉ đạo chiến lược nầy, Cộng Sản Bắc Việt lập kế hoạch tấn công lật đổ chế độ VNCH sau khi đã rút kinh nghiệm từ Mậu Thân 1968, và trận chiến Xuân-Hè 1972, để năm 1975 có đủ ưu thế vượt trội về quân sự cùng an toàn tuyệt đối về chính trị. Chúng ta cùng đi tiếp lần sụp vỡ miền Nam bắt đầu từ Tháng Ba, 1975. 
Hai.
Mặt Trận B3 là bí danh quân sự phía Cộng Sản Bắc Việt chỉ Vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH. Trong ngày 10 Tháng Ba, Sư Đoàn F10 dưới quyền chỉ huy của các tướng Bắc Việt Hoàng Minh Thảo,Vũ Lăng đồng loạt tấn công Ban Mê Thuộc.
Cuộc tấn công được tăng cường Sư Đoàn 320 là đơn vị cơ hữu đã có mặt từ trước nơi vùng B3 này, thêm Sư Đoàn 316 từ miền Bắc mới xâm nhập, và Sư Đoàn 341 tổng trừ bị. Sư Đoàn 316 rời miền Bắc vào Nam từ 1974 để chuẩn bị chiến trường cho Tướng Văn Tiến Dũng, nhân vật số 2 của quân đội miền Bắc. Tướng Dũng đã vào Nam từ ngày 5 Tháng Hai, 1975, bằng một chiếc máy bay Antonov 24 nhưng mãi đến Tháng Tư, CIA Mỹ mới khám phá ra. Lực lượng Cộng Sản đánh Ban Mê Thuộc gồm khoảng 25,000 người có pháo binh, chiến xa phối hợp yểm trợ.
Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuộc, phía VNCH chỉ có khoảng 1,200 quân gồm lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu Đắk-Lắc, và Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân. Tức tỷ lệ 20 đánh 1. Thế nên từ 2 giờ sáng ngày 10 Tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công (mà Tướng Dũng ước tính mặt trận Ban Mê Thuộc sẽ chấm dứt sau một tuần) chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày 10, thị xã Ban Mê Thuộc phần lớn đã bị quân Bắc Việt chiếm đóng, cho dù Biệt Động Quân, Sư Đoàn 23 Bộ Binh vẫn tiếp tục chiến đấu.

Chiến đấu bảo vệ miền Nam. (Hình: Flickr manhhai)
 
Với tỷ lệ 20 đánh 1 có pháo binh, chiến xa yểm trợ (chỉ không có phi cơ) phía cộng sản làm sao không đánh thắng? Chưa hết, năm 1975 Hà Nội đánh chiếm miền Nam với  hai lợi điểm, phải nói hai ưu thế quyết định: Sự bất ngờ tình báo được bảo đảm toàn hảo và cái ô chính trị tuyệt đối an toàn.

Khi Cộng Sản quyết định tiến chiếm thị xã Ban Mê thuộc cực Nam của vùng Cao Nguyên Trung Phần, nơi tương đối bình an của Vùng II, mục tiêu không hề được tính đến trong suốt mười-lăm năm chiến tranh khởi đi từ 1960. Thế nên từ 2 giờ sáng ngày 10 Tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công (mà Tướng Dũng ước tính mặt trận Ban Mê Thuộc sẽ chấm dứt sau một tuần) chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày 10, thị xã Ban Mê Thuộc phần lớn đã bị quân Bắc Việt chiếm đóng, cho dù Biệt Động Quân, Sư Đoàn 23 Bộ Binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Tướng Dũng cứ tưởng như là giấc mơ.
Tướng Dũng cũng không thể nào tin khi được báo cáo: Quân Đoàn II tháo chạy! Bởi vì ông không biết trong cuộc họp ngày 14 Tháng Ba, 1975, ở Cam Ranh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không nói rõ ràng về ý niệm điều quân: “Nếu có thể thực hiện triệt thoái khỏi Pleiku, Kontum thì cũng có thể chiếm lại Ban Mê Thuộc?!”
Những người cầm đầu Cộng Sản ở Hà Nội cũng không nghe tới tính toán: “Ngày trước với một tỷ rưỡi đồng đô la thì giữ được bốn vùng, bốn quân khu. Nay với 700 triệu thì chỉ giữ được hai Quân Khu III và IV.” Họp xong, ba ông tổng thống, thủ tướng, và tổng tham trưởng, ba tướng lãnh quân đội trở lại Sài Gòn. Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú bay về Nha Trang. Để lại trách nhiệm chỉ huy toàn bộ cuộc di tản cho tướng lãnh được vinh thăng cuối cùng của Quân Lực VNCH, Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia tên gọi “Việt Nam Cộng Hòa” bắt đầu “chết” từ điểm tắt thở này. Đây là cuộc hành quân di tản toàn Vùng Cao Nguyên, một Quân Khu II trên một đoạn đường  228 cây số mà 10 năm nay không được sử dụng (trên bản đồ quân sự đoạn Hậu Bổn (Cheo Reo) đến Sơn Hòa chỉ màu XANH, chỉ đoạn đường KHÔNG SỬ DỤNG ĐƯỢC).
Nguy hại hơn nữa, cuộc hành quân rút lui KHÔNG CÓ LỆNH HÀNH QUÂN điều hành, thống nhất chỉ huy! Cũng bởi Tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân Quân Khu II, chỉ thực sự chỉ huy những đơn vị Biệt Động Quân thuộc quyền của. Đêm 16 Tháng Ba, 1975, các đơn vị quân đội âm thầm bất ngờ triệt thoái được êm xuôi. Nhưng đến sáng hôm sau, dân chúng hay được, hoang mang, hốt hoảng vội vã ùa chạy theo đoàn quân với bất cứ phương tiện di chuyển nào kể cả chạy bộ. Quân Cộng Sản bắt đầu đuổi theo, nã pháo thẳng vào đoàn di tản.
Trời cao nguyên buổi tàn Xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt ngưi, vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong mắt những người lính Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản.
Pleiku, thị trấn thủ phủ của miền Cao Nguyên, luôn trĩu lặng sương mù nay oằn thân vật vã trong màu lửa địa ngục. Lửa từ đống kim loại, khí giới, từ những kho quân nhu, quân cụ soi loang loáng chập chờn những đường dốc hun hút lẫn khuất dưới tàng thông. Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu của máu. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở tri? Còn biết kêu vào đâu? Với ai?
Bình an của ngày đầu tiên này không kéo dài được lâu, bởi phía Cộng Sản trong ngày 16 đã tìm ra đáp số cho câu hỏi: Quân Đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 Tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban Mê Thuộc? Qua máy dò tìm làn sóng, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3, tổng quát hơn chiến dịch tấn chiếm miền Nam, chiến dịch mang bí số 275, choáng người vì thắng lợi quá mau chóng, quá lớn, Quân Đoàn II đang tháo chạy!
Dần dần họ khám phá vài phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trưng Cù Hanh (Pleiku) đi Nha Trang không có lượt bay về. Viên chuẩn úy nằm vùng trong Sư Đoàn 2 Không Quân, người đã điều chỉnh pháo binh chính xác từ bao ngày qua, người quan sát các phi xuất di tản đã đến hồi lộ mặt không ngần ngại – Anh ta báo cáo bằng bạch văn! Sự kiện đã trút gánh nặng âu lo “phía cộng hòa có thể điều quân tái chiếm” ra khỏi đầu Văn Tiến Dũng.
Tướng Dũng mắng thẳng và đe dọa Kim Tuấn, viên tư lệnh Sư Đoàn 320: “Nếu đồng chí để vuột mất đoàn di tản thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.” Bởi, Kim Tuấn đã từng cam kết: “Một đơn vị cơ giới với chiến xa, pháo binh nặng không thể nào đi qua đường 7B được…”
Quả thật, ông Nguyễn Văn Thiệu ít ra cũng lừa được một người cũng như trong mười điều sai ông cũng có một điều đúng với câu nói: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói…” Sư Đoàn 320 được lệnh băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 trên đường bôn tập từ Lào về Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An, chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 về đồng bằng.

Sài Gòn năm 1968 tại Ngã Tư Lê Lợi-Công Lý, bên trái là nhà hàng Kim Sơn góc Lê Lợi-Nguyễn Trung Trực (Hình: Flickr manhhai)

Văn Tiến Dũng thở phào nhẹ nhõm… Vậy là không có phản công tái chiếm như sau lần bỏ Khe Sanh (1968), chịu mất Quảng Trị 1972, lần bốn mươi thành phố miền Nam bị tấn công Tết Mậu Thân. Lần này quân Cộng Hòa, “bọn ngụy quân” đã bị bẻ gãy ngay xương sống. Ngày 16 Tháng Ba, một Chủ Nhật điêu linh tan nát dọc con đường đỏ sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía Đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi đập từ Tây quận lỵ Phú Bổn.

Xe tăng cán ngang lên GMC, xe GMC hất xe đò xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep của thành phần thuộc các đơn vị yểm trợ, chuyên môn của quân đoàn, tiểu khu Pleiku, cán qua những chiếc xe Dodge4 của địa phương quân chất đầy người già, trẻ em tan nát. Chiếc vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sưn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá!
Súng nổ…105, 155 pháo binh, XM72 của phía Cộng Hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 Cộng Sản tất cả cùng hòa vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ đục ánh nắng. Mặt tri bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất lên bề đường, người khô quắp, không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi, miệng… Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt. Có tiếng bắn đi của sơn pháo thật gần.
Sư Đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản không sai trật một viên đạn. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay. Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba.
Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không thể nào chứa nỗi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe… Chiếc tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng hét nghẹn, trên pháo tháp có đầu người ngoi ngóp. Người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở, được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quẫy lên, tung tóe những tay, chân kẹp dính đâu dưới lườn xe.
Cuộc di tản lớn quá, quá lớn nên người ta không còn sức đâu nghĩ đến lần rút lui của Liên Đoàn 32 Biệt Động Quân và lực lượng địa phương thuộc Tiểu Khu Bình Long trấn đóng tại An Lộc, cũng trong ngày 1 Tháng Ba.
An Lộc, cách Sài Gòn một trăm cây số đường chim bay. Chiến tích lớn của năm 1972, nơi Lữ Đoàn I Nhảy Dù, Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Liên Đoàn 81 Biệt Kích đã đẩy lui những trận cường tập của các trung đoàn thuộc ba công trường 5, 7, 9 (sư đoàn bộ binh thuộc quyền chỉ huy của bộ tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam có cán bộ người Bắc làm khung cơ ở) và trung đoàn thiết giáp T54 phối hợp tăng cường, được ym trợ trực tiếp bởi pháo 130 ly hạng nặng.
Chiến tích An Lộc được mua bởi giá máu của ngàn con người ấy, bởi niềm tin, ý chí chiến đấu của miền Nam được thể hiện nay chỉ là một tiền đồn thụ động nằm trong tầm tác xạ của một dàn pháo cối đặt dầy xung quanh. Tồi tệ hơn nữa, cửa ngõ phía Nam của An Lộc, khu đồn điền Xa Cam bị quân Cộng Sản đóng chốt. Đường về Chơn Thành, phải qua tử huyệt này. Và khi An Lộc với Liên Đoàn 32 Biệt Động, Chơn Thành với Liên Đoàn 31 bị nhổ đi, bị xé lẻ ra Phan Rang, đến Tây Ninh, lui về tận Hố Nai thì từ căn cứ Lai Khê với Bình Dương-Sài Gòn, đoạn đường quá ngắn chỉ cần một ngày di chuyển với đôi chân. Nhưng bởi vết thương của Tỉnh Lộ 7 kéo dài theo hơn hai trăm cây số đường núi. Vụ triệt thoái An Lộc, Chơn Thành đành phải quên. Phải quên, dẫu cơn hấp hối từ, của trái tim sắp gần kề. Sài Gòn – Lai Khê đâu khoảng ba-mươi cây số, nửa giờ xe hơi.
Cuối cùng, đoàn di tản về đến Tuy Hòa ngày 25 Tháng Ba do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động dẫn đầu. Trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kon Tum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người nơi trại tạm cư Đèo Rù Rì. 100,000 trừ đi 60,000 vậy đã chết bao nhiêu? Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng. Người chỉ biết và đau với trưng hợp từng người thân, của mỗi gia đình, của chính thịt da mình.
Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hòa) về Nha Trang, viên thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ…  Bà nội đâu hở ba? Trong đêm khuya nơi trại tạm cư Đèo Rù Rì, nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Bãi biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Nha Trang cũng mất vào tay quân Cộng Sản vài ngày sau, 30 Tháng Ba, 1975, dẫu đơn vị chính quy Cộng Sản chưa kịp vào đến thành phố. Nếu kể thêm bi thảm của Huế, Đà Nẵng ở phía Bắc thì đã mất một nửa quê hương miền Nam chưa hết một Tháng Ba!


Băng rôn chống Cộng Sản tại Đà Nẵng năm 1966: “Đả đảo Cộng Sản và tay sai đang quấy rối hậu phương.” (Hình: Flickr manhhai)

Ba.
Lần sụp vỡ Vùng II gây nên phản ứng dây chuyền vô cùng nguy hại đối với Vùng I/VNCH với thành phố lớn thứ hai sau Sài Gòn, thành phố Đà Nẵng, bản doanh Quân Đoàn I/Quân Khu I VNCH.
Đà Nẵng cũng là nơi Mỹ đổ quân, cũng một ngày Tháng Ba, 1965, nhằm mở rộng chiến cuộc trên toàn miền Nam, khắp vùng Đông Dương. Quân Khu I gồm Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Tính, Quảng Ngãi. Vùng đất lửa đối đầu với miền Bắc không khoan nhượng qua những thời điểm đẫm máu Mậu Thân 1968, Hạ Lào 1971, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Mới gần đây, còn nguyên dấu vết hung tàn ngọn lửa từ đầu hè 1972. Huế quả thật đã nhiều phen nếm sâu sự chết. Nhưng Huế vẫn sống. Huế luôn vượt sống.Thật ra Huế, Thừa Thiên vẫn sống được bởi sức nâng, nguồn bảo vệ từ một người anh em khốn khổ, người anh em chung cấu tạo đặc thù mà phải tinh tế lắm mới nhận ra âm sắc tiếng nói khác nhau qua con sông không đầy một trăm thước, sông Mỹ Chánh ngăn ranh Quảng Trị-Thừa Thiên, với hai thị xã đúng chiều dài bảy mươi cây số, Huế và Quảng Trị.
Vùng đất dựa núi và nằm cạnh biển với cửa Tùng, cửa Việt qua Thạch Hãn, sông Bồ, Mỹ Chánh, Hương Giang… Hai nơi khốn khổ, tội nghiệp nầy đã nâng nhau qua chiến tranh. Quảng Trị đã chịu phần thua thiệt đến đỗi bàng hoàng. Thành phố đã trở nên đống gạch vỡ vụn sau cơn địa chấn Xuân-Hè 1972. Tuy nhiên  trong trận chiến Xuân-Hè 1972, Tướng Ngô Quang Trưởng đã có đủ quân số gồm các Sư Đoàn 1, 2, 3 Bộ Binh và hai sư đoàn tổng trừ bị Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến để trấn giữ vùng lãnh thổ trách nhiệm đã phản công thành công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.
Nhưng bây giờ, 1975 không phải là năm 1972 khốc liệt ấy nữa, người Mỹ đã rút đi cùng bộ máy chỉ huy, tiếp vận tác chiến khổng lồ kể từ 27 Tháng Giêng, 1973, theo điều khoản ấn định bởi Hiệp Định Ba Lê. Và vấn đề xử dụng lại không quân với B52 dội bom cường tập như đã thực hiện suốt mùa Hè 1972 không thể  nào tái lập với Tổng Thống Ford đã bị quốc hội đảng Dân Chủ kiểm soát, khóa tay. Chính phủ Mỹ hoàn toàn tê liệt sau vụ án chính trị Watergate.
Ngày 18 Tháng Ba, sau khi gặp Tướng Phú ở Nha Trang, ông thủ tướng “khôn ngoan nhất” của miền Nam Trần Thiện Khiêm bay ra Đà Nẵng gặp tướng Trưởng để truyền lại lịnh của tổng thống “Sẽ rút sư đoàn Dù; còn sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ trả lại cho Sài Gòn sau đó.” Tướng Trưởng không có gì tăng cường. Không còn gì hết. Tướng Trưởng cố gắng lần cuối. Ông bay về Sài Gòn ngày 19 Tháng Ba, họp cùng với các ông Thiệu, Khiêm, Viên và cả phó Tổng Thống Hương. Ông cam đoan có thể giữ được Huế, Đà Nẵng, nếu đừng lấy đi những lữ đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến còn lại.
Ông Thiệu tỏ vẻ ngần ngại trước quyết định sẽ rút một phần nào về Vùng I. Để cụ thể thêm cho ý niệm trên, ông chuẩn bị đọc một bài diễn văn với ngôn từ mạnh mẽ tỏ rõ quyết tâm bảo vệ Huế. Nhưng khi Tướng Trưởng vừa trở lại Đà Nẵng, ông nhận tin Huế đang bị đánh mạnh. Ông gọi về Tướng Viên; ông Viên đẩy qua ông Thiệu. Tướng Trưởng đành phải nói thật “…Tổng thống nên hoãn lại bài diễn văn… Huế không thể giữ được.” Thật ra ông Thiệu hiểu rõ hơn ai hết khả năng cố thủ của Huế. Ông ta muốn dành viên đạn ân huệ cho chính tự tay Tướng Trưởng.

Huế, Tháng Tư, 1968. (Hình: Flickr manhhai)

Cùng ngày 18 Tháng Ba, phó Đại Sứ Lehmann gởi điện văn về Tòa Bạch Ốc, nhờ chuyển bản tường trình đến Đại Sứ Martin đang chữa bệnh ở Bắc Carolina. Lehmann báo tin về khả năng phía VNCH có thể bỏ Huế với dấu hiệu chiến xa, thiết vận xa đang rút về Nam và Thủy Quân Lục Chiến bỏ Quảng Trị. Ông đại sứ biết được – đã đến lúc chính ông, không ai khác, phải chịu mối “khổ nhục kế” của quốc gia ông nơi xa. Tóm lại, thế trận được đặt trên tuyến phương trình kỳ cục: “Người Mỹ không biết ông Thiệu đang tính toán những gì. Sài Gòn thì hoàn toàn mù tịt về những gì đang xảy ra ở Hà Nội.” Nên không biết được rằng Hà Nội đã chấp thuận đề nghị của Văn Tiến Dũng (sau thành công quá lớn ở mặt trận Tây Nguyên) – Đánh rộng ra toàn miền Nam, khai triển thuận lợi từ Ban Mê Thuộc và Pleiku
Từ Ban Mê Thuộc, Sư Đoàn F10 tiếp tục hành quân về đồng bằng theo quốc lộ số 21, Sư Đoàn 320 cắt miền Trung tại Tuy Hòa, đâm xuống Nha Trang. Nha Trang sẽ là điểm hẹn của hai sư đoàn này trước khi tiến về Nam, hướng Sài Gòn. Riêng tại vùng I, Tướng Trưởng bị tấn công một lúc từ cả hai hướng Bắc và Nam. Trên nguyên tắc, sau Tháng Mười, 1973, khi Hà Nội, cục R phát lệnh đánh trả và ông Thiệu ra chỉ thị “Tái tổ chức, phối trí” từ hạ tầng cơ sở hành chánh và quân đội… Lính nghĩa quân được đôn thành địa phương quân, lính địa phương tập trung lại thành tiểu đoàn chủ lực và các sư đoàn diện địa phải cơ động trong khu, vùng trách nhiệm.
Nhưng đấy chỉ là lý thuyết và hoàn toàn là lý thuyết. Người lính địa phương quân của Tiểu Khu Quảng Trị, Thừa Thiên không hề được chuẩn bị, trang bị để đương cự lại những sư đoàn chính quy Bắc Việt, thế nên khi Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, cùng với liên đoàn Biệt Động Quân vừa rút khỏi Quảng Trị, dân chúng ùa đi theo. Tỉnh trưởng Quảng Trị khuyên công chức cho gia đình di tản. Tất cả tràn về Huế, và Huế sau dấu ấn Mậu Thân 1968 và nỗi khiếp sợ từ 1972… Theo luồng cuồng nộ bi thảm này chạy về Nam, vượt đèo Hải Vân.
Ngày 25 Tháng Ba, sáu giờ, Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Huế. Lính Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động, Sư Đoàn I đồng tập trung tại Vĩnh Lộc, nơi cửa biển Thuận An, Đông-Nam Huế. Đề đốc Chung Tấn Cang gởi một số vận tải hạm ra cửa Thuận An đón đoàn quân cùng đám dân chạy loạn. Nhưng muốn đến bờ biển, lên tàu lớn, đoàn người di tản phải qua phà Thuận An, và tại đây lại một lần tái lập cảnh tượng địa ngục nơi Sông Ba, Tuy Hòa mười ngày trước. Thật sự chỉ đúng một tuần. Điều đau đớn này xảy ra như một chuyện tất nhiên.
Trong tất cả các hình thái hành quân, rút lui là một loại chiến thuật khó khăn nhất, bởi lẽ tự nó vốn đã mang yếu tố thất bại, thua cuộc. Không thể có một giải đáp tốt cho vấn đề đã vốn xấu, thế nên không hề có được một cuộc rút lui thắng lợi. Nếu có được một cuộc rút lui tương đối thành công của quân sử thế giới thì đấy là lần di tản 350,000 lính đồng minh từ mõm Dunkerque qua Anh năm 1940. Nhưng Dunkerque là một cứ điểm phòng thủ với yếu tố thuận lợi do hệ thống sông, lạch chia cắt với đất liền và bin vây kín trước mặt. Cuộc triệt thoái với hơn nghìn tàu đủ loại của Anh và Pháp điều động, chỉ huy bởi những sĩ quan, tướng lĩnh kỳ tài của hai đạo quân có truyền thống và tổ chức cao. Hai quân đội kia còn có một thời hạn tương đối đủ (từ giữa Tháng Năm đến Tháng Tư Tháng Sáu, 1941) và một hậu phương nước Anh kiên định vững vàng.  

Người lính miền Nam cũng vấp phải tình thế không thể nào xoay trở, trước mũi súng anh chỉ thấy nhấp nhô trùng điệp vạn đầu tóc rối chạy loạn... (Hình: Flickr manhhai)

Tháng Ba, 1975, ở Đà Nẵng, Việt Nam, Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ có một vài giờ, một hai ngày và những lệnh, phản lệnh từ Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu. Những người lính, dân tại cù lao Vinh Lộc, tại cửa Thuận An lại càng khốn khổ hơn.

Bắt đầu là vô tổ chức, tiếp tới hỗn loạn và sau cùng là… bạo loạn. Công binh không thể bắc phà qua sông, tàu lớn không vào sát bờ, người di tản trong cơn khiếp đảm khi cái chết dâng đầy, tràn ngập phải vùng vẫy tuyệt vọng từng giây phút ngắn tranh sống. Tiền sát viên pháo binh Cộng Sản điều chỉnh mục tiêu không phí một quả đạn.
Đoàn người trần trụi trên dòng sông dưới đạn pháo. Sông là nhánh chảy ra phá Tam Giang, dòng nước đã soi bóng lửa thu ở rất lâu. Từ năm 1946, năm vỡ mặt trận Việt Minh chống Pháp. Năm nay, 1975, người Cộng Sản bắn vào ai? Chống ai?
Cảnh bi thảm không phải chỉ bày ra nơi cù lao Vinh Lộc, cửa Thuận An. Một trăm cây số đường từ Huế vào Đà Nẵng dày đặc xe và người chạy loạn. Lúc đầu người ta sử dụng xe vận tải, xe du lịch, GMC… những xe động cơ bốn bánh, hai bánh. Tất cả đều chất cứng đồ đạc và lăn từng thước, từng chục thước đưng.
Quân Cộng Sản không hề chậm chạp, lập ngay những chốt chặn ở những vùng núi đèo Phú Gia, Phước Tượng, ở Cầu Hai, Nong, Truồi… Bất cứ nơi nào thuận lợi cho việc phục kích. Lính Sư Đoàn 1 Bộ Binh, đơn vị đã từng giữ vững Bastogne, Checkmate… Đơn vị đã nhảy xuống Tchépone Hạ Lào, những tiểu đoàn bộ binh hàng đầu của quân lực miền Nam, đại đội trinh sát lừng lẫy Hắc Báo, tất cả đều bị đám thân nhân, gia đình binh sĩ cồng kềnh rối rắm, tan nát, âu lo bó tay. Người lính nào chiến đấu được với con trên lưng, vợ đang cơn nguy khốn?! Thế nhưng đoàn người vẫn phải lần từng bước đường về Nam, hướng đèo Hải Vân. Và khi xe hơi bị tắc nghẽn trong vũng lửa, chiếc honda đổ nhào xuống hố vực, người bế con lên tay, đầu gục xuống cất từng bước...

Con tui hắn chết rồi! Tui biết làm chi bây chừ “en” ơi! (Hình: Flickr manhhai)

Đèo Hải Vân đây rồi! Những người đã chạy từ Quảng Trị, Mỹ Chánh, Phong Điền, An Lỗ chen chân lên đường đèo ngầy ngật khói đen dày. Vẫn còn những đơn vị lính Cộng Hòa giữ vững tay súng, Tiểu Đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến nhận bàn giao từ Lữ Đoàn I Nhảy Dù, trấn giữ đèo Hải Vân, ngăn quân Cộng Sản ở mặt bắc Quảng Nam-Đà Nẵng. Nhưng một tiểu đoàn trong chiến tranh buổi tàn cuộc có là bao?!
Năm 1944, quân đội đồng minh muốn giữ vững Bastogne giữa vòng vây Đức phải có một đơn vị sư đoàn – Sư Đoàn 82 Nhảy Dù Mỹ do viên sĩ quan ngoại hạng, Maxwell Taylor chỉ huy. Tiểu Đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến nay đối diện với ba sư đoàn bộ binh nặng, một lực lượng gồm các trung đoàn, tiểu đoàn Cộng Sản địa phương, một vùng đất dài từ chân đèo, xã Lăng Cô cuối tỉnh Thừa Thiên ra đến sông Thạch Hãn, Quảng Trị, vùng đất bị lực lượng Cộng Sản lấn chiếm từ Mùa Hè 1972.
Và xa hơn là Cửa Việt, Gio Linh, sông Bến Hải, vùng “giải phóng” đã được thâu đoạt, củng cố từ 1972, 1973. Cuối cùng, xa hơn nữa, rộng hơn nữa – một miền Bắc xã hội chủ nghĩa “hậu phương lớn” của “tiền tuyến lớn miền Nam.” Nhưng hẳn chỉ ngừng lại ở đây, tăng cường, trợ lực cho Cộng Sản Bắc Việt còn có nước Trung Hoa mênh mông, Liên Bang Xô Viết vĩ đại, khối thành trì của phe xã hội chủ nghĩa đang luôn chờ đợi, luôn chực sẵn cánh tay kéo dài xuống phương Nam – giấc mộng bền bỉ dài lâu của các chủng tộc người Hoa, Mãn, Slave… Tiểu Đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến QLVNCH không thể nào đương được như một lý đương nhiên.
Người lính miền Nam cũng vấp phải tình thế không thể nào xoay trở, bởi trên đường đèo, trước mũi súng anh chỉ thấy nhấp nhô trùng điệp vạn đầu tóc rối chạy loạn, tràng âm thanh thấp thỏm bi thương…  “En” lính Cộng Hòa ơi! “En” lính Cộng Hòa ơi! Tiếng kêu một lần anh nghe được từ Mậu Thân, từ Mùa Hè Đỏ Lửa 72. “En” ơi… Con tui hắn chết rồi! Tui biết làm chi bây chừ “en” ơi! Người mẹ quê thất sắc, mắt lạc thần, giở vạt áo dài, đứa con nhỏ say nắng, bầm tím, chết ngạt từ bao lâu. Người đàn bà ngồi xuống lề đường trên đá núi, gục đầu vào xác thân nhỏ bé sâm sấp tử khí gây gây. Chẳng phải người lính, đến Thượng Đế chắc cũng phải bật khóc gào lên.
Đà Nẵng không chỉ bị ép từ phía Bắc, mà cả từ phía Nam, vùng đất Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi đã bị cắt đứt ra từng mảnh nhỏ và người dân từ những nơi này tràn về Đà Nẵng để tìm một chỗ xuôi Nam. Và địa ngục tăng thêm cường độ nơi bến tàu, nơi chân cầu Trịnh Minh Thế, bến cá chợ Hàn, căn cứ Hải Quân Tiên Sa. Người ta dùng lưới để móc những kiện hàng quái dị…
Đám người tan tác rền rĩ khóc la khản đặc. Nhưng dẫu có bị móc đi bằng lưới hoặc giành được một chỗ trên phi cơ (dân hoặc quân sự, kể cả máy bay Mỹ), những người rời xa Đà Nẵng cũng còn thở được hơi dài… Đã thoát khỏi chết. Đã thoát khỏi Việt Cộng. Thoát khỏi một thành phố tràn ngập tiếng động từ những kho hàng bị cướp phá, người bị cướp, bị giết kêu cứu… Đám tù quân phạm từ những trại quân lao tràn ra, trả thù những năm tháng giam giữ với cách phát triển bản năng ác độc từ lâu ức chế với cách thức thú vật hung tàn.

Máy bay cất cánh với chân, tay người thò ra nơi khoang chứa bánh đáp! (Hình: Flickr manhhai)

Cơn hấp hối của Đà Nẵng không kéo dài. Ngày 27 Tháng Ba, pháo binh Cộng Sản bắt đầu bắn thăm dò vào Đà Nẵng từ những vùng lân cận vừa lấn chiếm. Bộ Tư Lệnh mặt trận Bình-Trị-Thiên phối hợp với mặt trận B2, Quảng Nam-Đà Nẵng quyết định dùng Sư Đoàn 324 và 325C từ mạn Bắc chiếm đèo Hải Vân đổ xuống; từ hướng Nam và Tây Nam hai Sư Đoàn 407 và 711 đánh lên.
Chiến trận được hai trung đoàn pháo và thiết giáp yểm trợ. Hỏa lực của pháo binh Cộng Sản tập trung vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và căn cứ Hải Quân Tiên Sa, các địa điểm thực hiện kế hoạch di tản. Nhưng thực tế không còn kế hoạch nào nữa, bởi vì các điểm, căn cứ đã là những vị trí hỏa tập.
Đặc công Cộng Sản trà trộn vào đám đông điều chỉnh từng quả đạn nổ chính xác giữa những thân người chen chúc. Ngoài khơi Đà Nẵng một hạm đội chực sẵn gồm tàu Việt Nam Cộng Hòa, Đại Hàn,  Đài Loan, Úc, Anh, Phi Luật Tân… Và lẽ tất nhiên có tàu hải quân và dân sự Mỹ. Nhưng bởi Mỹ là nước “cam kết” tôn trọng thực hiện Hiệp Định Paris, nên Tổng Thống Ford đã ra lệnh cho tàu Mỹ không được vào hải phận Việt Nam.
Do thái độ “nghiêm chỉnh” của Mỹ và đồng minh phe tự do, người tị nạn phải đội con lên đầu, cõng mẹ sau lưng lần từng bước, dò đáy biển tiến ra khơi! Thây người mắc vào gềnh đá trôi sâm sấp. Qua ngày 28, bãi biển đã thành một nghĩa địa bồng bềnh xê dịch. Người sống sót rẽ thây chết đi ra phía trùng dương mờ đục khói. Khói sóng và khói đạn pháo binh, hỏa tiễn.
Nhiều trường hợp xác chết biến thành cái phao để người “chưa chết” bám víu vẫy vùng, cố sống. Cố gắng sống thêm vài phút ngắn. Trong đám người tan vỡ này có Tướng Ngô Quang Trưởng. Ông bơi ra một chiếc xuồng rồi lên một tàu của Hải Quân Việt Nam do trợ lực của một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến. Chiếc tàu đã biến dạng bởi binh sĩ đã ngồi tràn lên cả cột cờ, ụ súng. Trông giống như tổ kiến khổng lồ trôi dạt trên sóng biển. Tình cảnh trên những tàu dân sự ngoại quốc càng tồi tệ hơn. Gần mười  ngàn người chồng chất lên nhau trên một chiếc tàu chở hàng với vài chục thủy thủ. Ngàn con người không nước uống, không thức ăn cào xé nhau dưới hầm tàu nghẹn thở hoặc trên boong sắt bốc hơi nóng dưới mặt trời đầu Hè của miền Trung.
Tàu Victoria chở người di tản ghé Cam Ranh. Người cha bế đứa con bước xuống bãi cát trắng. Cát nóng sôi lúc nhúc những đầu người cuống quýt. Không một tiếng động lớn, không ầm ĩ ồn ào, chỉ khẽ rít nhỏ rầm rì giữa những cánh môi khô nẻ, trắng bọt xám… Nóng quá!! Khát quá!! Chiếc tàu họ vừa rời khỏi đã là một nghĩa địa di động, nhưng khốn khổ hơn những lò thiêu người Do Thái ở Auschwitz, Birkenau, bởi hơi nóng của vỏ, sàn tàu dưới mặt trời không đủ nhiệt để đốt cháy da thịt người.
Trên sàn, dưới hầm lềnh kênh những thây chết chưa đúng nghĩa… Những người ngộp thở vì bị đè, ép, dẫm lên. Người già và trẻ em chiếm phần lớn. Những sinh vật vô tội và vô hại đối với bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ lực lượng vũ trang nào. Các cuộc tấn công quân sự của lực lượng Cộng Sản khởi đi từ Tháng Ba đã biến những xác chết này nên thành chứng cớ của tội lỗi. Và họ phải chịu cơn hấp hối từ rất lâu trước khi “được” chết để đền xong mối tội. Tội đã sinh và sống nơi vùng “tạm chiếm của bọn ngụy quân, ngụy quyền” – Tội làm người nơi nước Việt, ở miền Nam.
Nha Trang cùng lâm cơn hấp hối với Đà Nẵng. Người Nha Trang bị dồn ép, bị đuổi siết bởi những người chạy loạn từ Pleiku, Phú Bổn xuống; từ Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi ùa vào… Tất cả lại chuẩn bị lên xe, hướng phía Nam, Phan Thiết, Bình Tuy… Sài Gòn.
Sài Gòn, như kẻ phụ tình cay đắng cuối đi không thể rời bỏ. Và cảnh cũ của Bến Cá, phi trường Đà Nẵng lập lại tầng tầng bi thảm nơi Cầu Đá, phi cảng Nha Trang. Máy bay cất cánh với chân, tay người thò ra nơi khoang chứa bánh đáp! Dọc đường Số 1 những chiếc trực thăng chở khẳm chòng chành rơi vãi những thân người tan tác theo luồng gió và cánh quạt động cơ đùa đi. Và biển Đông lại nhận thêm được những tặng phẩm khốn cùng mới mẻ…
Những thây người vào ra sâm sấp theo triều sóng ngậm ngùi. Tượng Thánh Mẫu Thiên Y từ đỉnh cao Tháp Bà đầu cầu xóm Bóng, Nha Trang một đêm bất ngờ, vô cớ rơi xuống! Hàng triệu sâu bọ từ mạch đất sâu bật tung bò ra lềnh đặt hơn cây số đưng từ Cam Ranh đi Phan Rang. Đoàn người chạy loạn dẫm lên nghe nhầy nhầy, sừng sực như đạp phải thây chết. Chẳng ai để ý.
Tất cả đã quen với cái chết. Con người đang chết. Sự chết toàn diện của lần tận diệt. Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc miền Nam. Bắt đầu từ ngày 10 Tháng Ba ở Ban Mê Thuộc. Không cần đủ hết Tháng Ba.

Tình hình quân sự miền Nam hoàn toàn suy sụp, Mỹ quyết định chấm dứt sự dính líu đến VNCH! (Hình: Flickr manhhai)
Bốn.

Tháng Ba, 1975, ở Mỹ có nhiều ý kiến về Việt Nam. Điển hình với người công dân Milliard E. Crane ở Fonda, New York, trong lá thư gởi ban biên tập báo Newsweek viết nên lời thống thiết: Tinh Thần 76 đâu rồi? Hôm nay nước Mỹ đứng yên nhìn Cambodia, tiếp đến Việt Nam lần lượt rơi vào nanh vuốt bọn xâm lược.
Và như quân bài domino dần tan rã, phải chăng lần tới sẽ là Thái Lan, rồi đến Nam Hàn, Trung Hoa Dân Quốc với Đài Loan và tiếp tục nữa chăng? Những dân tộc này đã và đang chiến đấu cho những lý tưởng quan yếu như chúng ta hằng chống lại đế quốc Anh.
Chúng ta đốt pháo bông ăn mừng khi hỏa tiễn dày xéo tự do ở nơi bên kia thế giới được chăng? Chúng ta nên cần một Patrick Henry nung nấu dòng máu và một George Washington giữ thẳng xương sống chúng ta.
Nhưng hòa bình lại không do từ những con người trên, hòa bình đến bởi Kissinger, người phải ngậm cục kê vào miệng – giải thưởng Nobel Hòa Bình để không thể nói một lời gì khác ngoài việc phải hô hào bảo vệ cho kỳ được nền “hòa bình trong danh dự” mà ông ta đã phải xoay trở mãi từ 1968 đến Tháng Giêng, 1973, mới ráp nối được.
Hòa bình đó đã tồn tại đến những hai năm, hai tháng cho dù đôi khi lâm bệnh ngặt nghèo với vụ lấn chiếm Tống Lê Chân và Phước Long.
Nếu “Hòa Bình” phải cơn hấp hối như hôm nay (Tháng Ba, 1975) thì ắt phải do… Nguyễn Văn Thiệu “một người tuyệt vọng đến độ phát hoảng” và dù cho miền Nam có mệnh hệ nào thì “Việt Nam cũng không phải là tận cùng thế giới” và đây cũng là lỗi của Quốc Hội – nơi đảng Dân Chủ kiểm soát Hạ lẫn Thượng Viện, với Kennedy, Johnson đã đưa cuộc diện Việt Nam vào bãi lầy nên phải cậy đến khôn ngoan rất mực của ông ta mới tìm ra lối thoát.  Mà việc này ông đã “hoàn tất một cách xuất sắc” với giải Nobel Hòa Bình cao quý!
Tóm lại, chỉ còn đôi lời cam kết giữa hai tổng thống Nixon và Nguyễn Văn Thiệu! Cũng không có gì khó, sẵn vụ năm anh Cuba đột nhập vào tòa nhà Watergate của đảng Dân Chủ, lục túi thấy một đống đô la vừa tiền mặt, vừa tín phiếu, và sỗ ghi các điện thoại. Truy tầm một hồi thì thấy ngay xuất xứ của số tiền, các tín phiếu này (dù qua một hệ thống nhiều ngân hàng của Mỹ và Mễ Tây Cơ) vốn từ quỹ vận động bầu cử Tổng Thống Nixon!  Chạy thế nào thoát.
Hai ký giả Bernstein và Woodward của báo Washington Post vớ phải ngay một “ông nằm vùng, bí danh Deep Throat” từ đâu trong Bạch Cung. Ông này hằng tuần hẹn hò trên trang 20 báo Post dò hỏi cách gặp gỡ.  Và nếu khẩn cấp thì gọi nhau, cho ám hiệu. Thế là, ông Nixon chửi thề như thế nào, ông John Mitchell nói cái gì, cố vấn Haldeman thở than với vợ ra làm sao… Tất cả đâu đó đã sẵn để hai ông nhà báo lựa chọn, ra tin.

Chỉ một Tháng Ba, 1975, miền Nam mất $700 triệu chiến cụ. (Hình: Flickr manhhai)

Giằng co một hồi đến 8 Tháng Tám, 1974, thì Tổng Thống Nixon buộc phải từ chức! Ai hứa với ai gì nào? Tổng thống kế nhiệm Gerald Ford khi đến Palm Spring, California, chơi golf bị ký giả truy hỏi về tình hình Việt Nam; vừa chạy vừa cười tươi. Chiến tranh Việt Nam đã là dĩ vãng! Đến một lúc sau khi nói chuyện với doanh nhân, nhân viên chính quyền cao cấp ở San Diego ông mới nói thật…
“Tình hình quả thật bi thảm và chúng ta cần một ý nghĩa mới về đoàn kết quốc gia tại thời điểm đau buồn, hỗn loạn này…” Nhưng ông cũng không quên yêu cầu Quốc Hội chuẩn y phần viện trợ khẩn cấp. Sự cố gắng của tổng thống Hoa Kỳ được hiện thực. Quân cảng Vũng Tàu, Tân Cảng cầu xa lộ Sài Gòn được tiếp nhận thêm một số quân trang, quân cụ, vũ khí mới…  Súng 105 đời Thế Chiến Thứ II, nón sắt, ống nhòm, và súng colt và xe GMC. Chỉ một Tháng Ba, 1975, miền Nam mất $700 triệu chiến cụ đến nỗi một viên chức Ngũ Giác Đài phải ngao ngán thốt lên: “Tốt hơn hết chúng ta nên chuyển thẳng cho Hà Nội, như thế khỏi phải bị hư hao…”
Khi bị chất vấn về 58,000 quân nhân Mỹ tử trận ở Việt Nam, vị tổng thống không do đấu tranh, bầu cử mà nên chức phận, đã ngậm ngùi than vãn: “Chúng ta quả thực không thực tế một chút nào vì đã quá trịnh trọng cam kết tại hội nghị khi đã chấm dứt tranh đấu ở Việt Nam.” Và nếu có đôi chút thành thật họa chăng là lời thú nhận cay đắng của Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller… “Tôi e rằng một số người Việt đang dần chết… Trong khi, chúng ta vẫn tiếp tục sống…” Nói như thế kể ra cũng đủ gọi là thành tâm!
Trong ngày đầu Tháng Tư, 1975, cựu Bộ Trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã lúc ấy giữ chức vụ cố vấn riêng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã có mặt tại Tân Gia Ba theo lời mời của Thủ Tướng Lý Quang Diệu.
Thủ Tướng Lý mời Cố Vấn Nhã đến để trao gởi một nguồn tin quan trọng. Ông vào thẳng vấn đề: “Đừng để mất thì giờ vô ích, tôi mời ông tới đây bởi kết thúc ở Việt Nam sắp xảy ra, đang phải đến.” Thủ Tướng Diệu nói rõ: Phó Tổng Thống Mỹ Rockefeller vừa hỏi ý kiến ông cũng như những vị lãnh đạo Á Châu khác là: “Liệu chúng ta có cách gì để đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra đi hay không.” Hóa ra chuyến viếng thăm không chính thức các nước Đông Nam Á của Phó Tổng Thống Rockefeller nhân dịp viếng lễ tang Thống Chế Tưởng Giới Thạch vừa qua tại Đài Loan vào ngày 5 Tháng Tư là để thông báo một điều quan trọng: Đã đến lúc chính phủ Mỹ cần thay người cầm quyền ở Nam Việt Nam.
Ông Hoàng Đức Nhã liền thông báo cho Tổng Thống Thiệu nguồn tin chẳng mấy phấn khởi này, một phần ông cũng đã hiểu ra thực tế: Giới quân nhân, những tư lệnh các quân khu qua tình hình chiến sự đã không còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu vốn là một tướng lãnh quân đội.
Cuộc rút bỏ Tây Nguyên vào ngày 15 Tháng Ba tiếp theo lần di tản Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang… vào cuối Tháng Ba với chuỗi thảm cảnh kinh hoàng của dân và lính vượt khỏi tất cả những dự kiến, làm tan vỡ sức chiến đấu, phá hủy quân trang cụ, vũ khí của hai Quân Khu I và II đã bày ra điều cùng cực phi lý và tàn nhẫn: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đã không kiểm soát đượcc tính hình chính trị lẫn quân sự của miền Nam. Hơn thế nữa lời thông báo của Phó Tổng Thống Rockefeller không là ý kiến riêng của người lãnh đạo ở Tòa Bạch Ốc nhưng là phản ảnh thực tế về quyết định của chính giới Mỹ đối với tình thế chung cho toàn vùng Đông Nam Á. Đấy là Mỹ rút ra khỏi vùng này theo thỏa thuận với Trung Cộng từ thông cáo Thượng Hải ký năm 1972 giữa Châu Ân Lai và Nixon. Tổng Thống Thiệu làm sao không biết thì ai biết tới kết thúc này? Không biết chính xác lúc nào mà thôi!
Ngày 12 Tháng Tư, Nam Vang, Cambodia, thất thủ, tất cả bộ trưởng của nội các Long Boret chỉ trừ một người thuận di tản theo đề nghị của Tòa Đại Sứ Mỹ, tất cả đồng ở lại với đất nước và đã là những nạn nhân bị hành quyết đầu tiên bởi cách hành hình man rợ của đám đao phủ Khmer Đỏ.

Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Hoa Thịnh Đốn trở về với tin sét đánh: “Không những không có $300 triệu quân viện bổ sung mà có thể không còn viện trợ quân sự nữa!” (Hình: Flickr manhhai)

Điển hình là vị cố vấn chính trị Sirik Matak của Tổng Thống Lon Nol đã có lá thư tuyệt mệnh gởi đến Đại Sứ Mỹ Dean John với lời lẽ khẳng quyết bi tráng như sau: “Kính gởi ngài đại sứ và các bạn… Tôi chân thành cảm ơn lá thư ngài chuyển tới với đề nghị giúp tôi phương tiện đi đến vùng tự do. Nhưng hỡi ơi, tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như thế được. Xin ngài cứ ra đi, và tôi cầu chúc ngài cùng đất nước Hoa Kỳ có được nhiều điều hạnh phúc dưới cõi trời này. Nếu tôi có phải chết thì cũng chết trên đất nước mà tôi vô cùng yêu quý dẫu cho đấy là điều bất hạnh, nhưng chúng ta ai chẳng sinh ra và một lần mất đi. Tôi chỉ phạm một lỗi lầm là đã tin vào ngài và tin vào những người bạn Mỹ.”
Từ tình cảnh của Cambodia hiểu ra tình thế của miền Nam khi tình hình quân sự hoàn toàn suy sụp, và Mỹ quyết định chấm dứt sự dính líu đến VNCH!
Ngày 8 Tháng Tám, 1974, Tổng Thống Richard Nixon từ chức, Phó Tổng Thống Ford lên kế vị, vốn là một chủ tịch Hạ Viện được kế vị do hiến định nên khoán trắng vấn đề đối ngoại, an ninh quốc gia cho Cố Vấn kiêm Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger.
Số phận Việt Nam được quyết định với viện trợ kinh tế bị cắt khoảng 50% (theo đề nghị của Thượng Nghị Sĩ Kennedy), và viện trợ quân viện được xác nhận ở số $625 triệu, có thể chỉ là $500 triệu (tức cắt đến 60%).
Tháng Mười Hai, 1974, tỉnh lỵ Phước Long bị mất, Tổng Thống Ford, Ngoại Trưởng Kissinger đã không có hành động đáp ứng cụ thể nào như đã hứa hẹn, cam kết. Tổng Thống Gerald Ford lại bị trói buộc toàn diện bởi Nghị Quyết Sử Dụng Vũ Lực Chiến Tranh đã được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn từ Tháng Mười Một, 1973. Nghị quyết này hiện thực đạo luật cắt bỏ quỹ “Hoạt Động Tác Chiến” vốn được dùng để yểm trợ cho chiến cuộc Đông Dương trước Hiệp Định 1973.
Tổng Thống Ford cố làm yên lòng Tổng Thống Thiệu bằng cách cử một phái đoàn do Thứ Trưởng Quốc Phòng Clements sang Sài Gòn; ông Thiệu chỉ định Đại Sứ Trần Kim Phượng, Bộ Trưởng Vương Văn Bắc sang gặp Tổng Thống Ford. Tổng thống Mỹ hứa cứu xét đến quân viện bổ sung $300 triệu để phục hồi lại $1 tỷ như hoạch định. Cần nhắc lại những số liệu để so sánh: 1/Giai đoạn 1966-1970: Mỹ tiêu $25 tỷ/năm bởi có 500,000 quân Mỹ và đồng minh đang tham chiến. 2/1970-1971: $12 tỷ/năm vì đang rút quân. 3/Sau khi Mỹ rút hết quân thì: 31/Tài khóa 1973: $2.1tTỷ; Tài khóa 1974: $1.4 tỷ; Tài khóa năm 1975: $700 triệu. Vậy nếu có được $300 triệu bổ sung thì quân viện năm 1975 cũng chỉ được $1 tỷ.
Khi quân Cộng Sản miền Bắc khởi đầu tấn công Ban Mê Thuộc trong ngày 10 Tháng Ba; Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Hoa Thịnh Đốn trở về với tin sét đánh: “Không những không có $300 triệu quân viện bổ sung mà có thể không còn viện trợ quân sự nữa!”
Như thế, $300 triệu (dự trù bổ sung) vào ngày 13 Tháng Ba, 1975, đã trở thành “Số Không” vì đảng Dân Chủ kiểm soát cả Hạ lẫn Thượng Viện đã bỏ phiếu với đại đa số: Chống bất cứ viện trợ nào cho Việt Nam kèm theo lời tàn nhẫn: “Viện trợ di tản thì cho, chứ một xu (viện trợ quân sự) cho Thiệu thì không.”
Trong cùng lúc: “Từ 1974 qua 1975, miền Bắc đã đưa vào Nam một số lượng quân trang cụ, vũ khí là 823,146 tấn – gấp 1.6” lần số lượng đã vận chuyển của 14 năm qua (kể từ 1960, năm bắt đầu thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 19 Tháng Mười Hai, 1960).
Người lính VNCH ở chiến trường không biết những số liệu trên, họ chỉ biết: Trước “Hiệp Định Ngưng Bắn Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam, 27 Tháng Giêng, 1973” trên chiến trường, trước khi xung phong vào mục tiêu họ được phi, pháo yểm với số lượng không hạn chế nếu như đụng địch.
Nay năm 1974, 1975, một mục tiêu chỉ còn “Bốn (4) viên đạn 105 ly cho một lần đụng trận.”
Người lính cũng không biết thực tế: Nếu không có biến cố Tháng 30 tháng Tư thì cũng chỉ đến khoảng Tháng Sáu, 1975, đạn tồn kho sẽ hết, và đến tháng 8 là hết sạch.
Báo cáo của Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận Trung Tướng Đồng Văn Khuyên lên Đại Tướng Cao Văn Viên Họ cũng không biết trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh tấn công vào Sài Gòn cuối Tháng Tư: “Toàn thể quân đội miền Bắc đang có mặt ở miền Nam! Lúc ấy chỉ cần một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là có thể chiếm hết miền Bắc.” Người tuyên bố câu tán thán này không ai lạ, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henri Kissinger!

Tướng Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa ở mặt trận Long Khánh.  (Hình minh họa: Flickr manhhai)
Năm.


Tỉnh Long Khánh với thị xã Xuân Lộc trải rộng lên vùng rừng miền Đông Nam Bộ, tả ngạn sông Đồng Nai, nằm trên ngã ba của quốc lộ 20 đi Đà Lạt và quốc lộ I, đường đi ra Hàm Tân, Phan Thiết.
Sau thành công đánh chiếm Cao Nguyên Trung Phần thuộc Vùng II, và Vùng I Chiến Thuật do sự rút bỏ hỗn loạn của quân đội miền Nam trong Tháng Ba; qua Tháng Tư Bộ Tổng Quân Ủy quân đội miền Bắc quyết tâm tiêu diệt miền Nam bằng các áp dụng chiến thuật tập kích tấn công từ một điểm xong mở rộng ra, tránh giao tranh nếu gặp kháng cự mạnh để tất cả đồng nhất tiến về Sài Gòn.
Bí Thư Lê Đức Thọ người được giải Nobel Hòa Bình rời Hà Nội với quyết định của Bộ Chính Trị: “Phải đoạt thắng lợi, chỉ trở về với chiến thắng.” Vào đến miền Nam, Lê Đức Thọ với tư cách là chính ủy chiến dịch Hồ Chí Minh cho phổ biến công điện 37/TK đến với tất cả lực lượng vũ trang đang có mặt tại miền Nam bao gồm 15 sư đoàn quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt.
Tướng Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa ở mặt trận Long Khánh. Tiếng gọi là một sư đoàn nhưng Tướng Đảo chưa hề có đủ lực lượng thuộc quyền cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn.
Đầu Tháng Ba, 1975, Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 18 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 để trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn. Thế nên khi trận chiến Long Khánh bắt đầu vào ngày 9 Tháng Tư, thì Tướng Đảo trong thực tế chỉ có Chiến Đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy.
Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi thị xã Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng. Phần Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh trấn giữ dọc quốc lộ 20 nằm về phía Bắc-Tây Bắc Long Khánh từ Kiệm Tân là cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống đến Ngã Ba Dầu Giây. Đây là giao điểm của hai quốc lộ I và 20, nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc.
Trước khi trận chiến bùng nổ lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48 từ Tây Ninh về. Nhận lại được trung đoàn này, Tướng Đảo sử dụng trấn giữ mặt đông của thị xã Xuân Lộc, đường đi vào quận Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy.
Cũng nói thêm về một đơn vị tăng phái đặc biệt. Đấy là Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Nguyên Tiểu Đoàn 82 vốn thuộc Quân Khu II, khi mặt trận Ban Mê Thuộc bị vỡ, Thiếu Tá Long vừa đánh vừa rút lui xuống đồng bằng.

Những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh, và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đội hình của toán quân Cộng sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi. (Hình minh họa: Flickr manhhai)
 
Từ Ban Mê Thuộc, Thiếu Tá Long đưa đơn vị vượt Cao Nguyên Di Linh băng rừng đi bộ về Bảo Lộc, xong tiếp tục cắt rừng theo hướng Tây-Nam để về Long Khánh. Tướng Đảo đã dùng trực thăng bốc toán quân 200 người sống sót còn lại của đơn vị này về phòng thủ Long Khánh. Với quân số như kể trên, Sư Đoàn 18 Bộ Binh quả thật đã gánh một nhiệm vụ quá khổ dẫu trong thời bình yên chứ chưa nói về tình thế khẩn cấp của Tháng Tư, 1975.


Cần nhắc lại rằng trước 1972 để phòng thủ vùng Long Khánh-Biên Hòa đã phải tăng cường một lữ đoàn thuộc lực lượng Hoàng Gia Úc-Tân Tây Lan, Lữ Đoàn 11 Chiến Xa Hoa Kỳ cùng những đơn vị Bộ Binh, Nhảy Dù Mỹ. Ngoài ra còn có Sư Đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tăng phái, trách nhiệm vùng Long Thành, dọc quốc lộ 15, đường đi VũngTàu.
Tướng Lê Minh Đảo nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn 18 từ sau trận chiến mùa Hè 1972, và ông đã mau chóng tạo nên sự biến đổi thần kỳ cho đơn vị với bản lãnh của một võ tướng là Sống-Chết cùng Binh Sĩ-Đơn Vị. Đối mặt binh đội của Tướng Đảo là Quân Đoàn IV Cộng Sản BắcViệt do Trung Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Sau trận mở màn chiếm đóng Phước Long cuối năm 1974 với chứng tỏ phía Mỹ hoàn toàn im lặng. Cũng tương tự như phản ứng thụ động của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ để mặc Hải Quân Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa, tấn công tiêu diệt Hạm Đội Việt Nam trong Tháng Giêng, 1974.
Để đánh Long Khánh, Tướng Hoàng Cầm được cả một bộ chính trị đảng Cộng Sản Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, yểm trợ, bao gồm: Văn Tiến Dũng, tổng tham trưởng quân đội miền Bắc; Phạm Hùng, bí thư Trung Ương Cục Miền Nam; Lê Đức Thọ, bí thư Trung Ương Đảng giữ nhiệm vụ chính ủy chiến dịch. Tất cả đồng có mặt tại Lộc Ninh, nơi chỉ cách chiến trường Long Khánh, Xuân Lộc hơn 100 cây số đường chim bay.
Ngoài ra sau này khi thắng lợi nghiên về phía quân Cộng Hòa, bộ tư lệnh mặt trận Cộng Sản đã tăng cường thêm Sư Đoàn 325, đơn vị tổng trừ bị quân đội miền Bắc, là lực lượng nỗ lực chính đánh chiếm Nha Trang, Phan Rang và Trung Đoàn 95B biệt lập từ vùng châu thổ Sông Cửu Long kéo lên tăng cường. Cuối cùng nâng tỷ số tác chiến lên thành 8 đánh 1.
Lúc 5 giờ 40 sáng 9 Tháng Tư, 1975, chiến dịch đánh chiếm Xuân Lộc bắt đầu với một trận mưa pháo 2,000 quả đạn từ nhiều vị trí cùng đổ xuống trung tâm thị xã Xuân Lộc như đã từng tàn sát An Lộc trong mùa Hè 1972. Đúng 6 giờ 40, tám xe tăng được lính Trung Đoàn 165, đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 7 Cộng Sản tùng thiết xông vào trung tâm thị xã Xuân Lộc, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 18.
Lính Cộng Sản ngỡ rằng sau đợt pháo hung hãn, và đội hình ào ạt với những chiếc T54, thế nào cũng sẽ tràn ngập mục tiêu dễ dàng như đã xẩy ra ở Vùng I và II của Tháng Ba vừa qua. Nhưng hoàn toàn không phải là như thế.
Những xe tăng này mắc kẹt giữa bãi mìn của một hệ thống tám lớp kẽm gai và mìn bẫy mà Thiếu Tướng Đảo đã sẵn bố trí. Không chỉ thế, những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh, và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đội hình của toán quân Cộng Sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi dưới hỏa lực phi pháo của quân ta.
Mặt Đông của thị xã, dọc quốc lộ I, Trung Đoàn 209 cũng của Sư Đoàn 7 Cộng Sản số phận cũng không mấy khả quan hơn. Bởi đơn vị Cộng Sản gặp phải Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Lính Biệt Động quyết đánh địch để trả hận lần lui quân bi thảm của tháng trước từ mặt trận Ban Mê Thuộc. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 209 bị chôn chân trước tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động và Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung Đoàn 48 của Tướng Đảo.
Chiều tối 9 Tháng Tư, phía Cộng Sản lại dụng tâm gây căng thẳng bằng cách pháo vào khu vực thị xã với khoảng 2,000 quả đạn trên khắp các vị trí, kể cả khu vực dân chúng, nhà thương, nhà chùa, nhà thờ là những nơi dân chúng chạy vào ẩn núp với hy vọng tội nghiệp là Cộng Sản sẽ nương tay…

Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo thấy thấp thoáng bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không gian mờ khói đạn. (Hình minh họa: Flickr manhhai)

 
Đến 5 giờ 30 sáng ngày 11, đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Kết quả cũng tương tự như ngày 9, quân Cộng Hòa giữ chắc vị trí, có khác chăng thêm một số chiến xa bị bắn hạ trên tuyến phòng ngự và một số tù binh bị bắt. Tướng Đảo không quên ra lệnh xuất kho quân tiếp vụ để nuôi số tù binh mới mẻ này.

Những ngày thất bại này được Hoàng Cầm viết lại trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân: “Trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch, Sư Đoàn 7 bị tổn thất 300 chiến sĩ; Sư 341 thiệt hại 1,200 bộ đội… Tất cả pháo 85 và 57 ly đồng bị phá hủy.”
Cùng ngày Không Quân VNCH cũng góp thêm vào chiến thắng qua hủy diệt hơn 100 xe quân sự tăng viện cho mặt trận.
Ở Sài Gòn, không khí lạc quan bừng lên, Tổng Thống Thiệu thúc giục Tướng Toàn cố gắng giữ vững Xuân Lộc để có thế đảo ngược tình thế… Để “B52 có thể trở lại!” Tướng Toàn sử dụng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi từ Trảng Bom cố mở đường tiếp cận với cánh quân Xuân Lộc, nhưng lực lượng thiết kỵ không thành công trong việc phá chốt ở Ấp Hưng Lộc, Biên Hòa.
Không thành công trong việc dùng chiến xa để giải tỏa áp lực Cộng Sản tại Xuân Lộc, Tướng Toàn sử dụng một thành phần hữu hiệu hơn. Đấy là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm bốn tiểu đoàn 1, 2, 8 và 9 được Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù trực tiếp yểm trợ. Cuộc hành quân không vận lớn nhất của trận chiến thực hiện trong hai ngày 11, 12 đưa đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của miền Nam vào trận.
Sự xuất hiện của lực lượng nhảy dù tại trận địa đặt nên vấn đề nghiêm trọng đối với bộ tư lệnh chiến dịch Cộng Sản. Chiều 11 Tháng Tư, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ và Trung Tướng Trần Văn Trà – bộ trưởng Quốc Phòng của tổ chức gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam – thay thế Tướng Hoàng Cầm duyệt soát lại kế hoạch tấn công theo chiều hướng mới.
Bộ Tư Lệnh Cộng Sản quyết định mở một mặt trận giả nhằm đánh lạc hướng quân đội Cộng Hòa bằng cách chuyển hướng tấn công theo đường đi vòng Xuân Lộc để thực sự tiến thẳng về Sài Gòn. Lực lượng Cộng Sản dần rút đi theo kế hoạch mới của họ nên Tướng Đảo lập tức ra lệnh cho các đơn vị chiếm lại những vị trí bị địch chiếm giữ, tiếp nhận thực phẩm, quân trang, đạn dược và tải thương.
Cũng quả thực ông không biết được sự thay đổi quan trọng về kế hoạch mới của Trung Ương Cục Miền Nam chỉ đạo từ Hà Nội. Nhưng ông làm được gì hơn với chức vụ tư lệnh một sư đoàn bộ binh trong giờ phút nguy nan nhất của cuộc chiến khi người Mỹ sắp xếp lại một trật tự mới trên toàn thế giới qua liên hệ với Trung Cộng bằng cách giải quyết hy sinh miền Nam.
Hai trái bom CBU 55 “Daisy Cutter” nặng 15,000 cân Anh rơi xuống từ lòng chiếc C130 phá toang một vùng rộng lớn trong phòng tuyến của quân Cộng Sản dọc quốc lộ 20 tăng cường thêm sự quyết tâm giữ vững Long Khánh của phía quân Cộng Hòa, nhưng cũng chính là màn khói vô tình giúp cho lần rút đi theo kế hoạch mới của phía Cộng Sản để lại 235 xác bộ đội đếm được trên trận địa.
Không một ai trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa, nơi Phòng Hành Quân Tổng Tham Mưu Sài Gòn ước tính được ý niệm hành quân của phía Cộng Sản là sẽ siết chặt Biên Hòa-Sài Gòn với hai gọng kềm theo hai hướng Bắc và Đông bằng cách cắt quốc lộ I ở Dầu Giây và quốc lộ 15 ở Long Thành.
Tòa Đại Sứ Mỹ phấn khởi trước chiến thắng Long Khánh cố nài Quốc Hội Mỹ chuẩn chi $722 triệu quân viện khẩn cấp cho Việt Nam. Nhưng trong phiên họp ngày 17 Tháng Tư, Ủy Ban Quân Sự Thượng Viện đã bác bỏ thẳng thừng qua câu nói bất cận nhân tình của hai Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits và Edmund Muskie: “Cho tiền để lo việc di tản thì bao nhiêu cũng được chứ một xu cho ngân sách quân sự cho Thiệu cũng không có.”
Cuối cùng, ngày 20 Tháng Tư, Tướng Toàn tư lệnh và Đại Tá Thọ, trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn III, đích thân đến giao cho Tướng Đảo một lệnh mơ hồ như vô cùng kích động: “Lệnh của Tổng Thống Thiệu Sư Đoàn 18 rút bỏ Xuân Lộc về bảo vệ mặt trận Sài Gòn.”
Tướng Đảo chỉ có đúng nửa ngày để hoàn tất một kế hoạch rút quân bao gồm lực lượng một sư đoàn cơ hữu cùng các đơn vị tăng phái và yểm trợ, chưa kể thành phần diện địa của Tiểu Khu Long Khánh. Nhưng như một phép lạ, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã hoàn tất cuộc lui binh về Bà Rịa, bảo toàn đơn vị, vũ khí, thậm chí đến hai khẩu pháo 175 ly hạng nặng cũng giao lại đủ cho quân đoàn.
Cũng một phần, lực lượng giữ nhiệm vụ hậu vệ đoàn di tản là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy. Trung Tá Đỉnh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù. Tiểu đoàn 6 là đơn vị đã giải tỏa An Lộc trong trận đánh ngày 8 Tháng Sáu, 1972, mà đơn vị Cộng Sản đóng chốt ở Xa Cam, Nam An Lộc chỉ còn đúng một người bị bắt làm làm tù binh tên gọi là Nguyễn Văn Tiền.
Một điều cần ghi thêm là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh Sư Đoàn, dù đã bất chấp lệnh của tổng tham mưu, nên đã gởi một đơn vị nhảy dù khác là Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô, đơn độc đưa quân đi ngược Tỉnh Lộ 2 từ Bà Rịa lên Long Khánh đón đoàn quân di tản. Tiểu Đoàn 7 Dù là đơn vị cuối cùng chận giặc nơi Cầu Xa Lộ, cửa ngõ chính của Sài Gòn ở hướng Bắc trong buổi sáng 30 Tháng Tư.
Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, buông súng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dừng quân trên xa lộ Biên Hòa, nhìn về hướng Trường Bộ Binh Thủ Đức, Long Thành, Bà Rịa, và xa kia là Xuân Lộc, Long Khánh, gần hơn Trung Liệt Đài của Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình… Ông thấy thấp thoáng bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không gian mờ khói đạn…
Người lính cuối cuộc chợt thoáng nhớ những lời thơ ngắn: “Vì anh là lính áo rằn/ Ra đi nào biết mấy trăng mới về…” Những câu thơ của em ông, Cố Trung Tá Lê Hằng Minh, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến “Trâu Điên,” người lính đã ra đi từ một ngày Hè năm 1966 nơi chiến trường Thị Thiên, ở chân cầu Câu Nhi Phường.
Phường Câu Nhi, quận Phong Điền, Thừa Thiên là những nơi đâu? Rất nhiều Người Lính đã ra đi, không trở về từ những vùng đất không hề biết.
Hôm ấy, sáng 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều người lính không còn chốn trở về – Những Người Lính Mất Quê Hương.
Cali, 15 Tháng Tư,
Ngày mất Phan Rang, 1975,
Mùa Chúa Thương Xót 2019.
 Phan Nhật Nam