TƯỞNG NHỚ HẠM TRƯỞNG NGỤY VĂN THÀ VÀ CÁC CHIẾN SĨ HẢI QUÂN VNCH ĐÃ HI SINH
Hoàng Sa
Hoàng Sa là của Việt Nam. Hoàng Sa Hoàng Sa quần đảo quê ta, từ ngày
giặc chiếm, Biển Đông phong ba, tàu lạ cướp giết ngư dân đau thương. Hoàng Sa Hoàng Sa là bản hùng ca, Hoàng Sa Hoàng Sa lời thề còn vang, người người còn nhớ, niềm đau quê hương, Tầu Cộng xâm lăng quần đảo thân yêu. Năm tháng trôi qua vẫn ghi lòng. Lời thề cương quyết giữ non sông. Sóng
nước mênh mông còn ghi dấu vết, người chiến sĩ Hải Quân, trận tử chiến
năm xưa. Hoàng Sa Hoàng Sa là của Việt Nam, vang vang lời thề, vang vang
lời thề, vang vang lời thề , chiếm lại Hoàng Sa.
Trương Vĩnh Ký,
người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế
kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách
tận tường.
Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải
cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của
ông vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long. Sau
30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn bị
đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng
tôi thường tranh luận về "công và tội" của Petrus Ký khi mượn tay người
Pháp giúp nền văn học nước nhà. Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư "Sic vos non vobis". Hồi
ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là "Ở với họ mà không theo họ", vừa
tránh dẫn đến chuyện bị quy kết "phản động", vừa tỏ bày tâm sự "Ở với
cộng sản mà không theo cộng sản". Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh "Sic vos non vobis" có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký. Winston Phan Đào Nguyên phổ biến trên trang 'Nghiên Cứu Lịch Sử'
bài "Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu 'ở với họ mà không theo
họ' ", theo tác giả thì Pétrus Ký dùng một nghĩa khác của ngạn ngữ là
"Làm điều lợi cho người khác chứ không cho chính mình." Tác giả đã
trình bày rất rõ và rất thuyết phục triết lý sống của Pétrus Ký là mỗi
người phải làm tròn vai trò hay số phần trong đời để làm cho xã hội của
mình tốt đẹp hơn. Cuộc đời của Pétrus Ký đã chứng minh triết lý
sống này đặc biệt là sự cống hiến ông dành cho chữ Quốc ngữ và nền Quốc
văn hiện tại.
Hoàn cảnh xã hội
Pétrus
Ký sinh ra cuối triều vua Minh Mạng, vào lúc triều thần thất bại trong
việc canh tân đất nước, vì chỉ có toàn những nhà Nho biết làm thơ phú,
thiếu khả năng khoa học kỹ thuật. Vua Minh Mạng thiếu công minh,
khiến nhiều người giỏi đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở
mỗi ngày một nhiều, quan tham mỗi ngày một tăng. Nhà Nguyễn bế môn
tỏa cảng, cấm đạo Công giáo, khiến dân tình đói khổ, loạn lạc khắp nơi,
để cuối cùng đất nước lọt vào tay Pháp cả trăm năm. Petrus Ký là
người công giáo, Pétrus là tên Thánh, theo học trường dòng ở Mã Lai về
nước đúng lúc thực dân Pháp xâm chiếm nước ta. Pháp tấn công Đà
Nẵng ngày 1/9/1858 không thành nên chuyển sang tấn công ba tỉnh miền
Đông Nam Bộ. Ngày 18/2/1859 Pháp chiếm được thành Gia định.
Sài Gòn thời thuộc địa Pháp
Việc cấm đạo Công giáo trở nên gay gắt hơn. Petrus
Ký phải trốn lên Sài Gòn và được Giám mục Dominique Lefèbre giới thiệu
làm thông ngôn cho Pháp, nên từ đó bị kết tội là tay sai cho giặc.
Pétrus Ký, nỗi oan thế kỷ
Sau 30/4/1975, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giữ độc quyền đánh giá "công và tội" của Petrus Ký. Năm 1993, ông Nguyễn Văn Trấn, đảng viên Cộng sản từ 1930, được Ban Khoa học xã hội Thành ủy TPHCM cho phép phát hành quyển "Trương Vĩnh Ký, Con Người Và Sự Thật" nhưng sách đã bị tịch thu sau khi in mà không biết lý do. Đầu tháng 1/2017, cuốn "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ"
do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu soạn đã được Cục Xuất bản cho phép
lưu hành, nhưng chỉ ít ngày trước khi phát hành thì một "lệnh miệng"
được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách. Ông Nguyễn Đình
Đầu cho trang BBC Tiếng Việt biết ông đã phát hiện một tư liệu nói về sự
hợp tác của ông Trương Vĩnh Ký với người Pháp từ đầu đã không có suôn
sẻ như người ta vẫn tưởng: "Trong những lời đối đáp khi chính
quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thơ chứng
tỏ là Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với
người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác.".
Chữ Quốc ngữ giữ văn hóa nước nhà
Về việc giữ gìn tiếng Việt trong sách giáo khoa sử An Nam bằng tiếng Pháp xuất bản tại Sài Gòn năm 1875 (Cours d'histoire annamite à l'usage des écoles de la Basse-Cochinchine, Impr. du Gouvernement, Saigon, 1875) trang 13 Pétrus Trương Vĩnh Ký đã nhận xét (được dịch) như sau: "Sĩ
Nhiếp đã du nhập toàn bộ văn học Trung Hoa, cùng đạo lý Khổng Tử, ép
buộc dân An Nam phải tiếp nhận làm văn hóa của mình, và cấm dân An Nam
dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của người An-nam. Vì biện pháp nghiệt ngã ấy mà người An-nam đã hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của mình". Sĩ
Nhiếp (137-226), Thái thú Giao Chỉ được sử sách chính thống các triều
đại Việt Nam đánh giá rất cao vì đã dạy cho dân ta chữ Hán, văn hóa,
phong tục và văn minh Trung Hoa. Vừa là sử gia vừa là nhà ngôn ngữ
học Trương Vĩnh Ký đã đánh giá Sỹ Nhiếp là người đã hủy diệt chữ viết
cổ của người Việt Nam, áp đặt cách cai trị và văn hóa của người Hán,
giết chết văn hóa cổ của người Việt. Điều này cho thấy ông hiểu
rất rõ khi phải mượn tay người Pháp phổ biến chữ Quốc ngữ để cạnh tranh
và loại bỏ ảnh hưởng tiếng Hán và cả tiếng Pháp, để giữ gìn văn hóa,
phong tục và ngôn ngữ Việt Nam. Pétrus Ký - ông tổ báo chí Việt ngữ Năm
1864, Pétrus Ký được cử là Hiệu trưởng trường Thông ngôn (Collège des
Interprètes) và theo lời đề nghị của ông người Pháp cho lập tờ Gia Định
báo bằng tiếng Việt.
Trường thi Bắc Kỳ thời cuối mùa Nho giáo
Để phân biệt với tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Nôm,
Pétrus Ký gọi cách viết tiếng Việt theo kiểu La Tinh là chữ Quốc ngữ
còn văn học thì được gọi là Quốc văn. Gia Định báo phát hành số
đầu tiên ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn dưới hình thức một tờ Công Báo do
ông Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (chủ nhiệm hay tổng biên tập) và
ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Ngày 16/9/1869, thống đốc Nam Kỳ
G. Ohier ký quyết định số 189 giao tờ Gia Định Báo cho ông Trương Vĩnh
Ký làm chánh tổng tài và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Gia Định
Báo gồm các văn kiện và quyết định của nhà cầm quyền bằng tiếng Pháp do
Nha nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ. Và
những bài viết tiếng Việt về thời sự, về lịch sử, về luân lý dân gian
giúp truyền bá chữ Quốc ngữ. Trên Gia Định Báo và nhiều tài liệu khác ông lấy bút hiệu là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký. Trong số 11 ra ngày 8/4/1870 ông kêu gọi cộng tác viên như sau: "Lời
cùng các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập... đặng hay: Nay việc làm
Gia Định Báo tại Sài Gòn ở một chỗ nên không có lẽ mà biết các việc mới
lạ các nơi trong sáu tỉnh mà làm cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ
mỗi tuần hay là nửa tháng hãy viết những chuyện mình biết tại chỗ, tại
xứ mình ở như: ăn trộm, ăn cướp, bệnh hoạn, tai nạn, rủi ro, hùm tha,
sấu bắt, cháy chợ, cháy nhà, mùa màng thể nào, tại sở nghề nào thạnh
hơn...". Đa số các bài trên Gia Định Báo đều bằng văn xuôi, ngắn
gọn, đơn giản, theo cách nói của người miền Nam, và đàng hoàng theo lễ
giáo Việt Nam. Ông giữ vai trò chánh tổng tài đến năm 1872 thì giao lại cho ông Ernest Potteaux không rõ vì lý do gì. Như
vậy, Trương Vĩnh Ký chính là chủ nhiệm báo Việt ngữ đầu tiên và theo
cách ông hướng dẫn làm báo thì ai cũng có thể làm báo, không khác gì
cách làm báo mạng ngày nay. Năm 1888, Trương Vĩnh Ký cho xuất bản
tạp chí Thông Loại Khóa Trình, tạp chí văn học sưu tập nhiều văn thơ,
câu đối, câu hò, câu hát dân gian, nhằm cổ vũ phong tục cổ truyền, phổ
biến văn hóa dân tộc, có cả thơ văn chống Pháp và lịch sử Việt Nam. Thông
Loại Khóa Trình cho thấy tinh thần yêu nước của Petrus ký với nhiều bài
viết về các nhân vật lịch sử có tài chống ngoại xâm của Việt Nam, như
Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh
Giản... Thông Loại Khóa Trình còn phổ biến thơ chống Pháp của Bùi
Hữu Nghĩa, bài vè như vè Khâm sai và cả hịch chống Pháp của Nguyễn Tri
Phương. Cộng tác với Thông Loại Khóa Trình có các ông Huỳnh Tịnh
Của, Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, và nhiều người
yêu nước khác.
Toàn quyền Albert Sarraut và vua Khải Định
Những người đọc báo biết chữ quốc ngữ khi ấy đều là
công chức Pháp hay học sinh trường Pháp nên nhà cầm quyền Pháp tìm cách
tẩy chay, báo không bán được. Thiếu vốn, Thông Loại Khóa Trình chỉ ra được 18 số đến tháng 10/1889 thì đóng cửa. Trong số này Trương Vĩnh Ký cho biết: "Nay vì bởi không có vốn cho đủ in luôn Thông Loại Khóa Trình nữa nên ta cực chẳng đã, phải đình in." Petrus Trương Vĩnh Ký, ông tổ nghề báo Việt Nam qua đời 1/9/1889 trong nghèo khó và nợ nần.
Tạo nền tảng Quốc văn và giáo dục
Ngay từ năm 1866 Trương Vĩnh Ký đã cho in ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là cuốn Chuyện Đời Xưa. Từ đó ông không ngừng viết và để lại một di sản văn học với ít nhất 119 tác phẩm cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp. Đây
là các công trình soạn thảo một cách cẩn thận và khoa học nhưng dễ
hiểu, dễ quảng bá, bao trùm mọi thể loại từ ngôn ngữ, tự điển, sách giáo
khoa lịch sử, địa lý, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh
học và văn học. Kho tàng văn học này là căn bản định hình cho một
nền Quốc văn với chủ trương gìn giữ đạo lý văn hóa dân tộc nhưng học hỏi
văn minh Tây Phương để cải cách đất nước, mở mang dân trí giúp nước nhà
độc lập và giàu mạnh. Để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng canh
tân, Trương Vĩnh Ký còn chọn việc dạy tiếng Việt và đào tạo hằng ngàn
thanh niên theo tân học tạo nền tảng cho Phong trào Duy Tân và Đông Du
sau này. Ảnh hưởng triết lý và tư tưởng của Trương Vĩnh Ký đến nền
văn hóa và giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là lấy nhân bản, dân tộc và khai
phóng làm căn bản.
Nỗ lực 'thoát Hán' của các vua nhà Nguyễn
Trong chuyến đi sứ sang Pháp cùng Phan Thanh Giản năm 1863, Petrus Ký gặp và làm quen với nhà bác học Paul Bert. Ông
Paul Bert là giáo sư khoa học ĐH Bordeaux và Paris, từng tham gia cách
Mạng Pháp năm 1870 và trở thành Tổng trưởng Giáo dục và Nghị sĩ Quốc hội
Pháp. Tháng 2/1886, ông được bổ nhiệm Thống sứ cạnh triều đình
Huế. Ông chủ trương tiến bộ và muốn thực hiện cải cách nên đã đích thân
thăm và mời Trương vĩnh Ký ra Huế giúp vua Đồng Khánh. Nhà vua phong Petrus Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và dạy cho vua Đồng Khánh tiếng Pháp. Năm
1887, Petrus Ký có dâng vua Đồng Khánh 24 điều để đối phó với Pháp.
Trong đó ông có đề cập việc cải cách giáo dục, bỏ dạy chữ Hán, dạy chữ
Quốc ngữ và học hỏi văn minh Tây phương. Đến cuối thời vua Thành Thái các đề nghị của Petrus Ký mới được nhà vua ban sắc lệnh cho thi hành. Chính sắc lệnh này đã dẫn tới phong trào Duy Tân, dùng chữ quốc ngữ để thoát Hán được trình bày khá rõ trong bài viết trước "Quốc ngữ và nỗ lực 'thoát Hán' của các vua nhà Nguyễn". Nhà bác học Trương Vĩnh Ký với triết lý sống chẳng vì mình nên không cần chúng ta phải "minh oan". Ngược
lại chúng ta cần tìm ra sự thật, cần hiểu biết sự thật và cần phổ biến
sự thật để qua đó chúng ta có thể ghi nhận ân đức cũng như học hỏi từ
Trương Vĩnh Ký và những bậc tiền bối những người đã có công đóng góp cho
nền văn học nước nhà. Đồng thời chúng ta cần tiếp tục giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, văn hóa và phong tục để truyền lại cho con cháu chúng ta.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông Nguyễn Quang Duy từ Melbourne, Australia. NGUỒN : https://www.bbc.com/vietnamese/forum-46455314
Một
truyền đơn của VNCH đành cho cán binh VC, nhắm vào nỗi sợ hãi của
thương binh phải bị bỏ lại ngoài mặt trận. (Hình: Huy Phương cung cấp)
Một
trận đánh không có thương binh có nghĩa là chỉ có lính tử trận, hoặc là
một trận đánh mà cấp chỉ huy không muốn đem thương binh về. Thương binh
bị bỏ lại trận địa, vì quá xa hậu cứ, không có phương tiện và nhân lực
tản thương, không đủ bệnh viện hay thuốc men để săn sóc họ. Do vậy,
thương binh có thể bị phát đạn ân huệ cuối cùng của đồng đội, để khỏi bị
vào tay giặc, giữ kín được tin tức tình báo.
Việt Cộng thường có chủ trương nghiên cứu kỹ chiến trường, đánh mạnh
và rút nhanh vì sợ viện binh, pháo binh tiếp ứng hay phi cơ thả hoả châu
soi sáng trận địa, nên vấn đề đem thương binh theo khi rút khỏi chiến
trường, là chuyện bất khả thi.
Nếu đem những con số chênh lệch khó tin giữa con số binh
sĩ tử thương và thương binh của cả hai phía, Bắc Việt và VNCH cũng như
quân đồng minh, chúng ta sẽ thấy rõ chủ trương của Bắc Việt, thường
không coi mạng người là quý. Không thể có một cấp chỉ huy vô lương tâm nào hơn những cấp chỉ huy
quân sự của Bắc Việt. Tướng Giáp đã từng nói: “Mỗi một phút, có hàng
trăm ngàn người chết trên khắp thế giới. Cái sống hay cái chết của hàng
ngàn người, ngay cả khi họ là người cùng quê hương, có ý nghĩa rất ít
trong thực tế.” Ở một chỗ khác: “Non! Pas du tout!” Ðó là câu trả lời lạnh lùng của
Võ Nguyên Giáp cho báo chí quốc tế khi người ta hỏi viên tướng này là
ông có hối tiếc gì về chuyện 4 triệu người Việt chết vì chủ nghĩa Cộng
Sản hay không? Thử nhìn lại những con số về binh sĩ tử trận và thương binh của cả hai bên: – Quân lực Việt Nam Cộng hòa có 310,000 tử trận và 1,170,000 người bị thương. Tính ra 1 người tử trận, có 4 người bị thương. – Hoa Kỳ khoảng 58,200 tử trận và hơn 304,000 bị thương. Tính ra 1 người chết có đến 5 người bị thương. – Nam Hàn có 5,099 tử trận và 11,232 bị thương. Tính ra 1 chết thì có hơn 2 người bị thương. – Thái Lan có 351 tử trận và 1.358 bị thương. Tính ra 1 chết có gần 5 người bị thương. – New Zealand có 55 tử trận và 212 bị thương. Tính ra 1 chết có 4 người bị thương. Về phía Cộng Sản Bắc Việt, theo tài liệu thống kê chính thức của Cục
Chính Sách – Tổng Cục Chính Trị – Bộ Quốc Phòng thì đến năm 2012, toàn
quốc có 1,146,250 “liệt sĩ” và chỉ có khoảng 600,000 thương binh. Tính
ra số tử trận của quân Bắc Việt cao gấp hai lần số thương binh, trong
khi phía tự do cứ 5 thương binh đem về hậu cứ mới có một người tử trận.
Điều này cho chúng ta thấy rõ thế nào là “một trận đánh không có thương
binh!” Sau chiến thắng Tháng Năm, 1975, Bắc Việt ngoài hàng triệu “bộ đội”
tử trận chưa được thông báo, để cho dân chúng thấy được bộ mặt huy hoàng
của người thắng trận, Bắc Việt đã “cách ly” tất cả thương binh đến
những vùng xa, khỏi những nơi dân cư đông đúc. Không phải chỉ có thương binh, mà ngay cả tù binh sau khi lọt vào tay
địch, được giải thoát mang về, để khỏi bị lộ những bí mật quân sự, cũng
được Cộng Sản thủ tiêu. Theo Phan Ba‘s Blog, ngay cả trong chiến tranh
biên giới Hoa- Việt, năm 1989, được biết Quân đội Bắc Việt có đến 10% nữ
làm tù binh, nhưng chính quyền Việt Cộng dối trá chưa bao giờ tuyên bố
con số tù binh nằm trong tay Trung Cộng, vì Cộng Sản hẹp hòi tính dân
tộc, yếu hèn sợ mất lòng Trung Cộng. Những nữ tù binh này không được về lại quê hương, sau khi trao trả tù
binh, Việt Cộng lập tức phi tang họ trong rừng sâu. Cho đến ngày nay
nhân dân Việt Nam không hề biết thân phận của tù binh chiến tranh sống
chết thế nào! Việt Cộng không công bố lấy lý do là vì “bí mật quốc
phòng.” Trong một cuộc họp mặt của cán bộ Cộng Sản cũ với nhà tranh đấu Bùi
Minh Hằng tại Vũng Tàu vào Tháng Sáu, 2017, một cán bộ ly khai đã phát
biểu về những gì ông biết về thương binh bộ đội. Người cộng sản ly khai
này, dù không là Đảng viên, nhưng cũng là một nhân viên cao cấp, đã xác
nhận việc giết sạch các thương phế binh bộ đội. Và nhiều chuyện kinh hãi
khác nữa!! Theo ông thời chống Pháp, như Phạm Duy đã viết “Nạng thương binh
chống rổ mặt đường làng,” nhưng vào thời chống Mỹ, thương binh bị giết
sạch, y như Trung Cộng sau chiến tranh biên giới, thương binh của họ bị
tập trung lại, rào dây thép gai và đốt cháy. Sau năm 1975 chỉ thấy
thương binh chế độ cũ mà không thấy thương binh chế độ mới. Vậy thì họ ở
đâu? Đều bị thủ tiêu ở chiến trường! Không lẽ bộ đội khiêng nhau mà đi
hành quân? Cuộc gặp gỡ và lời phát biểu này có quay phim và đưa lên
youtube. (*) Dương Thu Hương, một người “ở trong chăn” Bắc Việt cũng đã tiết lộ:
“Đến tận bây giờ, cuộc chiến vẫn ám ảnh tôi. Lúc tôi tình nguyện vào
Nam, số học sinh của cả bốn lớp 10 của trường chúng tôi vào chiến trường
khoảng 120 người, vậy mà chỉ 2 người may mắn sống sót, là tôi và một
người nữa… Khi tôi đi tìm mộ của những bạn đã chết, tôi mới biết, trong
những trận đánh mà bộ đội miền Bắc thua, thì người ta xóa sạch dấu vết
và tên tuổi liệt sĩ không được ghi lại. Họ giải thích rằng dân tộc ta là
dân tộc anh hùng phải chiến thắng quân thù, nhưng trận này chưa thắng
cho nên không thể kiểm kê các liệt sĩ được. Cho nên hàng trăm người chết
dưới đáy hồ, dưới đáy vực mà hoàn toàn không ai tìm được tung tích.”
(“Ký 2” của Đinh Quang Anh Thái.) Chính vì vậy mà sau này, Bắc Việt đã quy tập hàng chục nghìn mộ tử sĩ
để lập nên những nghĩa trang “hoành tráng” nhưng phần lớn chỉ là những
“mộ gió” hay chôn xương trâu xương bò, tất cả đều là những nấm mồ vô
danh, không tên tuổi. Vì với trận địa rải rác quá lớn, thời gian và thời
tiết tàn phá, thiên nhiên thay đổi và vì chính sách đã có từ trước, gia
đình tử sĩ hầu hết chỉ nhận được một cái giấy ghi công, công nhận là
gia đình liệt sĩ, nhưng xương cốt chưa bao giờ được về nhà!
Không phải lúc nào kẻ thiện cũng thắng phe tà! (Huy Phương)
Tổng thống Ngô Đình Diệm trong một hình tư liệu. Bên phải là cố vấn Ngô Đình Nhu, em trai ông hình ảnhJohn Dominis
Lịch sử Miền Nam
Việt Nam thật kỳ lạ: hai cái mốc lịch sử ấy lại cách nhau đúng 20 năm -
đánh dấu lúc khai sinh và lúc sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa.
'Tháng Tư Đen' thứ nhất: năm 1955 Sau
khi ông Ngô Đình Diệm nhận chức Thủ Tướng vào Hè 1954, Sàigòn dần dần
chìm đắm vào cảnh nội loạn. Lý do chính yếu là Pháp nhất quyết dẹp Thủ
Tướng Diệm để thành lập một chính phủ thân Pháp và bảo vệ quyền lợi của
Pháp. Tình hình chính trị khó khăn tại Miền Nam từ năm 1954 kéo dài sang năm 1955. Tư lệnh quân Đội Pháp Paul Ély thuyết phục được Đại sứ Mỹ Lawton Collins rằng ông Diệm không thể lãnh đạo Miền Nam Tự Do. Ông
đề nghị năm bước để thay thế Thủ tướng Diệm (chỉ mới chấp chính được
mười tháng). Collins đích thân bay về Washington để áp lực cả tổng thống
lẫn ngoại trưởng. Sau cùng cả TT Eisenhower lẫn Ngoại Trưởng Dulles đã phải nghe theo - dù hết sức lưỡng lự. Washington
gửi điện mật tới Sàigòn đồng ý cho đảo chính vào lúc Pháp đang bí mật
yễm trợ lực lượng Bình Xuyên lật đổ Tổng thống Diệm. Vào mùa xuân
1955, ngoài đối phó với Pháp, ông Diệm còn có vấn đề lớn lao nữa là
việc định cư gần một triệu dân di cư từ ngoài Bắc vào Nam, bất chợt làm
tăng dân số Miền Nam lên 7%. Khi đưa một số dân lên khai khẩn
các khu dinh điền trên cao nguyên, ông Diệm bị chỉ trích là mang người
Kinh lên chiếm đất của người Thượng. Nhiều người còn dị nghị là chính
quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị Bắc Nam và thiên vị người Công Giáo. Không
những tình hình chính trị mà tôn giáo tại Miền Nam thật rối ren. Vào
tháng 3, các giáo phái thành lập "Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc
Gia." Quốc trưởng Bảo Đại ủng hộ Mặt Trận và thông báo cho Mỹ là
ông Diệm không còn hữu hiệu nữa. Ngày 21 tháng 3, 1950 Mặt Trận tống đạt
một tối hậu thư, đòi ông Diệm trong vòng năm ngày phải thành lập chính
phủ mới, gồm đại diện của các lực lượng dân chủ đối lập nếu không họ sẽ
biểu tình. Thành lập xong, đại diện Mặt Trận liên lạc ngay với
phía Mỹ để yêu cầu ủng hộ việc đòi ông Diệm phải thành lập chính phủ
mới. Tại Sàigòn, Đại sứ Collins tuy là chống biểu tình nhưng khuyên ông
Diệm phải thương thuyết để dung hòa với Mặt Trận, như vậy "có thể đổi
thù thành bạn." Thoạt đầu ông Diệm đồng ý, nhưng khi các giáo
phái nói là không thể điều đình về những yêu sách của họ, ông Diệm cho
ông Collins biết là sẽ dùng vũ lực để giải quyết. Collins không đồng ý,
trả lời rằng quân đội sẽ không ủng hộ việc dùng vũ lực và tiếp tục
khuyên ông Diệm phải tìm giải pháp ôn hòa.
Một quyết định táo bạo
Cuối
tháng 3, 1955 bầu không khí Sàigòn trở nên ngột ngạt sau khi ông Diệm
ban hành sắc lệnh tách Cảnh sát Biệt khu Thủ đô ra khỏi hệ thống chỉ huy
của Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia Lại Văn Sang. Không thông báo cho
Đại sứ Mỹ, ông Diệm bắt đầu xúc tiến kế hoạch truất chức ông Sang và tấn
chiếm Trung Tâm Cảnh sát, dự định cả hai việc sẽ được thi hành vào ngày
29 tháng 3. Thế nhưng chỉ mấy giờ trước khi kế hoạch bắt đầu,
Pháp biết được tin này nên gấp rút can ngăn ông Diệm, hứa sẽ tìm cách
đưa quân đội Bình Xuyên ra khỏi lực luợng cảnh sát. Đại sứ Collins cũng đến gặp ông Diệm để phản đối việc dùng vũ lực. "Nếu ngài giải quyết vấn đề bằng cách này, chúng tôi sẽ bị áp lực mạnh mẽ phải ủng hộ việc thay đổi chính phủ ngài." Đêm
29 rạng 30 tháng 3, giao tranh giữa Bình Xuyên và quân đội quốc gia đã
xảy ra, nhưng vào lúc 3:15 sáng, Tướng Ely áp đặt ngay lệnh ngưng chiến.
Để biểu dương lực lượng, ông cho xe thiết giáp quần trên đường
phố Sàigòn. Vì đã có giao tranh đem đến đổ máu và chết chóc, Pháp nhân
cơ hội này sắp xếp một kế hoạch toàn bộ để dẹp ông Diệm. Một mặt
thì thuyết phục Đại sứ Collins (cũng là cựu chiến hữu với Ély trong Thế
Chiến II) về ông Diệm không đủ tài năng và uy tín, mặt khác thì đề với
nghị Quốc trưởng Bảo Đại ở Cannes phải có hành động quyết liệt như cất
chức ông Diệm, đồng thời ngấm ngầm yểm trợ lực lượng Bình Xuyên.
Tháng 4/1955: năm bước để loại bỏ Thủ Tướng Diệm
TT Ngô Đình Diệm trong một ảnh chụp cuối tháng 11/1955 hình ảnhPhotoQuest
Pháp đã thành công trong việc thuyết phục được Đại
sứ Mỹ Collins. Ngày 9 tháng 4, 1955 ông Collins gửi Ngoại Trưởng Dulles
một điện văn dài, đề nghị toàn bộ cách giải quyết cuộc khủng hoảng tại
Sàigòn. Đề nghị này gồm hai phần: sắp xếp việc ông Diệm 'từ chức,' và
thẩm định hậu quả của việc từ chức. Tóm tắt phần một như sau: Hãy xem công điện số 4448 Ngày 9 tháng 4, 1955 Việc sắp xếp cho ông Diệm từ chức gồm 5 bước đi, : 1. Giải quyết vấn đề rút Cảnh sát và Công an ra khỏi tay Bình Xuyên; 2. Thuyết phục ông Diệm từ chức; 3. Tìm người thay thế ông Diệm làm Thủ tướng; 4. Đi tới một thỏa thuận về giải pháp đối với các giáo phái; và 5. Vận động để các giáo phái chấp nhận giải pháp trên. Nửa đêm ngày 28 tháng 4 Khuyến cáo của Đại sứ rõ ràng, mạch lạc là như vậy, nhưng tại Washington phản ứng về vụ Bình Xuyên nổ súng thì lại khác. Ngay
trước khi kim đồng hồ chỉ nửa đêm ngày 28 tháng 4, 1955 ở Sàigòn tức là
trưa ngày 29 tháng 4 ở Washington, Ngoại trưởng Dulles nhận được tin
"giao tranh đã bắt đầu giữa Quân Đội Quốc Gia và Bình Xuyên" khi ông
đang ăn trưa với một số dân biểu lưỡng đảng tại Tòa Bạch Ốc: "Đây
là cơ hội chúng ta đã chờ đợi để tìm hiểu xem ông Diệm có đủ can đảm và
quyết tâm hành động không, và cũng để biết được Quân đội Việt Nam có
trung thành với ông ta hay không," ông Dulles nói với các dân biểu, "Nếu
chứng tỏ được hai điều này thì ta hết lo (we are over the hump); còn
nếu như ông thất bại về một trong hai điểm thì bắt buộc ông ta phải từ
chức. Dù sao chúng ta cũng sẽ có câu trả lời." TT Eisenhower chỉ thị: "Nếu
như ông ta thất bại thì thật là bết bát, nhưng ta cần phải tìm hiểu
ngay bây giờ hơn là để muộn về sau, xem Quân đội Quốc gia mà ta tốn phí
quá nhiều để phát triển liệu có trung thành với ông ta hay không." Trong
hoàn cảnh xáo trộn và trước sự chống đối ông Diệm của Đại sứ Collins,
TT Eisenhower gọi ông Collins về Washington để tham khảo. Trước khi đi,
ông Collins còn gửi đề nghị cho TT Eisenhower (19/04/1955) là vẫn phải
thay thế ông Diệm. Rồi Collins còn đến gặp ông Diệm một lần nữa
và báo cáo về Washington là ông đã nói thẳng với ông Diệm rằng chính phủ
của ông ta sẽ không thể tồn tại nổi được ba tháng nữa, và nếu cứ tiếp
tục như thế này thì loạn lạc là điều trông thấy. Và vì vậy, "Tôi
thêm rằng bắt buộc tôi phải báo cáo cho chính phủ tôi rằng hành động của
ông Diệm sẽ dẫn tới một cuộc nội chiến." Theo Collins, ông Diệm đã trả lời rằng mỗi khi ông nhân nhượng và thỏa hiệp thì vấn đề lại trở nên khó khăn hơn. Vì
sợ ông Diệm lợi dụng lúc Collins không có mặt ở Sàigòn để tấn công Bình
Xuyên và đặt Mỹ vào một việc đã rồi nên Collins còn căn dặn ông Diệm là
"Ngài nên làm bất cứ điều gì có thể để tránh xảy ra một cuộc xung đột
trong khi tôi đi vắng."
Cao ủy Pháp, tướng Paul Ely (giữa) cùng ông Ngô Đình
Diệm, lúc đó mang chức Thủ tướng, tại một chùa ở Chợ Lớn trong lễ
Phật giáo tưởng niệm chiến sỹ trận vong Pháp - Việt tháng 1/1955
hình ảnhGetty Images
Ông Diệm nói lảng đi, phàn nàn rằng nếu như ông đã
cất chức Tổng Giám Đốc Cảnh sát Lại Văn Sang ngay từ đầu thì bây giờ
tình hình tại Sàigòn đã có thể kiểm soát được rồi. Chào tạm biệt,
ông Collins cho ông Diệm hay là chính Quốc trưởng Bảo Đại sẽ giải nhiệm
ông nếu tình hình này cứ kéo dài. Kết thúc bản báo cáo gửi Washington,
Collins đề nghị: "Tôi không thấy, nhắc lại là không thấy, một giải pháp nào khác ngoài việc thay thế ông Diệm cho sớm."
Bên bờ vực thẳm
Đại sứ Collins về tới Washington ngày thứ Năm, 21/04. Ngày
22 tháng 4, ông dùng bữa ăn trưa với TT Eisenhower, và sau đó gặp Ngoại
trưởng Dulles cùng với các đại diện Bộ Quốc Phòng và Trung ương Tình
báo để 'lobby' chống ông Diệm. Ông nhắc lại quan điểm của ông một cách
mãnh liệt và cứng rắn hơn trước là Mỹ phải thay thế ông Diệm và có kế
họach hành động ngay tức khắc. Trước áp lực mạnh mẽ của Collins,
vừa là đặc ủy của Tổng Thống, vừa là đại sứ, lại là chứng nhân có mặt
tại chỗ để nhận xét, nên sau cùng ông ta đã thắng thế. Ngày 27 tháng 4,
ông Dulles đã đồng ý một cách lưỡng lự. Ông chấp thuận một mật điện do Bộ Ngoại giao soạn thảo ra lệnh thay thế Thủ Tướng Diệm. Ông Young viết lại rằng: "Chẳng
một ai trong chúng tôi thật sự tin tưởng vào bức điện đó, nhưng chúng
tôi phải đối diện với những đề nghị mạnh mẽ của Collins và ưu thế của
ông là ông ta đã đến tòa Bạch Ốc ngay hôm sau ngày ông từ Sàigon về tới
Washington."
Mật điện lịch sử ngày 27/04/1955: thay thế Thủ Tướng Diệm
Bức
điện ngày 27 tháng 4, 1955 cho phép sắp xếp thay thế Thủ Tướng Diệm
trích dẫn ở phần Phụ Lục là một văn kiện lịch sử hết sức quan trọng. Nó
giống như mật điện ngày 24 tháng 8, 1963 vào lúc sắp xếp việc đảo
chánh. Sau đây là tóm tắt: Bộ Ngoại Giao Ngày 27/04/1955 "Tướng
Collins và Ely phải thông báo cho Thủ tướng Diệm biết rằng vì lý do ông
không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông
bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và Pháp không còn đủ tư thế để
ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có
giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ
hợp tác với bất kỳ chinh phủ mới nào được chỉ định… " Chúng tôi tạm đề nghị một tân chính phủ như sau: 1)Nội các: quyền hành pháp đầy đủ trao cho [Trần Văn] Đỗ hoặc [Phan Huy] Quát làm thủ tướng và phó thủ tướng… 2)Hội Đồng Tư Vấn khoảng từ 25 đến 35 đại diện các phe nhóm, gồm cả các giáo phái…và 3) Quốc hội Lâm thời:
một cơ chế gần như một Quốc Hội Lập Pháp, gồm những người đã trù liệu
được bầu ra hay chỉ định theo lịch trình…" Dulles
Bộ
Ngoại giao gửi mật điện đi vào lúc 6 giờ chiều ngày 27/04 giờ Washington
nhưng khi chỉ thị vừa được gửi đi là tin tức này đã lọt ra ngoài nên
ông Diệm biết được và đã hành động kịp thời.
Những giờ phút quyết liệt cuối tháng 4/1955
Theo tác giả Mark Moyar trong cuốn Triumph Foresaken (xuất bản năm 2006) thì: "Trong
mấy giờ đồng hồ hết sức cam go sau khi gửi mật điện này, Washington
nhận được rất nhiều điện văn dồn dập do Đại tá Landsdale gửi. Rồi
ngay trước khi kim đồng hồ chỉ nữa đêm giờ Washington (Sàigòn là trưa)
Landsdale báo cáo là "giao tranh đã bắt đầu giữa Quân đội Quốc Gia và
Bình Xuyên." TT Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles nghe vậy giật
mình, quyết định hủy bỏ kế hoạch Collins nhằm dẹp ông Diệm, đồng thời ra
lệnh cho Tòa Đại sứ Mỹ ở Paris và Sài gòn phải gấp rút đốt hết các mật
điện nói về việc này. Về thời điểm này, tác giả nổi tiếng về lịch sử Việt Nam Joseph Buttinger trong cuốn "Vietnam, A Dragon Embattled" nhận xét: "Trong
sự tranh đấu để thu hồi và bảo vệ được quyền bính, ông Diệm đã trải qua
nhiều giai đoạn bất trắc và khổ cực. Tuy nhiên, cho dù cả trong những
tuần lễ trước cuộc đảo chánh và ám sát ông năm 1963, ông Diệm cũng đã
không bị gian lao, cay đắng bằng trong tháng 4, 1955."
May mắn cho kế hoạch khai sinh VNCH
Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm trong một chuyến thăm Hoa Kỳ
hình ảnhCarl T. Gossett Jr
Trước khi rời Sàigòn về Washington (ngày 20/04),
theo tác giả Mark Moyar trong sách đã viện dẫn, Đại sứ Collins có nói
với Cao ủy Pháp Ely rằng: "Hoa Kỳ đã quyết định ông Diệm phải từ chức." Theo
sự thỏa thuận này, ngày 30 tháng 4, Ely tới gặp Quyền Đại sứ Mỹ
Randolph Kidder để yêu cầu Hoa Kỳ cộng tác với Pháp trong việc dẹp ông
Diệm. Lúc ấy, Kidder không biết chính sách của Washington diễn
biến ra sao vì trước khi rời Sàigòn, Collins chỉ nói với Kidder là
"thượng cấp còn đang bàn định về những kế hoạch mới của Hoa Kỳ tại Việt
Nam," và lúc này Collins còn đang bàn bạc, vận động tại Washington. Thế
nhưng, vì đã tận mắt thấy ông Diệm đang thành công, Kidder trả lời
thẳng thừng cho Ely là "Không, Hoa Kỳ sẽ không cộng tác trong việc dẹp
ông Diệm." Về sau, Kidder kể lại "Lúc ấy tôi thực không có sự lựa
chọn nào khác ngoài việc phải tự quyết định lấy về chính sách của Hoa
Kỳ, vì nếu trả lời là "tôi không biết" thì thật là buồn cười." Tướng
Ely vô cùng giận dữ và phản đối, cho rằng Hoa Kỳ đã bội ước, vì chính
ông đã nhận được sự đồng ý của Tướng Collins về việc thay thế ông Diệm.
Thái độ phẫn nộ của Ely cũng giống như lúc ông đã hết sức bất mãn về sự
hứa hẹn của tướng Radford là sẽ can thiệp vào Điện Biên Phủ, rồi không
làm như vậy. Dù Ely phản kháng, Kidder vẫn giữ nguyên lập trường là Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm chứ không bắt tay với Pháp để dẹp ông đi. Rất
may cho Thủ Tướng Diệm và còn may hơn nữa cho việc khai sinh nền Cộng
Hòa Việt Nam: cũng theo Moyar, nếu như trong buổi họp ngày 30 tháng 4,
ông Kidder đã nói thật với Tướng Ely rằng: Tòa Đại sứ thực sự chưa nhận
được những hướng dẫn về chính sách của Hoa kỳ đối với ông Diệm vào lúc
ấy (ngoài lệnh hủy công điện ngày 27 tháng 4) thì rất có thể ông Ely đã
có những biện pháp mạnh mẽ để dẹp ông Diệm hơn là đã nhân nhượng ông ta.
Ngoài ra, giả như Đại sứ Collins không về Washington và có mặt
tại buổi họp với Ely hôm ấy thì rất có thể là Collins đã đồng ý với Ely
rồi. (Sự việc này cho ta một bài học: hành động của đại sứ Mỹ có mặt
tại chỗ là hết sức quan trọng). Năm năm sau, trong một bức thư
gửi TT Diệm (1960), TT Eisenhower còn nhắc tới sự cương quyết và thành
công của Thủ tướng Diệm năm 1955: "Chúng tôi đã chứng kiến sự can
đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới
độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ nhiều người đã coi như là
vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã
nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả
với một tốc độ thật nhanh chóng." Nền Cộng hòa của TT Ngô Đình Diệm đã vượt qua và tồn tại đến ngày 1/11/1963. Bài lấy từ trích dẫn trong cuốn sách 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào' của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng. Ông là
Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết
của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất
bản các cuốn sách Khi Đồng minh Tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh Nhảy vào (2016).
Người dân Ba Lan ủng hộ chính quyền dân chủ của Tổng thống Lech Wałęsa
Tôi đặt chân sang
Ba Lan cuối năm 1988, đúng lúc nền kinh tế, chính trị, xã hội đất nước
này như bên thùng thuốc nổ chỉ chực chờ mồi lửa là tan tành.
Lúc
đó đường phố thủ đô Warsaw hoang tàn, xám xịt. Các cửa hàng vắng teo,
trống rỗng. Trên vỉa hè đôi chỗ có những người trung tuổi trải tấm nilon
bày bán lèo tèo ít sách cũ, quần áo cũ, đồ cũ. Có cụ bà vai khoác vài
nhánh tỏi, cụ ông tay bế con chó con... chôn chân giữa trời tuyết lạnh,
đứng bán.
Trên hàng rào nhiều nơi, băng rôn khẩu hiệu chống chính
quyền của Công đoàn Đoàn Kết treo công khai. Thậm chí trên các cột điện,
các bức tường dán áp phích troll truy nã Đại tướng Wojciech Jaruzelski,
Tổng bí thư Đảng Công nhân Thống nhất (Cộng sản), Chủ tịch nước Cộng
hòa Nhân dân Ba Lan với giá... 1 triệu USD.
Đôi khi diễn ra những cuộc biểu tình ôn hòa có cảnh sát đi theo bảo vệ để chống bạo động, đập phá.
Tháng đầu tiên nhận lương và phiếu mua thịt, cá, đường... gương mặt cả đoàn nghiên cứu sinh chúng tôi ngao ngán, chán chường.
Sáng
sớm hàng ngày, trên đường đi học nhìn những ông già bà già về hưu xếp
hàng dài trước các cửa hàng thực phẩm, chúng tôi thất vọng tràn trề. Chủ
nghĩa xã hội phát triển, thiên đường của những người lao động mà nhếch
nhác nghèo đói như thế này ư?
Có thời gian hơn nửa năm trời, tôi
không có nổi một cọng mì, một hột cơm để nhét vào mồm, toàn phải ăn bánh
mì và khoai tây. Đủ trứng, đủ sữa, thịt cá thì kha khá nhưng thiếu rau
nên miệng tôi bị nhiệt đau rát.
Ấy vậy mà tình yêu chủ nghĩa cộng sản trong lòng tôi
lúc đó thấm đẫm hơn các chiến sĩ Trung đoàn AK47 của ta bây giờ nhiều.
Chẳng có gì phải giấu, lúc bấy giờ tôi là đảng viên trẻ tràn đầy nhiệt
huyết, quyết hi sinh phấn đấu cho lí tưởng cộng sản "cao đẹp".
Cả
xã hội Ba Lan lúc đó bị phân hóa sâu sắc, bên ủng hộ chế độ Cộng sản,
bên ủng hộ Công đoàn Đoàn Kết đối lập. Sự chia rẽ này len lỏi vào từng
cơ quan, nhà máy, trường học, thậm chí từng gia đình.
Đoàn nghiên
cứu sinh Ba Lan năm đó có 15 thành viên thì 10 người là đảng viên. Không
hề lên gân chút nào, dù cuộc sống thiếu thốn, với tâm trạng thất vọng,
chán chường nhưng tất cả chúng tôi vẫn một lòng bảo vệ chính quyền của
Đảng "anh em", chống lại bọn "phản động" Công đoàn Đoàn Kết.
Với
món nợ 40 tỷ USD không thể trả nổi, nền kinh tế Ba Lan rệu rã bên bờ vực
phá sản, Đảng cầm quyền buộc phải ngồi vào "Hội nghị bàn tròn", đàm đàm
phán với lực lượng đối lập mà nòng cốt là Công đoàn Đoàn Kết.
Bức tượng cuối cùng của các nhà lãnh đạo Cộng sản cũ
ở Ba Lan bị giật đổ khi chính quyền mới lên nắm quyền 9/1989
Một
thỏa thuận giữa các bên được đưa ra trên bàn hội nghị đã làm thay đổi
lịch sử Ba Lan, đó là tổ chức cuộc tổng tuyển cử dân chủ để bầu Quốc hội
mới với sự tham gia của tất cả các lực lượng chính trị.
Với sự ấu
trĩ, với tình cảm thủy chung, tuy bụng trống rỗng nhưng tôi vẫn một
lòng chống "phản động" Công đoàn Đoàn Kết, để bày tỏ sự ủng hộ đảng cầm
quyền "anh em". Không chỉ riêng tôi, các đồng chí của tôi trong chi bộ
đảng nghiên cứu sinh cũng một lòng như vậy.
Khi kết quả bầu cử
Quốc hội được công bố với thắng lợi tuyệt đối của phe dân chủ ở cả 100
ghế Thượng nghị viện và 40% ghế bầu lại của Hạ nghị viện. Công đoàn Đoàn
Kết được chỉ định đứng ra thành lập chính phủ mới, chế độ XHCN Ba Lan
bị xóa sổ, mở đầu cho sự sụp đổ liên hoàn của hệ thống XHCN từ Đông Âu
đến Liên Xô.
Tôi và các đồng chí trong chi bộ bàng hoàng, hoang
mang tột độ. Một câu hỏi lởn vởn ám ảnh mãi trong đầu tôi là: Tại sao
nhân dân Ba Lan lại một lòng ủng hộ thế lực "phản động" bằng chính lá
phiếu bầu cử tự do của mình? Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan tự giải
tán ngay sau đó để chuyển thành Đảng Dân chủ cánh tả.
Chưa hết, tôi vẫn còn đặt hi vọng vào cuộc bầu cử Tổng
thống sau đó một năm. Nhưng rất đáng thất vọng, kể cả tổng thống
Jaruzelski (Tổng bí thư Đảng CNTN Ba Lan cũ) do Quốc hội chỉ định và tất
cả các lãnh tụ cánh tả không dám ra ứng cử trong cuộc bầu Tổng thống
năm 1990, để lãnh tụ Công đoàn Đoàn Kết Lech Wałęsa thắng cử trước Stan
Tyminski Ba Lan kiều triệu phú từ Peru. Thắng lợi tuyệt đối thuộc về phe
dân chủ, "phản động".
Chế độ XHCN Ba Lan bị xóa sổ một cách dân
chủ, công bằng và minh bạch nhưng từng đó vẫn chưa khiến tôi chịu "mở
mắt". Với tình cảm quá sâu nặng của cả gia đình cách mạng nòi, tôi vẫn
luyến tiếc thể chế Cộng sản Ba Lan. Chỉ sau cuộc đảo chính Gorbachov tại
Liên Xô ngày 19/8/1991 do phe Cộng sản bảo thủ tiến hành, tôi mới thực
sự thay đổi quan điểm, tư tưởng.
Sau sự sụp đổ của chế độ Cộng
sản, cuộc sống mới tại Ba Lan thay đổi tích cực từng ngày. Những chiếc
lá úa tàn tạ cuối đông lìa cành, mầm lộc đầu xuân bừng dậy đầy sức sống
thành thảm lá xanh mướt mát.
Cũng chính các cán bộ viên chức, các
sĩ quan quân đội, cảnh sát của chế độ Cộng sản Ba Lan cũ đã và đang
chung tay tạo dựng nên thể chế mới, xây dựng nên cuộc đời mới tươi đẹp.
Cũng
chính lãnh tụ cộng sản từng tuyên bố giải tán đảng của mình, sau khi
trở thành tổng thống Ba Lan, năm 1997 đã kí Hiến pháp mới, đặt Chủ nghĩa
Phát xít và Chủ nghĩa Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật.
Thủ đô Warsaw của Ba Lan ngày nay
Ba Lan ngày nay là 1 trong số 30 thành viên của Tổ
chức các nước phát triển OECD, là đất nước suốt 20 năm nay có tốc độ
phát triển kinh tế cao nhất Cộng đồng Châu Âu EU, là đất nước có tỉ lệ
tội phạm và li hôn thấp nhất EU, là đất nước phát triển diệu kì mà bất
kì bạn bè nào của tôi sang thăm những năm gần đây đều trầm trồ khen ngợi
là văn minh, thanh bình, hạnh phúc và đáng sống.
Ba Lan ngày nay từ một nước đứng thứ 79 về mức độ tham nhũng đã lọt vào top 30 nước ít tham nhũng nhất thế giới.
Ba
Lan ngày nay đã vượt mức sống của Hy Lạp, Bồ Đào Nha và đe dọa sắp vượt
tiếp Tây Ban Nha, Italy... về PPP tính theo đầu người.
Thế mà có
một thời tôi từng là thành phần hăng hái làm "phản động" chống lại tiến
trình đổi mới của xã hội Ba Lan. Khi nghĩ về một thời ấu trĩ, cực đoan
này, tôi luôn hối lỗi và xấu hổ.
Tôi tin, không lâu nữa đâu, sẽ
tới ngày các thành phần ở Việt Nam đang gọi tôi và bạn bè của tôi là
phản động cũng phải hối lỗi và xấu hổ như tôi đã từng. * Bài đã đăng trên trang Facebook cá nhân của nhà văn Trần Quốc Quân, hiện định cư tại Warsaw, Ba Lan. NGUỒN : https://www.bbc.com/vietnamese/world-44727577