Friday, April 21, 2017
Thursday, April 13, 2017
Tuesday, April 11, 2017
Tuesday, April 4, 2017
30THÁNG 4 NĂM 1975 ĐỘI QUÂN BẤT HẠNH
Cuộc chiến đã kết thúc trên mặt trận súng đạn 42 năm. Nhưng sự thật vẫn đang bị bóp méo. Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Tuy nay chính phủ cũng như QLVNCH không còn nữa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.
Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Đã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.Thế Chiến 2 kết thúc, Tòa Án Quốc Tế Nuremburg chỉ kết tội những đầu sỏ trong phe Trục mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ý-Nhật... Năm 1920, lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta bị người Ý bắt và tử hình, nhưng chính tổng tư lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.
Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.
Trao trả tù binh tại sông Thạch Hãn năm 1973
Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan
trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị Cộng Sản
quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có
Cộng Sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện
của người lính miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người
dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc
cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác
chiến hay người cán bộ áo đen Bình Định Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới
biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao
thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong
thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom
đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là
người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba
đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.
Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân tị nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội.. cũng lợi dụng “ danh nghĩa người lính “ để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy “, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.
Trại tù binh chiến tranh Phú quốc 1973
Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cộng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.
Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .
Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so.. sorry “. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nạn “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.
Đau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Đoàn 1 BB, Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Đoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Đại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968)

Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.
Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cộng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.
Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.
Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt Quốc Gia đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.
Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Đói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :
‘Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn .'
Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Đó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Bộ Binh Thủ Đức, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Đại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!
Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :
‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’ ’
(Chinh Phụ Ngâm Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)
Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?
Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.
‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô‘
Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH.

Năm 2017, Chú Nguyễn Vinh Huê, sinh năm 1952, từng là lính dù. Số quân: 72119058. Cha mẹ mất từ nhỏ, chú không có người thân, vô gia cư. Nghề nghiệp: đạp xích lô. Chỗ ở / ngủ / ăn /: trên xe xích lô. Hai bình nhựa đựng nước để nấu trà uống. Bếp ga mini để trên xe xích lô.

Năm 2017, "Lại là 1 Thương phế binh VNCH phải đi ăn xin...Tôi gặp bác giữa đường, ngay ngã tư chờ đèn đỏ. Ban đầu tôi chưa thấy bác vì với hình dáng thế này, bác bị che khuất bởi lượng người chờ đèn đỏ, tôi chỉ nghe tiếng loa bác đem theo đang phát bài cầu xin lòng trắc ẩn của người qua đường. Có vài thanh niên tốt bụng cho bác một chút tiền. Sau khi nhìn thấy bác, tôi biết ngay là bác là 1 TPB VNCH. Tôi có trò chuyện và hỏi bác có tham gia trên Dòng CTT ở Kỳ Đồng không? Bác bảo có nhưng 1 năm chỉ đi được 2 lần, nhà bác ở Tiền Giang. Sau khi trò chuyện, tôi biếu bác ít tiền với suy nghĩ rằng sẽ quay lại tìm gặp và giúp đỡ bác thêm. Tôi nói "Cháu cám ơn bác" (vì thế hệ của bác đã hy sinh nhiều cho cuộc sống của ông bà cha mẹ tôi một thời). Bác ngạc nhiên vì tôi nói cám ơn. Tôi ôm bác một lần trước khi chào tạm biệt. Nghĩ đến thời oai hùng của bác, những người như bác năm xưa và tình trạng của bác bây giờ, tôi đã khóc....". Chị Nguyễn Kim Anh gặp bác ở trạm dừng chân Mekong, gần bò sữa Long Thành.

15 chiếc M-113 của Quân lực VNCH đang chờ đợi để được bảo vệ nhà cửa và dân thường (bằng cách tấn công ngược lại) tránh các đợt pháo kích dữ dội của cộng sản Bắc Việt bắn vào Thủ đô Sài gòn ngày 9 tháng 5 năm 1968

Thảm Sát Xã An Lộc-Long Khánh
-Sau khi bị kháng cứ mạnh tại Long Khánh,CSBV ăn hai trái CBU Thiệt Hại Gần 1 Sư Đoàn,CSBV Điên Cuồng Bắn Giết Dân Trả Thù Vặt Vài Ngày Trước Khi Tướng Lê Minh Đảo Rút Quân Khỏi Phòng Tuyến Xuân Lộc -Long Khánh.
-20/04 Hàng Năm Dân An Lộc Làm Lể Giổ Mộ Tập Thể Do CSBV Thảm Sát Hàng Trăm Người Tại Đây
Anh ơi ! Tháng Tư về
Ngày ba mươi đoạn trường !
Anh nuốt hờn tủi nhục,
Em suối lệ trào tuôn.
Anh ơi ! Tháng Tư não nề
Tháng Tư cơn Quốc nạn
Trời đất cùng kinh hoàng,
Tháng tư phủ mầu tang.
“Tháng Tư về không chỉ là buông súng,
Ngày toàn dân phải trả giả ”hòa bình” .
Bằng tủi nhục bằng ngàn năm tăm tối,
Bằng đọa đày cả thế hệ tương lai .”
Tháng Tư ôi ! Nhục hình
Ngập trời cảnh điêu linh.
Khóc thương bao Anh Hùng,
Vì Tổ Quốc hy sinh.
Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân tị nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội.. cũng lợi dụng “ danh nghĩa người lính “ để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy “, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.
Trại tù binh chiến tranh Phú quốc 1973
Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cộng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.
Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.
Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .
Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so.. sorry “. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nạn “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.
Đau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Đoàn 1 BB, Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Đoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Đại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968)
Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.
Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.
Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cộng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.
Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.
Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.
Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt Quốc Gia đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.
Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Đói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :
‘Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn .'
Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Đó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Bộ Binh Thủ Đức, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Đại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!
Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :
‘..xin vì chàng, xếp bào cỡi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’ ’
(Chinh Phụ Ngâm Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)
Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?
Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.
‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô‘
Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH.
Năm 2017, Chú Nguyễn Vinh Huê, sinh năm 1952, từng là lính dù. Số quân: 72119058. Cha mẹ mất từ nhỏ, chú không có người thân, vô gia cư. Nghề nghiệp: đạp xích lô. Chỗ ở / ngủ / ăn /: trên xe xích lô. Hai bình nhựa đựng nước để nấu trà uống. Bếp ga mini để trên xe xích lô.
Năm 2017, "Lại là 1 Thương phế binh VNCH phải đi ăn xin...Tôi gặp bác giữa đường, ngay ngã tư chờ đèn đỏ. Ban đầu tôi chưa thấy bác vì với hình dáng thế này, bác bị che khuất bởi lượng người chờ đèn đỏ, tôi chỉ nghe tiếng loa bác đem theo đang phát bài cầu xin lòng trắc ẩn của người qua đường. Có vài thanh niên tốt bụng cho bác một chút tiền. Sau khi nhìn thấy bác, tôi biết ngay là bác là 1 TPB VNCH. Tôi có trò chuyện và hỏi bác có tham gia trên Dòng CTT ở Kỳ Đồng không? Bác bảo có nhưng 1 năm chỉ đi được 2 lần, nhà bác ở Tiền Giang. Sau khi trò chuyện, tôi biếu bác ít tiền với suy nghĩ rằng sẽ quay lại tìm gặp và giúp đỡ bác thêm. Tôi nói "Cháu cám ơn bác" (vì thế hệ của bác đã hy sinh nhiều cho cuộc sống của ông bà cha mẹ tôi một thời). Bác ngạc nhiên vì tôi nói cám ơn. Tôi ôm bác một lần trước khi chào tạm biệt. Nghĩ đến thời oai hùng của bác, những người như bác năm xưa và tình trạng của bác bây giờ, tôi đã khóc....". Chị Nguyễn Kim Anh gặp bác ở trạm dừng chân Mekong, gần bò sữa Long Thành.
15 chiếc M-113 của Quân lực VNCH đang chờ đợi để được bảo vệ nhà cửa và dân thường (bằng cách tấn công ngược lại) tránh các đợt pháo kích dữ dội của cộng sản Bắc Việt bắn vào Thủ đô Sài gòn ngày 9 tháng 5 năm 1968
Thảm Sát Xã An Lộc-Long Khánh
-Sau khi bị kháng cứ mạnh tại Long Khánh,CSBV ăn hai trái CBU Thiệt Hại Gần 1 Sư Đoàn,CSBV Điên Cuồng Bắn Giết Dân Trả Thù Vặt Vài Ngày Trước Khi Tướng Lê Minh Đảo Rút Quân Khỏi Phòng Tuyến Xuân Lộc -Long Khánh.
-20/04 Hàng Năm Dân An Lộc Làm Lể Giổ Mộ Tập Thể Do CSBV Thảm Sát Hàng Trăm Người Tại Đây
Anh ơi ! Tháng Tư về
Ngày ba mươi đoạn trường !
Anh nuốt hờn tủi nhục,
Em suối lệ trào tuôn.
Anh ơi ! Tháng Tư não nề
Tháng Tư cơn Quốc nạn
Trời đất cùng kinh hoàng,
Tháng tư phủ mầu tang.
“Tháng Tư về không chỉ là buông súng,
Ngày toàn dân phải trả giả ”hòa bình” .
Bằng tủi nhục bằng ngàn năm tăm tối,
Bằng đọa đày cả thế hệ tương lai .”
Tháng Tư ôi ! Nhục hình
Ngập trời cảnh điêu linh.
Khóc thương bao Anh Hùng,
Vì Tổ Quốc hy sinh.
Advertisement
NGUỒN : http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=1055048
Sunday, April 2, 2017
Friday, March 10, 2017
BỜ BIỂN THUẬN AN : PHÁP TRƯỜNG CÁT
Phạm Vũ Bằng
Ngày
18 tháng 3, 1975, Lữ Đoàn 258/TQLC di chuyển từ Quảng Trị về đèo Phước
Tường, nằm trên QL.1, phía Bắc đèo Hải Vân để bảo vệ an toàn đoạn trục
lộ nguy hiểm này hầu cho các đơn vị QLVNCH
từ QT và Huế rút về Đà Nẵng. Trong thời gian này LĐ.258 đã giao tranh
nhiều lần với địch nhưng vẫn giữ vững vị trí, bảo toàn trục lộ đèo Phước
Tường để chờ các đơn vị bạn từ phía Bắc rút qua, nhưng cho đến sáng
ngày 25 tháng 3 chúng tôi được lệnh rút khỏi
đèo Phước Tường.
Lệnh
này làm chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên, bởi QL.1 đoạn chạy qua đèo PT là
con đường bộ duy nhất tương đối an toàn để triệt thoái các đơn vị bạn
phía Bắc về ĐN, nếu bỏ đoạn đường này đi
chẳng khác chi là “khai tử” họ!
Hay
là thượng cấp đã có kế hoạch khác, đổi hướng ra biển Đông chăng? Tuy
kinh ngạc nhưng là thuộc cấp, là y sĩ của LĐ và là đơn vị chuyên môn nên
chúng tôi không có quyền, không có thời gian
để thắc mắc, việc trước mắt là thương binh.
Tôi
được lệnh mang các thương binh về Tổng Y Viện Duy Tân (ĐN) bằng đường
bộ vì trực thăng không thể đáp được. Thương binh được chở trên 3 xe GMC
có một Trung Đội TQLC bảo vệ, rời đèo PT
vào lúc 6 giờ sáng ngày 25 tháng 3, 1975, vì đường đi khó khăn nên đến
mãi 8 giờ tối mới về được đến Đà Nẵng.
![]() |
| Bác sĩ Phạm Văn Lương |
Chúng
tôi đến Tổng Y Viện Duy Tân vào lúc 9 giờ tối, cả một vùng trời đất tối
đen, trừ phòng nhận bệnh phía sau cổng chính vẫn còn ánh đèn hắt ra,
một số y tá đang săn sóc thương binh, tôi
nhận ra trong số đó có Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương, người hùng ôm lựu
đạn chống tham nhũng năm xưa và nay tuy là trưởng khu giải phẫu của TYV
nhưng vì thiếu y sĩ nên anh tham gia công tác nhận và lựa thương. Anh
hứa sẽ săn sóc các thương binh TQLC thật chu
đáo để tôi trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu (anh Lương đã bị VC bắt và
sau đó anh tự tử trong tù).
Sau
khi công tác tải thương về Tổng Y Viện Duy Tân vừa hoàn tất vào lúc 9
giờ 30 đêm 25 tháng 3 năm 1975 thì qua máy truyền tin C.25 tôi nhận được
lệnh phải trình diện Tiểu Đoàn Quân Y/TQLC
ngay lập tức.
Đến
10 giờ đêm tôi mới về đến cổng căn cứ nằm trong phi trường Non Nước.
Không như những nơi khác, ở đây, cổng căn cứ được canh gác cẩn mật, đèn
rực sáng, nhiều lớp hàng rào kẽm gai kéo chặn
ngang cửa, những quân cảnh TQLC trang bị khí giới đầy đủ, ngoài ra còn
có 2 xe jeep gắn súng đại liên, tất cả trong tư thế sẵn sàng.
Bệnh
viện dã chiến của SĐ/TQLC là một cái “hangar” lớn nằm phía tay phải sau
cổng căn cứ. Tại đây đèn đuốc còn sáng, người ra kẻ vào tấp nập. Tôi
gặp hầu hết các anh em y sĩ của bệnh viện
Lê Hữu Sanh, Thủ Đức, họ chào hỏi tôi vui vẻ và cho biết vì sư đoàn
không có đủ phương tiện tải thương về căn cứ Sóng Thần, Thủ Đức, nên anh
em phải ra Đà Nẵng để săn sóc thương binh tại chỗ.
Tôi
nhìn vào dẫy hangar rộng lớn kê đầy giường bệnh, có đến 5, 6 trăm
giường đầy ắp thương binh, đó đây các toán y sĩ và y tá đang chăm chú
làm nhiệm vụ săn sóc anh em. Dù đã quá quen với
nhiệm vụ cấp cứu nơi chiến trường, nhưng trước tình trạng quá tải, lại
thiếu thốn y cụ và phương tiện tải thương về bệnh viện những trường hợp
quá nặng khiến anh em y sĩ căng thẳng, phải miệt mài, tiết kiệm từng
giây từng phút chiến đấu với tử thần hầu cứu
lấy đồng đội.
Tôi
trình diện Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế, tiểu đoàn trưởng TĐ/QY. Trong
khi tôi đứng nghiêm chào anh thì anh lại chăm chú quan sát chiếc áo giáp
loang lổ vết máu mà tôi đang mặc. Sau khi
biết chắc đó là máu thương binh chứ không phải tôi bị thương, anh không
bắt tay như thường lệ mà nhẹ nhàng vỗ vai tôi, đôi mắt mệt mỏi nhưng
cảm động nhìn “thằng em” vừa thoát chết trở về. Anh nhẹ nhàng bảo tôi để
nón sắt lên bàn anh và ngồi xuống ghế đối
diện rồi chậm rãi nói:
“Hiện
giờ Lữ Đoàn 147/TQLC đang bị kẹt tại cửa Thuận An, không biết vì lý do
gì mà tàu HQ không vào đón. Ngày mai SĐ/TQLC sẽ mở một cuộc hành quân về
phía Bắc đèo Hải Vân để giải tỏa cho
LĐ/147. Nhiệm vụ của Bằng là chỉ huy một đơn vị QY/TQLC và 5 xe tải
thương của Liên Đoàn 71/QY tăng phái để yểm trợ cho đơn vị tấn công. Mọi
tiếp liệu về thuốc men, y cụ, lương thực thì Đại Úy Sanh, sĩ quan trợ y
tiểu đoàn đã lo sẵn.”
Tôi
nhận nhiệm vụ anh Thế giao cho với một tâm trạng nửa mừng nửa lo. Mừng
vì tôi sẽ được tham dự vào cuộc hành quân giải cứu đơn vị bạn; Lo vì tôi
biết đơn vị tấn công sẽ gặp rất nhiều khó
khăn với địa thế phía Bắc đèo Hải Vân và chắc chắn họ sẽ chịu nhiều tổn
thất nên không biết một mình tôi có thể săn sóc cấp cứu cho một số lớn
thương binh không.
Đúng
6 giờ sáng ngày 26 tháng 3, 1975, các y tá TQLC đã sẵn sàng trình diện
tôi với đầy đủ lương thực, thuốc men và y cụ cứu thương. Tôi rất yên tâm
và phân chia họ thành 3 toán với nhiệm
vụ cụ thể rõ ràng; Toán thâu lượm thương, toán cấp cứu, toán tải thương
và không quên nhắc lại cho họ biết truyền thống của Quân Y nói chung và
của TQLC nói riêng là không bỏ sót bất cứ một thương binh nào. Tôi cũng
lưu ý họ phải kiểm soát, lau chùi vũ khí
cá nhân và hết sức thận trọng yểm trợ cho nhau khi tiến lên cấp cứu
thương binh vì địch quân thường nhắm bắn sẻ các toán quân y tá hầu làm
giảm tinh thần chiến đấu của các anh em khác.
Toán
xe tải thương tăng phái cũng đã có mặt, tôi kiểm soát xe và xăng nhớt
thấy đầy đủ nhưng trang bị cá nhân của họ thì quá sơ sài, không nón sắt
áo giáp! Tải thương trên đường đèo Hải Vân
mà tài xế bị thương thì hậu quả khôn lường nên tôi yêu cầu Đại Úy Sanh
cung cấp cho họ nón sắt và áo giáp.
Toán
Quân Y của chúng tôi đã sẵn sàng tại chỗ để lên đường hành quân. Đến 11
giờ sáng thì lệnh hành quân được hủy bỏ mà tôi không được biết lý do
nhưng toán Quân Y của chúng tôi lại nhận
nhiệm vụ khác. Chúng tôi được lệnh đến ngay bến tầu Quân Vận ĐN (tôi
không nhớ tên) để đón anh em thương binh Lữ Đoàn 147/TQLC vào lúc 1 giờ.
Khoảng
2 giờ chiều, một chiếc LCM từ từ cập bến, khi tấm bửng tầu mở ra, tôi
rất mừng ứa nước mắt thấy lại những chiếc áo rằn ri quen thuộc nhưng
cũng buồn ứa nước mắt khi thấy 3 tử sĩ được
anh em khiêng ra trước tiên. Họ được bọc poncho cẩn thận và được đặt
ngay ngắn trên cầu tầu. Nhìn các tử sĩ này mà lòng tôi buồn tê tái! Một
trong 3 tử sĩ này là Thiếu Tá Nguyễn Trí Nam, tiểu đoàn phó TĐ.4/TQLC,
còn 2 người kia vì lâu ngày nên tôi không còn
nhớ tên (nhưng chắc chắn không có tên Đại Úy Tô Thanh Chiêu, một đại
đội trưởng thuộc TĐ.4 tử trận cùng lúc với Thiếu Tá Nam). Các anh sẽ
được đưa vào nhà xác Đà Nẵng.
Theo
sau 3 poncho “bọc thây” là các thương binh, đầu tiên là Đại Tá Nguyễn
Thế Lương, lữ đoàn trưởng LĐ.147 được các y tá dìu xuồng cầu tầu, ông bị
thương ở chân nên di chuyển rất khó khăn.
Sau ông là 2 bác sĩ Rậu và Khoa cùng các y tá đi cùng với các anh em bị
thương, người được đồng đội dìu, người được khiêng cáng, có tất cả
khoảng hơn 100 thương binh. Tôi nhanh chóng phân loại và đưa anh em lên
đoàn xe tải thương để chuyển về bệnh viện dã
chiến TQLC trong căn cứ Non Nước. Sau hết là mấy trăm binh sĩ thuộc đủ
mọi tiểu đoàn đã bị “kẹt” tại bờ biển Thuận An. Trông các anh mệt mỏi bơ
phờ nhưng ánh mắt rực lên sự tức giận.

Thuỷ Quân Lục Chiến tại biển Thuận An, Huế
Tất
cả mọi thành phần trên chiếc LCM này được chở về căn cứ Non Nước và tôi
được biết đây là chiếc tàu duy nhất chở anh em TQLC bị kẹt tại bờ biển
Thuận An trở về Đà Nẵng. Cảm khái trước
sự hy sinh cao cả của 3 đồng đội tôi đã gặp trên cầu tầu, mà trong thâm
tâm, tôi nghĩ sự hy sinh của anh em có phần oan uổng nên tôi làm một
bài thơ để kính tặng các anh:
“Anh nằm đây vô tư không mộng mị
Nợ non sông anh mới trả hôm qua
Anh ra đi khi nước nhà nghiêng ngả
Chúng tôi còn, mang nặng hận núi sông
Tôi với anh, những người chưa quen biết
Đưa tay chào lòng đau mãi khôn nguôi!”
Chiến
tranh như một cơn bão lửa tàn phá tất cả, nhưng rồi lửa cũng phải tàn,
cuộc binh đao rồi cũng qua đi, nhưng những mất mát đau thương do chiến
tranh gây ra sẽ còn tồn tại mãi theo dòng
lịch sử. Chiến đấu bảo vệ quê hương của quân nhân là việc hệ trọng, đó
không phải là một “ván cờ” mà binh sĩ không phải là những quân cờ để
người chỉ huy, người chơi cờ thí tốt bắt xe! Bắt xe không được thì xóa
bàn làm lại!
Gần
đây trong hồi ký của một vị tướng, ông đã dùng câu văn của một tác giả
người Ý để ám chỉ chiến tranh Việt Nam như ván cờ mà ông quên chính ông
là người cũng có phần trách nhiệm không
nhỏ đối với những “con tốt” đã bị thí oan uổng!
Một
người lính nằm xuống sẽ kéo theo tang tóc cho hằng trăm người liên hệ.
Trong 20 năm của cuộc chiến VN, chỉ tính riêng quân đội của cả 2 bên Nam
Bắc đã có tới gần 2 triệu tử sĩ! Hậu quả
của cuộc chiến vẫn còn đến bây giờ và sẽ còn tồn tại vài thế hệ nữa.
Một ngàn năm sau, nếu nước Việt vẫn còn, chưa bị Trung Cộng tiêu diệt
thì người Việt Nam sẽ nhỏ lệ đau buồn khi đọc đến những trang sử của
cuộc chiến này.
Phải
chăng chúng ta mất nước chỉ vì có những cấp, tuy mang danh chỉ huy,
lãnh đạo, nhưng lại mải mê “chơi cờ” mà quên đi lời dạy của Đức Trần
Hưng Đạo: “Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao
cho đâm thủng được giáp giặc? Mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân
mưu?”
Ngày
nay, khi đã “bình chân như vại” tại hải ngoại, đọc lại hồi ký của những
Mũ Xanh còn sống sót tại bãi biển Thuận An năm xưa, hồi tưởng lại những
gì mà các anh em thương binh mà tôi đã
đón và săn sóc ngày 26 tháng 3, 1975 thuật lại và kết hợp với những gì
mắt thấy tai nghe khi tôi còn phục vụ ở Đại Đội Quân Y LĐ.258 trên đèo
Phước Tường, tôi có vài thắc mắc nêu lên với mục đích hoàn toàn mong ước
lịch sử được sáng tỏ mà không hề có ý phỉ
báng hay chỉ trích một cá nhân nào.
Tại
sao Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I không rút quân theo đội hình từ
Huế về đèo Hải Vân (ĐN) trên QL1? Vào thời điểm của cuộc rút quân, đoạn
đường này còn được bảo vệ bởi Liên Đoàn
5/BĐQ, Lữ Đoàn 258/TQLC và LĐ 468/TQLC? Cả đoạn đường dài vẫn an toàn
ngoại trừ một vài cái chốt nhỏ cấp Trung đội như tại địa điểm cầu Đá
Bạc. Những chốt này không đáng quan tâm đối với TQLC và LĐ.1 Kỵ Binh.
Nếu
giới chức có thẩm quyền BTL/QĐ/TP rút quân theo đội hình trên QL.1 thì
quý vị ấy chắc chắn đã mang về Đà Nẵng, không những LĐ147/ TQLC mà còn
có SĐ.1/BB, LĐ.1/KB, LĐ 14-15/BĐQ và các
tiểu đoàn Pháo Binh. Đây là những đơn vị hàng đầu của QLVNCH và nếu
được như thế thì hẳn cuộc chiến tại QK I sẽ thay đổi hay cũng tránh được
thiệt hại lớn, nhất là đối với các TQLC dọc theo bờ biển Thuận An.
Tối
24 tháng 3, 1975, Bộ Tư Lệnh TP/QĐI ra lệnh cho LĐ.147, trang bị nhẹ,
đoạn chiến với những Sư đoàn của CSBV để di chuyển về tập trung tại cửa
biển Thuận An, nhưng QĐ đã không chuẩn bị
và sử dụng những phương tiện có sẵn trong tay như Quân Vận, Công Binh
và Hải Quân để yểm trợ cho LĐ.147/TQLC. Quân Đoàn có nghĩ đến khả năng
truy kích của những Sư đoàn CSBV không?

Vùng
bãi biển Thuận An là một bãi cát trống trải bao quanh tứ bề là nước và
nước! Phía trước là biển Đông, phía sau là Phá Tam Giang, đầm Thanh Lâm,
đầm Hà Trung, phía Bắc là cửa Thuận An,
phía Nam là cửa Tư Hiền. Vùng biển nước này được bảo vệ bởi 2 duyên
đoàn và một giang đoàn, những đơn vị này đã rút đi trước khi LĐ.147 tới
cửa Thuận An. Ai đã ra lệnh cho họ rút đi? Bởi vì nếu các đơn vị này còn
hiện diện tại vùng trách nhiệm thì quân truy
kích của CSBV không thể nào vượt qua được Phá Tam Giang và cửa Thuận An
để bao vây và tấn công LĐ 147/TQLC.
Sáng
25 tháng 3, 1975, trong khi LĐ.147 dừng quân tại bãi biển, trật tự an
ninh còn tốt vì quân truy kích CS chưa tới trong khi đó thì ngoài khơi
có chiếc LST 801 và một đoàn 5 chiếc LCM
nhưng không có một chiếc tầu nào vào đón TQLC! Lý do?
Chỉ
huy là tiên liệu, nếu nói rằng LST 801 không vào sát bờ được để đón
TQLC thì tại sao lại không dùng những tàu nhỏ hơn có khả năng vào sát
bờ? Và còn những LCM thì sao? Rồi sau đó thì
ai ra lệnh cho những tầu này bỏ đi, xuôi Nam? Theo nguyên tắc chỉ huy
thì những đơn vị này chỉ nhận lệnh trực tiếp từ BTL Hải Quân vùng I
Duyên Hải hoặc BTL/QĐI mà thôi.
Đêm
tối 25 tháng 3, 1975, quân truy kích của CSBV đã tới, phía Bắc chúng
vượt qua cửa Thuận An, phía Tây qua bến phà Tân Mỹ, vượt phá Tam Giang,
chiếm các đồi cao, bao vây LĐ.147/TQLC. Chúng
được trang bị hùng hậu, đủ mọi loại vũ khí từ đại bác không giật 75 ly,
súng cối 61 và 82 ly, hỏa tiễn tầm nhiệt AT.3, v.v… Trong khi anh em
TQLC chỉ còn súng cá nhân M.16 trong tình trạng thiếu đạn, thiếu nước
thiếu lương thực, thiếu tất cả để chống trả và
chuyện gì đã xẩy ra chắc không cần phải nói thêm làm chi cho đau lòng.
Cuộc “tàn sát” kéo dài từ chiếu tối 25 tháng 3 cho tới rạng sáng 27
tháng 3 thì toàn bộ Lữ Đoàn 147 còn lại bị chúng bắt!
Điều
đặc biệt khó hiểu là suốt trong thời gian chiến đấu trong tuyệt vọng
này, anh em TQLC không hề được tiếp tế đạn dược và lương thực! Không hề
được yểm trợ hỏa lực nào của hải pháo và
không yểm? Trong khi đó thì “tầu cỡi ngựa xem hoa” ngoài khơi và trực
thăng, A.37,… thì … đã bay về trời! Đã bay đi trước khi địch đến!
Nên
nhớ rằng vào thời điểm này HQ và KQ vẫn còn nguyên vẹn và người có thẩm
quyền ra lệnh cho các đơn vị này thi hành nhiệm vụ là giới chức cao cấp
BTL Quân Đoàn, là của tư lệnh HQ Vùng I
Duyên Hải, là của tư lệnh SĐ.1 KQ chứ không phải các cấp chỉ huy của
TQLC, một lực lượng tăng phái. Xin quý tư lệnh Tiền Phương, Không Quân,
Hải Quân Vùng I giải thích sự kiện kỳ cục này.
Sau
khi Đại Tá Nguyễn Thế Lương, LĐT/LĐ.147, bị thương, Thiếu Tá Phạm Cang
TĐT/TĐ7được đề cử xử lý thường vụ LĐT/LĐ.147 (và sau cùng Th/Tá Cang bị
VC bắt) đã ghi lại chi tiết mọi diễn biến
trong thời gian LĐ kẹt trên bãi biển Thuận An, xin trích:
“Đây
là một trận chiến vô cùng phức tạp chưa từng thấy trong chiến tranh.
Không phòng tuyến rõ ràng, số người dân và các đơn vị bạn di chuyển theo
TQLC quá đông, không phân biệt được ai là
bạn ai là địch, mỗi khi nghe súng nổ thì họ chạy hỗn loạn, gây khó khăn
cho TQLC. Một khu vực chưa đầy một cây số vuông nhưng hơn 3,000 người
trong đó. Khi TĐ.7 đưa M.113 lên tấn công thì địch pháo kích, tôi bị
thương vì mảnh 82, tuy nhiên TĐ.7 đã chiếm được
một số cao điểm nhằm giữ an toàn cho phía mặt biển để Lữ Đoàn dùng làm
bãi đáp hầu thực hiện kế hoạch Alpha, rút quân bằng Hải Quân VN vào lúc
12 giờ đêm.
Kế hoạch xuống tàu theo thứ tự như sau: BCH/LĐ + TĐ.2PB, TĐ.4, TĐ.3, TĐ.5 và cuối cùng là TĐ.7.
Đêm
14 âm lịch, trăng sáng vằng vặc, không gian đắm chìm trong không khí vô
cùng ngột ngạt, mọi người đang chờ đợi, không nghe một tiếng động hay
chỉ vì tiếng sóng gầm thét át tiếng người.
Như
kế hoạch Alpha đã vạch ra, 12 giờ đêm đã điểm, rồi 1 giờ, 3 giờ sáng…
các con tàu vẫn không vào bờ (!). Xa xa ngoài khơi ánh đèn tàu vẫn còn
đó nhưng mọi vật như bất động. Trong đêm,
địch đã vượt cửa Thuận An, tăng cường quân số quyết tấn công LĐ.147 và
ngăn không cho xuống tàu. Vì thế vào lúc 8 giờ sáng 26 tháng 3, một LCM
vào đón thương binh và BCH/LĐ thì địch đã sử dụng hỏa tiễn tầm nhiệt và
đại bác 12.7 tác xạ vào điểm tập trung và
tàu HQ nên tàu phải rút ra, đem theo được một số thương binh. Đây là
chiếc tàu duy nhất bất ngờ cập bờ và cũng vội vàng xa bờ!
Nếu
đêm qua (25 tháng 3) kế hoạch Alpha được thi hành thì ít nhất một nửa
Lữ Đoàn có thể thoát khỏi khu vực này để lên tàu. Nhưng không rõ vì LÝ
DO gì mà không thực hiện được?” (MX Pham Cang,
Tuyển tập 21 năm chiến trận của TQLC).
Một
thiếu tá tiểu đoàn trưởng mà còn “không rõ vì lý do gì” mà tàu HQ không
vào đón như kế hoạch Alpha đã đề ra thì một người lính chuyên môn như
tôi làm sao hiểu nổi lý do! Nhưng với một
căn bản quân sự sơ đăng tôi hiểu rằng nếu chờ tới sáng, mục tiêu rõ
ràng và địch quân đã được tăng cường, đã “thế bắn nằm thủ thế,” hướng
hỏa tiễn vào tàu thì coi như “vô kế khả thi,” rút đi là phải, để lại
pháp trường cát!
Ngày
27 tháng 3, 1975 là ngày kết thúc LĐ.147/TQLC một cách đau thương! Số
phận của SĐ.1/BB, LĐ.1 Thiết Kỵ, LĐ.14/ BĐQ và các lực lượng ĐPQ+NQ phía
Bắc đèo Hải Vân chắc chắn cũng không khá
hơn!
Như vậy chỉ trong vòng 2 ngày, cả một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất Quân Khu I đã bị tan rã một cách vô lý khó hiểu.
Pháp
trường cát, theo định nghĩa, là nơi người bị bắn bị trói tay, bịt miệng
bịt mắt để toán hành quyết bắn mà những người đứng xem không có một
hành động can thiệp nào. Cái pháp trường cát
này, năm xưa ông Tướng NCK đã lập ra tại trung tâm thành phố Sài Gòn để
xử bắn một tên gian thương làm hại đất nước. Cái pháp trường cát đó cả
nước đều biết nhưng rất nhiều người Miền Nam Tự Do đã không biết có một
pháp trường cát thứ hai tại một bãi cát xa
xăm vùng địa đầu giới tuyến vào tháng 3 năm 1975 mang tên “Bãi Biển
Thuận An.”
Trong
những ngày cuối cùng của “Tháng Ba Gãy Súng” đau buồn ấy, người bị đưa
ra pháp trường cát đẫm máu này không phải là tội phạm mà trái lại, lại
là những đứa con ngoan của mẹ Việt Nam.
Những đứa con này đã bỏ gia đình, bỏ tuổi thanh xuân đầy mộng đẹp, bỏ
ăn bỏ ngủ để ngày đêm chiến đấu bảo vệ Miền Nam Tự Do trong suốt 20 năm
dài. Những người này là hằng ngàn TQLC của Lữ Đoàn 147/TQLC thuộc các TĐ
3, 4, 5, 7 và TĐ.2/PB.

Ai là người đã đem họ ra pháp trường cát này?
“Bến Tân-Mỹ phà xưa không trở lại
Đầm Hà-Trung lặng lẽ tiễn anh qua
Phá Tam-Giang sao muôn đời sầu thảm
Máu Thủy-Thần nhuộm đỏ sóng Thuận An!”
Tôi
viết đoạn hồi ký này để kính tặng các đồng đội TQLC cũng như các anh
BB, các anh hùng đơn vị bạn đã bị hy sinh oan uổng trên bờ biển Thuận
An. Ước mong linh hồn các anh được thanh thản
nơi cửa Phật hoặc đất Chúa.
Người xưa có nói “nhất tướng công thành vạn cốt khô”! Vậy thì những ông… không thành công thì cần bao nhiêu vạn cốt khô?
Để
kết thúc những ngổn ngang tâm sự, những câu hỏi không, chưa có người
trả lời, tôi xin ghi lại, cũng tâm sự của một người lính mũ xanh, hiện
còn ở trong nước, tháng 3 năm xưa đã cùng đồng
đội ngồi lại trên bãi cát bên bờ biển Đông để cùng rút chốt, chia nhau
một trái lựu đạn! Nhưng anh đã kém may mắn hơn đồng đội, đành lê kiếp
sống tàn tạ như người xa lạ trên chính quê hương mình. MX Đoàn Văn Tuấn
viết:
“Một
mùa đại giỗ nữa của gia đình anh em Mũ Xanh lại đến. Đã trên bao năm
trôi qua mà sao vẫn nhớ mãi cái cảnh những người lớn chơi trò trẻ con!
Họ ngồi quây quần bên nhau, úp lá khoai môn lên trái mãng cầu. Những lời bình thản:
“Ê, từ từ đã mày, chờ thằng Toàn đang chạy đến tham gia kia kìa.”
Rồi sau đó… “bùm”!!!
Trời
ơi! Đó là thực tế của bạn bè anh em chúng tôi, những người lính Mũ Xanh
kiêu hùng nhưng họ đã phải đi nhặt những viên đạn để chống trả với quân
thù! Dùng hàm răng làm vũ khí và sau cùng
thì đành trở về với tuổi thơ, ngồi xúm lại trên bãi cát trắng bờ biển
Thuận An miền Trung thơ mộng.
Trời vẫn xanh, biển vẫn rì rào lời mời gọi. Đường về! Ôi quá xa.
“Bùm,”
những thân người đổ vật ra! Anh em ta đã về nhà, về với đất mẹ thân
yêu. Một thực tế mà trên thế giới ít một nước nào có. Sự tự sát tập thể
không khác gì với những huyền thoại của
những người võ sĩ đạo của xứ Phù-Tang. Tinh thần bất khuất ấy vẫn sống
mãi trong ký ức những người còn lại.
Hôm
nay ngồi đây, tôi viết những dòng này gửi đến các anh, đến bạn bè,
những người lính MX năm xưa để chúng ta cùng cúi đầu dành một phút mặc
niệm để tưởng nhớ những người đã nằm xuống tháng
3, tháng gió lớn của gia đình Mũ Xanh.
MX Phạm Vũ Bằng
--
Saturday, February 25, 2017
ĐỒI DELTA
Mũđỏ
Trương
Văn Út
(Útbạchlan)
Cuộc
hành quân Toàn Thắng do Trung Tướng Đổ Cao Trí sắp bước vào giai đoạn kết thúc,
Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù (LĐ1ND) đã kiểm soát toàn bộ tỉnh Kampong Cham, Lữ Đoàn 3 Nhẩy
Dù (LĐ3ND) chiếm tòan bộ phía Đông của Cambodia gồm các cứ điểm trọng yếu như:
Snoul, Memot, Chup, Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (LĐ2ND) làm lực lượng trừ bị trách nhiệm
dọc theo biên giới Miên - Việt. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH-LĐ2ND)
đang trú đóng tại trại Biên Phòng Thiện Ngôn vốn là căn cứ của Lực Luợng Đặc
Biệt về phía Tây của tỉnh lỵ Tây Ninh cách biên giới khoảng 10 cây số (Km). Toàn
bộ nhân sự lãnh đạo Cục R và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời cùng đám cán binh
thoát chết của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phải tháo chạy thục mạng lẫn trốn về
vùng biên giới Việt - Miên - Lào khiến Tướng Đổ Cao Trí không thực hiện được
quyết tâm: “phen này ta nhất quyết phải bắt được thằng Mười
Trí”!
Những
ngày cuối năm Tân Hợi (1971), Đại Đội 2Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) được lệnh
triệt xuất ra khỏi vùng biên giới sau một tháng dầm mình dưới những đầm lầy đầy
dẫy đĩa vắt muỗi mòng … và được bốc về Căn Cứ Hành Quân BCH-LĐ2ND chuẩn bị đón
Tết Nhâm Tý (1972) dưới hầm trú ẩn trong trại LLĐB Biên Phòng Thiện Ngôn. Những
ngày cuối tháng Hai tuy không lạnh lắm, nhưng sương mù buổi sáng giăng khắp nơi
như bao phủ cả trại lính chìm vào không gian của những ngày cuối Đông lành lạnh
còn vướng víu chưa nỡ sang Xuân…! Chợt có tiếng
hát từ radio của lính:
Đợi
hai ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa,
mời Xuân đến với tôi, giờ còn nặng
hai vai,
thân tha hương hồ hải, hỏi Xuân có gì vui?
hỏi Xuân có gì vui,
Xuân làm dáng cho đời,
đẹp lòng giây phút thôi, ôi đất nước xa xôi,
Xuân
đi làm sao tới, dặm dài xin chớ lui…!
(Tôi Chưa Có Mùa Xuân - Châu Kỳ )
Tôi
chạnh tình nhớ đến khung cảnh sinh hoạt của những người thân yêu trong gia đình:
giờ này chắc Mẹ và Chị đang ngồi canh bên bếp lửa hồng với hai nồi bánh chưng và
bánh tét, Cha và Em đang chùi mấy bộ lư đồng, quét dọn bàn thờ, treo vài ba câu
đối đỏ, cắm một vài cành mai… và thành tâm lâm râm khấn vái, cầu nguyện
với niềm hy vọng mong manh: “thằng
Út có thể sẽ về ăn tết năm nay”…?
Trong cơn hồi tưởng miên mang tôi tự thưởng hương vị tất niên:
春 園
Xuân Viên
Sơn
tuyền lưỡng xứ vãn,
Hoa liễu nhất viên xuân.
Hoàn trì thiên nhật tuý,
Cộng tác bách niên nhân.
(Vương Bột - 王勃)
Hoa liễu nhất viên xuân.
Hoàn trì thiên nhật tuý,
Cộng tác bách niên nhân.
(Vương Bột - 王勃)
Hay Thơ Xuân với
Thiền sư Việt:
Tựu
khai
Đào
trung xuân mãn diện
Xuân
trung đào tựu khai
Hà
tất quân vị báo
Vô
đào xuân bất lai.
(MĐTTA)
Và:
Rừng
núi thương Xuân bèn trổ lá
Thị
thành nhớ Tết cố chưng bông.
Trong
căn hầm trú ẩn chỉ rộng
khoảng
năm sáu thước vuông, một cái bàn dã chiến cùng bốn thùng gỗ pháo binh làm ghế
ngồi. Khi tôi và Bác Sĩ Hiệp đến thì đã có mặt Trung Tá Nguyễn Văn Tường
TĐT/TĐ2PB ngồi sẵn đó rồi. Trên bàn là một chai Remy Martelle, một cái bánh
chưng, một đĩa giò thủ cùng với dưa hành củ kiệu…Thường
chúng
tôi gặp nhau hằng ngày qua máy PRC25 hoặc trong những buổi họp hành quân
kể
cả những khi không
có gì để nói đến trận mạc chiến chinh. Thiếu Tá Trần
Đăng Khôi
mở lời:
-
Theo tôi được biết Lữ
Đoàn
sẽ được
lệnh về
hậu cứ vài ngày tới, để
nghĩ
dưỡng quân không biết được bao lâu, sau đó sẽ tăng phái cho Quân Đoàn II, vì
Bộ
Tư
Lệnh
Tiền
Phương của Sư Đoàn22Bộ
Binh
đang bị áp lực nặng nề ở Tân Cảnh - Dakto. Tôi chỉ biết có thế! Còn
về
phần
tôi có lẽ được thuyên chuyển về đơn vị khác.
Trung
Tá Tường cười cười nâng cốc rượu và chợt nói:
-
Chúc mừng!!!
À,…thì
ra hai “ngài” được thăng quan tiến chức. Thiếu Tá Khôi về làm Tiểu
Đoàn Trưởng - Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐT/TĐ7ND),
Trung Tá Tường lên làm Chỉ Huy Phó Bộ
Chỉ
Huy Pháo Binh Sư Đoàn (CHP/BCHPBS
Đ)
cả hai sẽ được thăng cấp.
.Quốc
Lộ 14 Kontum – Dakto:
Tôi
leo lên chiếc trực thăng (Slick) thứ tư, một trong 15 chiếc trực thăng chở quân
của Phi Đoàn 229 Lạc Long đang quạt cánh nằm chờ
dài
trên quốc lộ 14 phía trước căn cứ Võ Định - Bộ Chỉ Huy Hành Quân của LĐ2ND….
Lố
nhố trong
3 Slick đầu là ba toán Viễn Thám, Slick thứ tư có tôi, 3 hiệu thính viên và 3
“thầy trò” Thiếu Úy Chu Văn Chấn tiền sát viên Pháo Binh của TĐ1PBND, Slick thứ
năm là toàn bộ cố vấn Mỹ và phóng viên chiến trường Cao Sơn của Phòng Tâm Lý
Chiến Quân Đoàn II, những
Slick còn
lại chở
các
binh sĩ Trung Đội Trinh Sát Dù… Trên không là chiếc C&C của Đại Úy Phạm Công
Cẩn (Công
Cẩn Giang Đông “tân biên” - K21VBĐL) cùng với Đại Tá Trần Quốc Lịch
Lữ
Đoàn
Trưởng
Lữ
Đoàn
2 Nhẩy
Dù
(LĐT/LĐIIND), Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành (K19VBĐL) Sĩ Quan phụ tá hành quân
Lữ
Đoàn,
Thiếu Tá Bùi Đức Lạc - Tiểu
Đoàn
Trưởng
Tiểu
Đoàn
1 Pháo Binh Nhẩy
Dù
(TĐT/TĐ1PBND) và các hiệu thính viên.
Tiếng
cánh quạt quay nhanh bắt đầu tăng tốc độ nâng cao thân tàu lên khỏi con đường
tráng nhựa mang tên Quốc
Lộ
14, con đường nối liến từ ngã ba biên giới Việt – Miên - Lào (Benhet) về Kontum
đến Pleiku đã trãi đầy máu và nước mắt của biết
bao nhiêu Quân
- Dân - Cán - Chính vùng Tam Biên với sức cường tập háo sát của Sư Đoàn 320A
chính quy Cộng
Sản
Bắc
Việt
(SĐ320A CSBV) từ
vùng Hạ Lào xâm nhập
vào
nơi đây sau “Mặt Trận Đường 9 Nam Lào” (Hành Quân Lam Sơn 719 Việt
Nam
Cộng
Hoà),
được tăng cường thêm 2 Trung Đoàn Tank T54, 1 Trung Đoàn Phòng Không hạng nặng
cùng với sự hổ trợ của Sư Đoàn 10 Cơ Động Địa Phương (SĐ10CĐĐP).
Trên
tầng
số liên lạc tôi
gọi thiếu tá Thành:
-
Thành Thái...Út Bạch Lan.
-
Nghe…
-
Thăng thiên…
Từ
bãi bốc (PZ) đến bãi thả (LZ) mất hai phút bay. Trong hai phút ngắn ngủi này mà
bao nhiêu người phải vận dụng tất cả trí lực để chú tâm vào nhiệm vụ của mình.
Người quan trọng nhất phải nói là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc - Tiểu Đoàn Trưởng
TĐ1PBND người đang phối hợp điều động cả lực lượng Pháo Binh, phi yểm của Việt
và Mỹ cho việc đổ quân, chỉ một sơ xuất nhỏ tính toán vài giây đồng hồ thì
sẽ gây ra không biết bao nhiêu hậu quả không lường trước được…
Với
Kỹ
Thuật “GAP” (Ground and Air Preparation) là dọn bãi đáp an toàn cho chiến thuật
Trực Thăng Vận, chắc có lẽ chỉ có Pháo Binh Nhẩy Dù là thông thạo và nhiều kinh
nghiệm nhất vì đã phối hợp với Không Kỵ Hoa Kỳ (1st
Cavalry Division)
nhiều năm rồi.
-
Hồng Vân, Huyền Vân, Thanh Vân...11…?
-
Nghe đích thân.
-
10,9,8,7,6,5,4,3,2,1...Out...
Ám
số 11 là Thiếu Tá Bùi Đức Lạc TĐT/TĐ1PBND, Hồng Vân là Đại Úy Tựu (A1), Huyền
Vân là Đại Úy Thái (B1), Thanh Vân là Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc (C1) ba sĩ quan
Pháo Đội Trưởng của TĐ1PBND. Khi tôi báo “Thăng Thiên” và dự trù sẽ đến LZ hai
phút thì Th/T Lạc cho lệnh 3 Pháo
Đội
cùng lúc khai hỏa TOT(Time On Target) tập trung ngay vào mục tiêu, trong
khi chúng tôi đang trên đường bay tới
mục tiêu… Chúng ta hãy
thử làm con tính nhẫm: 3 Pháo Đội có tổng cộng 18 khẩu pháo 105ly, mỗi khẩu tác
xạ 20 quả đạn vào cùng một điểm, trong vòng một vài phút thì sức
tàn
phá huỷ diệt có khác gì phi cơ thả bom chiến lược B-52 ?
Tôi
tuy đang ngồi trên chiếc Slick thứ tư, nhưng thân luôn chồm lên phòng lái để
theo dõi phía trước, nghe trong máy của Th/U Chấn pháo binh đếm tiếng điểm của
Th/T Lạc...2...1...Out, vừa nghe chữ “Out” và một trái khói cuối cùng bung nổ
ngay trên đỉnh đồi 1049 (có tên là đồi Delta) nơi mà tôi phải dẫn quân đáp xuống
như đại bàng điểm
sơn,
bốn chiếc Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long lao xuống phóng hàng loạt
Rocket ngay vào đám khói trắng đang bung
tỏa rộng lên không và trong tít tắt
giây
đồng hồ thì chiếc Slick thứ nhất với toán Viễn Thám 1 cũng vội đáp xuống trên
đỉnh đồi. Nhưng mọi việc không xảy ra như dự tính để đưa đến những
biến chuyển dở khóc dở cười và sau này ký giả Cao Sơn của Quân Đoàn II đã viết
bài dệt gấm thêu hoa, thăng thiên gần như huyền thoại …! Slick thứ nhất vào tới
mục tiêu trên cao độ 50ft thì đột ngột quay về phía phải 90 độ, hạ thấp độ cao
và biến mất dưới thung lũng rừng núi chập chùng, Slick thứ hai, rồi Slick thứ
ba… Tôi lao lên chỉ cho Pilot chính bên trái và hét lớn: “ xuống… xuống…
xuống ngay cho tôi…”! Chiếc trực thăng xà xuống ngay đỉnh đồi chừng 5ft, chúng
tôi đồng loạt phóng nhanh xuống mặt đất, trực
thăng bốc lên bay khỏi đỉnh đồi, tôi chụp
máy gọi ngay cho Thành Thái:
-
Tôi bị phục kích độn thổ, yêu cầu phải cho tất cả con cái của tôi đoàn
tụ...hết.
Trong
khi đó chân tôi đang đứng trên miệng hầm, dưới hầm là một nòng đại liên phòng
không 12ly7 đang quơ qua quơ lại… Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Minh trưởng ban
truyền tin của Đại Đội
xô
ngang vai tôi một cái thật mạnh, tôi bật ngã lăng lòm còm trên nấp hầm, Trung Úy
Buhdar cố vấn Mỹ
đang ở bên cạnh rút
vội khẩu Colt 45 không kịp kéo cơ bẩm cho đạn lên nòng mà cứ hô hoán “bố cu vi
ci” luôn miệng... Tôi lấy lại bình tỉnh và la lớn: “lựu đạn”… Vì trong tình
trạng quá bất ngờ lại ngạc nhiên, quýnh quáng nên Thiếu Úy Chấn tháo trái lựu
đạn từ giây ba chạt, cắn rút chốt, quăng ngay xuống hầm chờ cho nó nổ, thì ngay
tức khắc trái lựu đạn lại bị Việt Cộng từ dưới hầm ném trả trở lên phát nổ
tung… Thầy trò chúng tôi nằm
rạp xuống, bò
lết bò càng, sờ bụng, sờ đầu, lần mò xem tay chân có mất cái nào không…? May quá
cả đám không hề
chi như phép lạ, hú hồn …!!!
Thôi,… không dùng lựu đạn nữa, chơi mìn Claymore theo kiểu a la mode “Nhẩy Dù”
cho chắc
ăn,
tay cầm sẵn “con cóc”, ném một trái khói xuống hầm, rồi ném mìn Claymore xuống
theo, xong bấm cóc… “Oành” tiếng
nổ vang trời, nóc
hầm bung vỡ
tung, có tiếng khua động cuống
quít ở
những hang đào ăn luồng với căn hầm chính là lố nhố năm ba chú nón cối
đang cố chui vào các ngách đục sâu vào vách hầm chính, mặt mày ngây ngô,
thất kinh tưởng như bị thiên lôi vừa giáng một búa mà chưa chết…! Và cứ
tiếp tục như thế, các Trung Đội đến sau cứ y theo thủ thuật “thảy lỗ
bấm
cóc
“cho đến khi dứt điểm hơn hai chục (20) căn hầm trên đỉnh đồi bung nắp,
thằng nào còn sống nguyên vẹn thì lôi lên, đối xử tử tế với nó, không cần trói,
chỉ cho ngồi yên tại chỗ, cho uống cà phê, hút thuốc lá Pallmall, thằng
nào chết thì đếm xác, bị thương nặng ngáp ngáp không thể cứu chữa được thì
cho nó một phát ân huệ cuối cùng để tránh khỏi đau đớn hành xác với
lời
cầu nguyện cho linh hồn được siêu thoát và đưa tay vuốt
cho đôi mắt khép lại luôn cả oán hờn…! Kiểm lại bắt sống được 12
tên Bộ Đội chính qui Việt Cộng tại chỗ, chúng chỉ
ở
lứa tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” ốm đói vì thiếu ăn lâu ngày không tương
xứng
làm đối thủ với Trinh Sát 2 Nhẩy Dù!
Chiếc Slick thứ năm và 10 chiếc Slick kế tiếp lần lượt đáp xuống yên ngựa dưới
triền đồi, chờ đợt hai thì thả đủ toàn bộ ĐĐ2TSND của tôi. Tôi đang
lượng
định địa thế để bố trí quân thì qua máy liên lạc:
-
Út Bạch Lan...qua tần số UHF nói chuyện với tôi.
Giọng
nói của Pilot trực thăng Phi Đoàn 229 Lạc Long là đại úy Phạm Công Cẩn dân Thiếu
Sinh Quân vào Khóa 21 Võ Bị Quốc Gia có nhiều kỷ niệm ân tình với tôi khi tôi
còn ở Lực Lượng Đặc Biệt
tại Nha
Trang… “Công Cẩn
Giang Đông” đang
bay C&C cho đại tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND.
-
Út Bạch Lan...bằng mọi giá tôi sẽ lo cho con cái UBL xum họp đầy đủ… 207 (ám
số truyền tin của Đ/T Trần Quốc Lịch) đã xin Quân Đoàn phi yểm khẩn
cấp với sự hổ trợ của cố vấn trưởng John Paul Vann, OV10 vừa báo cho biết UBL
đang bị bao vây đó...Tôi đang xuống đây!
Công
Cẩn vừa dứt lời thì tôi thấy chiếc C&C đã quần trên đầu hai vòng và lặn sâu
xuống thung lũng… Năm phút sau:
-
Út Bạch Lan... 207.
-
Tôi nghe đích thân.
-
Út Bạch Lan đang trong vòng vây của Trung Đoàn 64 Sư Đoàn 320 (TĐ64/SĐ320). Cố
gắng giữ Delta trong đêm nay, ngày mai TĐ2ND sẽ xuống Charlie (phía Bắc), TĐ1ND
sẽ xuống Hồng Hà (phía Nam). Tôi đã nói với đại tá Mike cố vấn Lữ Đoàn yêu
cầu Quân Đoàn dành ưu tiên tất cả phi yểm từ bây giờ cho đến ngày mai cho Delta.
Đêm nay là đêm không ngủ của UBL và cả Lữ
Đoàn
nữa đó. Nhẩy Dù Cố Gắng!
Trên
tầng
số liên lạc Thành
Thái (K19), Trọng Nhi (K20) cũng nhắn lời tôi sẽ thức với UBL đêm nay, và đặc
biệt Công Cẩn (K21) sẽ bay suốt đêm nay để
yểm trợ …!
Tôi
xin tiếp tế ngay lựu đạn, mìn Claymore, mìn chiếu sáng, đạn đại liên M60 đồng
thời yêu cầu bốc luôn 12 ông nhô con nón cối gầy
còm trơ xương, da xanh xao như tàu lá vì đói ăn và thiếu ánh sáng
mặt trời lâu ngày… đang lấm la lấm lét nét
sợ hãi hiện lên vẻ mặt cùng với dáng ngồi xổm co ro trông rất tội
nghiệp nếu họ không phải là Việt Cộng …?! Trong số 12 tên bị bắt có
một Sĩ Quan cấp Thiếu Úy tên Đoàn Tạo tốt nghiệp trường Hoàng Phố. Tôi hỏi
hắn:
-
Tại sao các anh không có phản ứng khi chúng tôi đến?
-
Chúng
em chưa
có lệnh khai hỏa!
“Giời
cao, đất
dày ơi”…!
Thật hú vía bà đỡ,
hồng
phước tề thiên...!
Thử nghĩ xem với giàn phòng không cả chục khẩu 57ly di động, tối tân
của Nga - Tầu mới “ra lò “ nó mà khai hỏa thì không biết có bao nhiêu trực
thăng bị bắn gảy cánh như chim Bằng thọ tiễn mang theo cả thân xác, xương thịt
của ĐĐ2TSND làm phân bón cho cây cỏ xanh lá và đám rợ hoang đua mọc bao phủ
quanh đồi Delta…! Trang đầu cuốn sổ nhỏ nhật ký hành quân của hắn viết:
“Polko dậy sóng, giải phóngTây Nguyên” và “chặt Kontum rụng cả Tây
Nguyên” rất
là ảo tưởng và cường điệu tính lãng mạn trên chiến trường “võ mồm” bởi bị guồng
máy Đảng và Nhà Nước tuyên truyền, nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ giải
phóng miền Nam và thẳng tiến trên đường xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định
thắng lợi …?!
Trong nhật ký có một đoạn khá bi thương và cảm động: “Bu ơi! Sau sáu
tháng, đêm đi ngày nghĩ, cuối cùng chúng con đã đặt chân lên phần đất Kontum,
Gia Lai với rừng núi bạt ngàn. Con nhớ Bu lắm, không biết Bu còn khỏe để hằng
ngày tưới mấy chục luống khoai hay không, mùa đông sắp tới còn củi rừng để đốt
sưởi hay không, nỗi buồn nhớ bố, anh cả, bé Tư đã mất trên đường vào B có vơi đi
hay không? Đơn vị của con xuất phát từ Lao Bảo, Khe Sanh với hơn 400 người, giờ
chỉ còn gần 200 trong tâm trạng hoang mang lo âu không biết chết sống ngày giờ
nào. Bệnh tật chết, bom đạn bất thần đổ ập xuống đầu...cũng
chết...!”
Tôi
móc bao thuốc Quân Tiếp Vụ và hỏi đám cán binh Việt Cộng bị bắt này với thái
độ
trấn an khoan hoà:
-
Có
ai muốn hút thuốc không? Các
cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có nghĩa thật là các cậu còn sống … Nhưng
những đồng chí của các cậu đang ẩn nấp rình rập trong rừng kia chưa biết tử thần
rồi sẽ đưa đi lúc nào...”?!
Quả
thật
như vậy! Nếu mấy tên cán binh nhô con VC này không bị chúng tôi bắt giữ mà phải
tiếp tục chiến đấu, không may bị thương nặng thì ắt sẽ phải chết tức tưởi…! Vì
để tránh không phải chịu trách nhiệm và là gánh nặng kinh tế phải săn sóc, nuôi
nấng đám thương binh tàn phế vô dụng, báo cô trong cuộc chiến sẽ gây ảnh hưởng
xấu, tiêu cực, bi quan làm giao động tinh thần, rối loạn hàng ngũ cán binh vào
Nam chiến đấu và khiến cho xã hội suy yếu, xáo trộn hậu phương… Trong khi điều
kiện chiến trường khắc nghiệt, thiếu thốn tất cả phương tiện, nhân sự y tế và
tiếp liệu để cứu chữa cho thương binh… Nên Bắc Bộ Phủ đã ban hành tiêu lệnh
triệt để cho các cấp chỉ huy phải “ban phát ân huệ” là xử tử tất cả cán
binh bị thương nặng ngay tại chiến trường và chúng đã “thanh toán” hơn 300 000
(ba trăm ngàn) thương binh được “ghi nhận là mất tích” …?! Nhưng chắc chắn con
số thật phải nhiều lần hơn “báo cáo” vì gian dối như “Vẹm” là bản chất bất biến
với thời gian… Lại nữa bí mật đã có loài côn trùng hoang vùng núi rừng trùng
điệp xứ nhiệt đới gậm nhắm tất cả còn đâu hình hài để mà xăm soi, nào ai biết,
nào ai hay, người chết không biết nói, chỉ có oan hồn vật vờ phiêu dạt trong cõi
vô minh mịt mù…!
Trên
tầng
số liên lạc:
-
Út Bạch Lan...chuẩn bị bãi đáp.
Tiếng
Thành Thái (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành) vang vang trong máy. Bốn chiếc
Cobra xuất hiện bao vùng. Tôi ra lệnh vội vàng cột hai tay ngoặc sau lưng 12 tên
nhô con VC này, bịt mắt bằng khăn chít đầu Viễn Thám, căng bốn Panel vàng cùng
với kính phản chiếu đánh dấu cho LZ. Hai trực thăng tiếp tế được hộ tống bởi hai
Gunship của Phi Đoàn 229 Lạc Long dưới sự điều động của C&C Phạm Công Cẩn từ
từ đáp xuống ngay dấu hiệu của kính phản chiếu và đạp vội xuống mấy thùng đạn
dược, trong khi chúng tôi đẩy nhanh 12 tên tù binh nhô con VC lên trực thăng
cùng với 6 thương binh nhẹ của TS2ND. Phi vụ cảm tử tiếp tế khẩn cấp đã hoàn tất
với sự gan lì của các Kinh Kha thời đại Bảo Quốc Trấn Không - Phi Đoàn 229 Lạc
Long “bay không ai tìm xác rơi”. Hạ sĩ Mang Đen vai đang vác hai thùng
đạn đại liên M60 khi đi ngang tôi hát vang: “ba về thủ đô...má có đồ chơi...”!!!
Thiếu Úy Chấn tiền sát viên hỏi tôi:
-
Nó hát cái gì vậy?
Tôi
trả lời:
-
Thì đồ chơi của “má” là hai thùng đạn đại liên M60 đó.
Đại
uý Buhdar cố vấn Mỹ lom khom chạy đến chỗ tôi ngồi báo tin:
-
Hey Út,… Đại tá Mike cố vấn Lữ Đoàn mới cho tao biết, đêm nay tụi nó (VC)
nhất quyết trả thù trận
thảm bại vừa rồi,
chúng sẽ đánh cường tập dứt điểm bọn mình. Nên Quân Đoàn đã chấp thuận lời đề
nghị của Mr. B-52 JohnPaul Vann là ưu tiên dồn hết tất cả mọi phi yểm cho mình.
Chúng ta phải đối phó với cấp Trung Đoàn VC cùng với đại pháo 130 và hoả lực
phòng không tân tiến của chúng nó. Ý kiến của Út mày ra sao cho tao
biết?
-
Budhar, mày yên tâm! To night mày cứ ở bên tao và Chấn, tất cả đều không ngủ…
Hey,
yeah make
my day.
You and us wait
for the night to come…
Ok?
Buhdar
móc trong áo Shaun chai Black&White nhỏ bằng bao thuốc lá Pallmall mở nắp
trao cho tôi rồi nói:
-
Ok...Ok...Ok...We bottle up...God blesse for us to night...!
Ánh
thái dương khuất dần sau những hàng cây rừng phía Tây, bên kia là phía Đông nơi
xa… xa …đó là thành phố
Saigon bình yên, có lẽ giờ nầy phố phường
bắt đầu lên đèn hoa rực rỡ, thị dân hiền hoà an hưởng
nhịp đời như nên thơ
Màn
đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng,
Kìa
bao phố phường, bao mái lầu chìm trong bóng đêm,
Lá
lá lá lá la la, lá lá lá lá la
Đời
đẹp quá á a à á a a bài thơ
Đường
đi lối về cơn gió lùa ngả nghiêng bao tà áo
Và
bao mái đầu không vướng sầu kề vai bước mau…
(Đêm
Đô Thị - Y Vân)
Chúng
tôi nằm phục ở nơi đây ghìm tay súng, chong đôi mắt
đỏ chờ
giặc trong bóng đêm ma quái rờn rợn khí thê thê lạnh của tử thần lảng
vãng, lẫn khuất ngay ngáy mùi máu tanh còn thấm ướt qua từng thớ đất trận địa
ban ngày vừa qua…! Những khi “thầy trò Đường
Tăng”
ĐĐ2TSND chúng tôi phải lâm vào “Thế Bối Thuỷ” và giặc thù vây kín trùng trùng…
không có đường trở lui mà phải Sinh Tử Chiến, mãnh hổ huyết chiến địch quần hồ
mới hòng có đường sống sót trở về với vợ con ở trại gia binh… Hơn 200 sinh mạng
“Kinh Kha” Trinh Sát Dù đã qua bờ Dịch thuỷ đang trông chờ ta với trọng trách
nặng nề đè nặng trên vai… Tôi phải thật bình tĩnh nhận thức sự việc từ nội tâm
tới ngoại giới như chiếu soi và trong không gian tỉnh lặng, tôi nghe rõ tiếng
xào xạt lá cây rừng với vài cơn gió Hè thổi qua của vùng Tây Nguyên
đất
đỏ,
mắt đảo quanh như soi hút cảnh vật chung quanh và chú tâm nghe ngóng những động
tỉnh nhỏ nhặt mơ hồ như có, như không xen lẫn trong mớ âm thanh hỗn độn tiếng
côn trùng gọi nhau trong đêm … Tôi biết tất cả hơn 200 đôi mắt của ĐĐ2TSND cũng
đang chong đỏ trong bóng đêm dày dặc và tay ghìm chặc súng đạn đã lên nòng từ
những hầm hố, lấy độ dày của đất làm chỗ che thân và chờ đợi từng giây phút sẽ
có ánh lửa loé chớp nhoáng bùng lên với hằng loạt tiếng nổ xé rách màn đêm khi
địch quân nổ súng tấn công cường tập… Trên không có tiếng vọng rù …rì … của
chiếc không thám OV10 bay trên cao độ vài ngàn bộ như thần “thiên lý nhãn”
hộ mạng luôn túc trực quan sát, theo dõi tình hình “dưới thế” để chỉ điểm, hướng
dẫn, báo cáo hành quân, yểm trợ quân bạn từng chi tiết bất kể giờ giấc hay đêm
ngày … Thời khắc tử thần quơ lưỡi hái đã điểm lúc 10:45 trời gần khuya: hằng
loại trái sáng phát nổ phựt
ánh sáng bung loé sáng rực trong đêm cùng lúc tiếng nổ mìn định hướng Claymore
vang dội, thân xác, xương thịt vung vãi, bầy thiêu thân ngông cuồng lao tới bức
tường thành lửa đạn khạc ra hằng loạt, lựu đạn tung lên nổ vang nháng lửa,
hằng
loạt M79
bắn
trực
xạ vào thân người tan nát, những tràng đại liên M60 nổ
dòn liên
thanh không cần giải nhiệt bắn vào thây người ngã xuống, bấm thêm mìn
Claymore nổ dạt tung toé xương thịt kinh hoàng, lớp ngạ quỉ “sinh Bắc tử Nam”
tan tành như xác pháo, lớp khác nhào tới như những cương thi vô cảm giác rồi ngã
bật xuống trước họng súng thiện xạ của hơn 200 tay súng ĐĐ2TSND là đơn vị Tổng
Trừ Bị ưu tú trong QLVNCH dày dạn kinh qua bao chiến trường trên 4 Vùng Chiến
Thuật… Khoảng 5 phút sau, 4 chiếc Cobra trực thăng võ trang đã xuất hiện từ cao
độ 500 bộ, theo tín hiệu của PRC11 phát ra từ Budhar và tôi hướng dẫn chỉ
điểm
mục tiêu để cho “Thiên Thần Mãng Xà Vương “ Cobra clean up bầy quỉ Đỏ lúc nhúc
“dưới thế” với giàn phóng hoả
tiễn (Rocket), M79 Auto bắn rãi cận phòng chung quanh đỉnh đồi … Tiếng
nổ vang rền đinh tai, nhức óc, mảnh đạn cày sới tung đất đá, lửa cháy đỏ
rực
đỉnh đồi Delta trong đêm khuya …!!! Cobra hết đạn rời
vùng. Ngay tức
khắc Pháo
Binh của Thanh Vân (Đại Úy Nguyễn Cẩn Ngọc PĐT/PĐC1ND) nhuần nhuyễn khế
hợp theo những tiêu điểm tác xạ định sẵn mà bắn
hằng tràng đạn đại bác như trãi thảm cả ngọn đồi …
Hằng hàng hàng lớp lớp Bắc Quân từ cánh rừng phía Tây vùng 3 biên giới Việt -
Miên - Lào đã ém quân nằm
phục sẵn
từ trước, túa tràn
ra bao vây quanh chân đồi,
chúng hung hãn nhào
lên như bầy
dã thú để
rồi thân xác bị nổ tan tành dưới sức công phá của bom đạn kinh hồn!!!
Tiếng
Thiếu Tá Bùi Đức Lạc trong máy của Thiếu Úy Chấn:
-
Thanh Vân...Check fire.
Pháo
105 của Thanh Vân vừa dứt, hai chiếc Skyraider (Khu Trục A-1, AD-6) của Phi Đoàn
514 Phượng Hoàng (PĐ514 PH-KQVNCH), Phi Đoàn 530 Thái Dương bổ nhào xuống phía
Đông của đỉnh đồi Delta đánh bốn pass Bomb Napal lửa cháy rực sáng cả cánh đồi,
rồi phóng vút lên không …
Ôi,…
thật
đẹp làm sao một phi
vụ bay đêm như ánh sao trời
xé màn đêm u tối, ngàn
thuở
đẹp còn lưu tình chiến hữu cho mãi tới bây giờ …!
Triền đồi phía Bắc và phía Tây dốc cao gần như 45 độ, hiện trạng Bắc
Quân tấn
công cường tập tương đối nhẹ hơn phía Đông và phía Nam có thế triền đồi thoai
thoải dễ di chuyển… rồi lại đợt tiếp theo phi tuần Skyraider thứ nhì lao
xuống đánh bồi thêm mấy pass Bomb Napal nữa, một biển lửa cháy bùng lên dưới ánh
hỏa châu lơ lửng trên không …!!! Tôi không còn nghe tiếng lựu đạn hay đại liên
M60 bắn ngoài vòng đai của đỉnh đồi nữa, có nghĩa là địch quân đã không còn tấn
công tiếp…?
Tôi
ra lệnh Trung Đội 2 Trinh Sát (TĐ2TS) khoảng 40 hạ sĩ quan và binh sĩ của
thiếu úy Sang theo chân toán Viễn Thám 2 (VT2) 7 binh sĩ di dời
lách
về phía Nam, dạ hành ra xa… xa… khoảng 500 mét, rồi bọc hậu về phía Đông, dùng
hồng ngoại tuyến để quan sát tình hình và ém quân nằm phục chờ trời sáng. Những
làn sương mù tan dần trên những ngọn cây trơ trụi lá, lộ hé cảnh tượng tàn phá
kinh khiếp của bom đạn suốt đêm qua!
(Để
trình bày rõ hơn bối
cảnh của Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972, trong đó ĐĐ2TSND đã sát cánh với các
đơn vị chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tử chiến với đại quân Chính Qui
Việt Cộng trên Đồi Delta … tôi
xin trích đoạn một
số những bài
viết
liên hệ của nhiều tác giả như: Trận
Ðánh Trên Ðồi Delta 1- Mũ
Đỏ
Bùi Đức Lạc):
Quí
vị cũng như chúng tôi ai ai cũng nghe ít nhất một vài lần bản nhạc Người Ở Lại
Charlie, đó là trận đánh để đời, nguyên Sư Ðoàn 320 của Cộng Sản Bắc Việt sau
khi đã bị thảm bại bốn trận liên tiếp:
-
Một là phía Tây của ngọn đồi Alpha,
-
Một là phía Tây của ngọn đồi Alpha,
-
Hai là tại giửa đồi Charlie và Delta, trên trận tuyến này chúng tôi gọi là đồi Delta 1,
-
Ba là ngay tại đồi Delta nguyên một đại đội của chúng bị tiêu diệt hoàn toàn đó là trận Delta II,
Bốn
là tại ngọn đồi Delta, chúng bi tiêu diệt ít nhất là 1 Tiểu
Đoàn
Đặc Công v
à
2 Tiểu Đoàn tác chiến đó là trận Delta III, cho nên Sư Ðoàn 320 quyết trả thù
đoàn quân Mũ Ðỏ, vì vậy mới có trận Charlie. Phải công nhận chiến tranh Tâm Lý
của Cộng Quân cao ở mức thượng thừa, cho nên khi chúng bị tiêu diệt 3 Tiểu Đoàn
mà không có ai biết, các đài của chúng cũng như các cơ quan truyền thông của ta
đều im lặng, vì không đài ngoại quốc nào loan tin. Hơn nữa không ai giám vào
vùng đầy máu lửa này, có phải vậy hay không?!
Ngày
15 tháng 3 năm 1972, Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù được trực thăng vận vào vùng
hoạt động.
Vừa
vào vùng Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù đụng độ ngay với quân chính quy Bắc Việt, có mang
tử thi của địch về nhưng Quân Ðoàn không khai thác được gì hơn, ngoài việc xác
nhận đây là Bộ Đội Chính Quy miền Bắc. Trên tử thi không có một tài liệu nào
ngoài quân phục xác nhận là quân chính quy Bắc Việt.
Ngày
16 tháng 3 năm 1972, Ðại Tá Lữ Ðoàn Trưởng,
Cố Vấn Hoa Kỳ và tôi sau khi bay quan sát toàn vùng hoạt động. Nhận thấy giữa
đồi Alpha và Charlie, có một điểm quân sự vô cùng quan trọng. Lúc đó TÐ2ND vừa
không vận xong và chưa vào vùng hành quân, toàn bộ TÐ11ND vẫn chưa được không
vận hoàn tất đến Pleiku. Khi chúng tôi bay quan sát, vùng trách nhiệm hành quân
của TÐ1ND, Ðại Tá LÐT nhận thấy TÐ1ND đóng quân tại cực Nam của dãy đồi không
tên, nên quan sát được một vùng bình nguyên rộng, từ đó cho đến Kontum… Nhưng
nếu phía Đông- Bắc của TÐ1ND, bị địch quân chiếm, thì TÐ1ND sẽ bị yếu thế, nên
ông muốn đưa ngay ÐÐ2TSND vào vùng, đây là khúc xương sườn (khó nuốt của dẫy đồi
này). Ông quay sang tôi cho lệnh:
-
Anh chọn một Tiền Sát Viên cứng đi theo ÐÐ2TS, ngày mai vào vùng. Tôi im lặng
suy tính. Ông đặt tên cho đỉnh quân sự này là Delta.
Ngày
17-3-1972 các đứa con của ÐÐ2TSND được trực thăng vận xuống đồi Delta, vừa bung
ra phía bắc của Delta nhẹ nhàng như mèo bắt chuột và nguyên toán tiền đồn của
Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn thứ 3 thuộc SÐ320 bị toán Viễn Thám chộp gọn, mặc dù
chúng đã biết trước có ta xuất hiện, do trực thăng vận đến.
(ÐÐ2TSND do Ðại Úy Trương Văn Út chỉ huy hoạt động từng toán nhỏ chung quanh căn
cứ Võ Ðịnh, chu vi từ 2 cho đến 5 cây số liên tiếp tiêu diệt, hoặc bắt sống các
toán tiền thám cũng như Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Ðoàn 320, tù binh cho
biết Sư Ðoàn 320 có nhiệm vụ tấn công căn cứ Võ Ðịnh (gồm có BCH/LÐ2ND,
BCH/TÐ1PB/ND, ÐÐ2CB/ND, ÐÐ2TS/ND) sau đó hướng về Kon Tum, hàng ngày chúng tôi
vẫn bị pháo nặng nề, nhất là trong ngày chúng đánh Charlie và Tân Cảnh, nhưng
chúng pháo không được trúng đích cho lắm đó chính là công đầu của ÐÐ2TSND).
Ba
chiến sĩ ưu tú của ÐÐ2TSND đã khôn khéo len lỏi từ phía sau như mèo chộp chuột,
3 tên Bộ Đội
cáo Hồ bị tóm trọn và nhờ vậy Đại Đội 2 Trinh Sát Dù
nhận
được 90,000$(chín mươi ngàn) đầu tiên của BTL/SÐ22 khi đem hai tử thi và một tù
binh về trao cho BTL/SÐ22BB, trên xác của một tử thi (anh ta viết
nhật ký tâm sự với người yêu đang sống ở Hà Nam hứa hẹn ngày về huy hoàng của
đôi trẻ, anh cho người yêu biết ngày 16-3-1972 chiếc máy bay lên thẳng
(trực
thăng)
chở ba người Mỹ. (Nhưng
địch quân đã lầm, nếu chúng nắm vững tình hình thì thậm chí nguy, đó không phải
là 3 người Mỹ mà chỉ có 1 cố vấn Mỹ, Ðại Tá Lịch và tôi). Anh ta viết:
máy bay, bay rất thấp trên đầu anh, anh bắn hạ dễ dàng, nhưng cấp trên của anh
không cho bắn.
Ngay
sau đó ban chỉ huy của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù và toán tiền sát viên Pháo
Binh, Thiếu
Úy
Chu Văn Chấn phải đánh cận chiến với địch. Ngày thứ hai vào vùng, Ðại Ðội 2
Trinh Sát Nhảy Dù đã phân tán thành các Trung Ðội Trinh Sát mỗi Trung Đội 40 Mũ
Ðỏ và các toán Viễn Thám mỗi toán 12 Mũ Ðỏ, các chiến sĩ Trinh Sát ba người một
Tổ, khi ẩn khi hiện làm địch quân điên đầu…! Ðại Ðội Trưởng ÐÐ2TS trong điện đàm
với Ðại Úy Nguyễn Trọng Nhi, Trưởng Ban 3 Lữ Ðoàn (lúc đó Ðại Úy Nhi chưa
lên Thiếu Tá) sau khi báo cáo tình hình địch đang điều quân vây chung quanh điểm
đóng quân ngày hôm qua, chúng có biết đâu ÐÐ2TS đã di chuyển ra xa và phân tán
thành những toán nhỏ, các Pháo Đội liền hoạt động ngay. Thiếu Úy Chu Văn Chấn
Tiền Sát Viên đi theo ÐÐ2TS làm việc rất nhanh và chính xác, (Trung Úy Chấn hiện
đang ở Dallas) Anh hướng dẫn
chính xác từng
loạt đạn của 4 Pháo Đội tác xạ vào đầu từng đơn vị địch. Ðạn nổ làm rung chuyển
cả núi rừng, Út Bạch Lan (ám danh của ÐÐT/ÐÐ2TS) gọi về BCH/LÐ hỏi thăm quỹ tiền
thưởng có còn nữa hay không? Đúng lúc đó ÐT/TL/SÐ22BB đang có mặt tại trung tâm
hành quân, ông cầm ngay lấy ống liên hợp và trả lời ngắn gọn: ”Còn nhiều lắm
em”. Ngay sau đó ÐÐ2TSND bắt đầu đụng địch, địch biết rõ quân số của ta thả
xuống vùng nên chúng điều động ngay một Tiểu Đoàn thiện chiến nhất của SÐ320 vây
ÐÐ2TSND, với ý định tiêu diệt gọn. Nhưng chúng nằm mơ gặp ác mộng! Chúng đã bị
ÐÐT/ÐÐ2TS cho vào xiếc tại điểm đóng quân mà chúng đã nhận diện được, vì
thật
ra ĐĐT/Út
Bạch Lan chỉ để lại vị trí một toán trinh sát phân tán và lưu động khai
hỏa nghi binh, con cháu bác Hồ đã lầm và yên chí là đã vây trọn ÐÐ2TS, lúc đó
ngay cả cấp chỉ huy của SÐ320 cũng không biết quân ta đang ở đâu? Chính vì vậy
mà nguyên BCH Tiểu Đoàn VC nằm ở phía ngoài đã bị thanh toán trọn gói, Ðại Úy
Trương Hà - Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1/3/320 bị Trung Đội 2 Trinh Sát của
ÐÐ2TSND bắt sống. Nhưng vì cần phải di chuyển theo chiến thuật đã định trước,
hơn nữa trực thăng đã cố gắng đáp xuống để nhận tù binh đem về BTL/SÐ22BB, nhưng
đều thất bại vì rừng rậm, phòng không dày dặc và tránh làm lộ vị trí quân ta,
nên Trung Ðội 2 của Ðại Ðội 2 Trinh Sát, đành phải “tiễn” anh ta lên đường một
mình không chiều theo ý của SÐ22BB được! Địch quân như rắn mất đầu, vừa phần đưa
lưng cho quân ta bắn mà không biết, do vậy Tiểu Ðoàn 1 thuộc Trung Ðoàn
3/SÐ320 đã bị tan tác bởi 1 Ðại Ðội Trinh Sát của ta. Nguyên Trung Đoàn 3 của
SÐ320, muốn được thành thép lại hoá ra bùn! Ngay khi đó đại đội trưởng
ÐÐ2TSND nhận thấy địch quân rất đông, nên đề nghị với LÐ2ND cho một đơn vị vào
chiếm Delta để có đường về. Ngay lập tức một Đại Đội tinh nhuệ nhất của TÐ1ND
được TrựcThăng vận vào Delta. Ðại Đội này tuy chiến thắng. Nhưng chỉ không đầy
20 phút sau khi cận chiến ta có 8 Sĩ Quan bị thương, 5 Hạ Sĩ Quan bị thương, 15
Binh Sĩ bị thương
phải tản thương. (Ðại Ðội Trưởng đang ở Nam CaLifornia).
Ngày
20 tháng 3 năm 1972, Ðại Ðội 15 thuộc TÐ1ND xuống bãi Delta và đụng độ với một
Đại Đội địch có hầm hố… (trận đánh cận chiến này chúng tôi sẽ viết đầy đủ ở trận
Delta II).
Ngày
23-3-1972 toàn bộ Trung Ðoàn 3/320 VC tham chiến thề quyết trả thù cho Tiểu Ðoàn
1, lúc đó các chiến sĩ Trinh Sát 2 Nhẩy Dù đã bị lộ, mặc dù cố gắng áp dụng kỹ
thuật phân tán nhưng cũng không sao vùng vẫy như lúc chạm trán với 1 Tiểu Đoàn
địch trước đây, hơn nữa đạn dược lương thực cũng đã bắt đầu thiếu hụt…! Các Phi
Công trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng gan lì nhưng cũng không tiếp tế cho
Trinh Sát được! Sau đó nhờ lòng gan dạ và kinh nghiệm dầy dặn chiến trường của
một Phi Công Phi Đoàn 213 Song Chùy mới tiếp tế cho các chiến sĩ Trinh Sát 2 Dù
của ta một chuyến lương thực và đạn dược bằng cách khi đã nhận được điểm chính
xác quân bạn, dừng Trực Thăng (helicopter
hovering)
trên ngọn cây, rồi đạp các thùng đạn và thùng lương thực xuống, đây là chuyến
tiếp tế thành công duy nhất, trong mấy ngày quần thảo với
VC.
Ðại Ðội 2 Trinh Sát lúc đó đạn dược bị hạn chế lại phải đương đầu với một Trung
Đoàn Trừ của địch quân, những yếu tố đó cũng làm cho quân ta lúng túng không ít,
nhưng nhờ kỹ thuật tác chiến cao, phân tán mỏng nên chúng cũng không gây cho
quân ta một tỗn thất nào đáng kể.
Ngày
25-3-1972 toàn bộ TÐ2ND được trực thăng vận xuống ngay đồi Delta lúc đó chiến
trận đang khốc liệt chỉ cách đó không đầy 1/2 cây số về hướng Bắc, tại những góc
cây gần đồi Delta địch quân cho ghim truyền đơn viết tay: “thề sẽ tiêu diệt
ÐÐ2TSND”. Nhưng không còn may nắm đến với chúng nữa! Vì trong ngày TÐ2ND đã bắt
tay được với Trinh Sát, và Ðại Ðội 15 Nhảy Dù. Ðịch bị TÐ2ND chọc ngang hông áp
dụng chiến thuật đánh nhanh đánh mạnh, địch quân dù với hổn danh là Sư Ðoàn Thép
nhưng cũng không sao chịu thấu, tuy rằng một Trung Đoàn Trừ đang vây ÐÐ2TSND
nhưng bị chọc ngang hông cho nên TÐ2ND làm cỏ từng Trung Đội, Đại Đội địch quá
dễ
dàng! Sau 3 ngày quẩn thảo với các Thiên Thần sát cộng, địch quân đành tháo chạy
với tỗn thất nặng nề!
Ngày
27-03-1972 toàn bộ ÐÐ2TSND được trực thăng vận ra khỏi vùng hành quân trở về căn
cứ Võ Ðịnh nơi đặt BCH/LD2ND để dưỡng quân, ngay lúc đó Trung Tướng
Ngô Du TLQÐ II và Ðại Tá TLSÐ22BB cùng các cố vấn Mỹ và các vị Sĩ Quan
trong Bộ Tham Mưu của Quân Ðoàn II và SÐ22BB cũng đã đến để quan sát chiến lợi
phẩm và lấy thêm tin tức tình báo… Lần này ÐÐT/ÐÐ2TS Trương Văn Út (Út
Bạch Lan) được vinh thăng Ðại Úy. (ngưng
trích).
Và
tiếp theo…Tôi xin trích dẫn một đoạn trong bài viết “Vùng Trời Biên Trấn - Trần
Ngọc Nguyên Vũ của giới Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã luôn sát cánh yểm
trợ Lực Lượng Tổng Trừ Bị Nhẩy Dù trên Mặt Trận Tây Nguyên mùa Hè 1972 và trong
suốt 21 năm 1954 – 1975 cuộc chiến Quốc - Cộng:
“Những
người chinh chiến bấy lâu
Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây.”
(Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm)
Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây.”
(Chinh Phụ Ngâm - Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm)
Tây-Nguyên!
Vùng núi rừng trùng điệp… Nơi có những dòng sông huyền-hoặc nằm đợi khách qua
bờ, mà mỗi “Một lần sang sông là một lần vĩnh biệt - Một lần sang sông là mãi
mãi chẳng quay về”. Chính nơi đây đã có biết bao nhiêu tráng sĩ lạnh lùng phóng
tay ghi đậm tên mình trên trang sử máu của dân tộc... Lịch sử sẽ thêm một lần
sang trang khi chiếc “Thần Phong 01” của KQVNCH chế tạo, do Tr/Tá NNK và
Th/Sĩ NVN bất thần bay lên đáp PleiKu vào một buổi sáng mây mù và gió
lạnh, rồi Th/Tá Định cùng Tr/Tá Bá đi tìm “Tráng sĩ vượt dòng sông định mệnh” để
lập một “Phi Đội Cảm Tử” bí mật đưa về Tân Sơn Nhất, đặt dưới sự điều động của
ThầnPhong NNK vào năm 1971… Nhưng vận nước chưa xoay chuyển theo lòng người nên
đại sự không thành, chỉ lưu lại trên trang huyền sử của KQ những vần thơ đầy
hào-khí:
Tôi
người lính trận từ xa tới
Gặp em nơi phố núi sương mù
Quán nhỏ ngây buồn nghe tâm-sự
Một buổi chiều mưa rơi… PleiKu
Gặp em nơi phố núi sương mù
Quán nhỏ ngây buồn nghe tâm-sự
Một buổi chiều mưa rơi… PleiKu
Rồi
sáng hôm sau các anh lại lạnh lùng quay lưng cất bước lên đường khi:
Gió
Lào dậy tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng gìa bạt núi non
Mùa chinh chiến theo chân thù nghịch
Ta về theo cho dậm chiến trường
Thổi lấp rừng gìa bạt núi non
Mùa chinh chiến theo chân thù nghịch
Ta về theo cho dậm chiến trường
Chiến
trường Tây Nguyên quanh năm mịt mù khói lửa, với những địa danh ngang dọc bước
quân hành in dấu chân của tráng sĩ cùng với những:
Đoàn
quân ma bay khắp bốn phương
lớp lớp tràn lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Cô đơn chót núi đứng bồng con
Khu chiến trập trùng cơn bão lửa
Đá vọng phu mọc khắp biên cương.
lớp lớp tràn lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Cô đơn chót núi đứng bồng con
Khu chiến trập trùng cơn bão lửa
Đá vọng phu mọc khắp biên cương.
Lồng
vào cái khung cảnh đất trời quay cuồng trong cơn bão loạn đó, “Không Đoàn 72
Chiến Thuật” đã trưởn thành, và vươn lên cùng với khí thế ngút ngàn của những
anh hùng, hảo hán chốn sa trường… Chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động, mà tên
tuổi đã danh trấn giang hồ. Pleiku thuở đó cũng đã thu hút được nhiều phóng-viên
nổi tiếng của các hãng thong tấn quốc-tế… Tờ báo quân đội “Diều Hâu” của nhà văn
Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh hồi đó đã nhận xét về KĐ 72CT qua bài viết “Tìm hiểu
hiện-tượng nhổ giò của KQVN”, như sau: Chỉ vào một hố bom khá sâu, Đại Tá Lý
Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh nói với tôi:
-
Anh biết quả bom này bỏ cách chiếc thiết giáp của mình bao nhiêu không?
- ...?
- Ba thước.
- ...?
- Ba thước.
Thao
thao bất tuyệt, vị Tư lệnh trẻ nhất Việt Nam kể cho tôi nghe trận đánh khó khăn
nhưng vô cùng hào hứng, vừa xẫy ra tại ngọn đồi mà chúng tôi đang đứng: “Một
Tiểu đội Cộng quân, trang bị bằng một khẩu đại bác, một khẩu đại liên phòng
không, đã chiếm giữ ngọn núi đá trên đường 14, cách Pleiku khoảng 20 cây số về
hướng Bắc. Cây đại bác được nhét thật sâu vào hang núi. Sư đoàn 23 đã phái một
đơn vị có chiến xa yểm trợ tiến lên núi, để diệt khẩu pháo đang gây khá nhiều
trở ngại cho xe cộ di chuyển từ Pleiku đi Kontum. Một trong những chiếc thiết
giáp yểm trợ bị bắn cháy. Xạ thủ B-40 VC chỉ khai hỏa cách chiếc xe ba thước.
Phi Đoàn Khu Trục được gọi đến can thiệp, và nhiệm vụ của người Phi Công là phải
bỏ lọt trái bom vào một miệng hang nhỏ, mà không làm tổn thương đến những người
có thể còn sống trong thiết giáp”. Lắc đầu tỏ vẻ thán phục, Đại Tá Bá tiếp:
“ Chiếc AD-6 bay với tốc độ mấy trăm cây số một giờ, mà anh chàng Phi Công
này thả bom như để. Trái bom rơi hẳn vào hang hầm rồi mới nổ, không gây một hư
hại nào bên ngoài cả…”!!!
Bốn trăm Phi Công, một ngàn chuyên
viên làm việc quần quật. Máy bay được bảo trì, tu bổ cả đêm để mờ sáng hôm sau
lại cất cánh, đáp ứng những nhu cầu yểm trợ cho quân bạn.(ngưng trích).
Và
cũng tại chiến trường Tây Nguyên - Kontum này vào ngày 26-5-1972. Tôi đã mất một
đi một người Anh “Đường Sơn Đại Huynh - Thặng Fulro” là Phi Công tài ba Thiếu
Tá Phạm Văn Thặng của Phi Đoàn Khu Trục 530 Thái Dương! Tôi xin trích đoạn
trong bài viết: Mặt Trận Kontum 530 Thái Dương Phạm Văn Thặng Fulro
của Tác giả Hùng Chùa trong Lý Tưởng bộ mới số 7 -1998 đã
ghi lại trường hợp hy sinh của Thiếu Tá “Thặng Fulro” như sau:
-
Bắc Đẩu đây Thái Dương gọi?
-
Thái Dương cho biêt ví trí của bạn hiện nay?
Thái Dương vừa cất cánh khỏi Pleiku được 5 phút, hai phi tuần A-1 trang bị bom
nổ và crocket, cho biết tình hình quân bạn và trục đánh.
-
Thái Dương Thặng đó phải không?
-
Đúng năm trên năm. “Thặng Fulro” đây.
-
Hay quá! Quân bạn nằm nhiều cụm từ Bắc xuống Nam, trục đánh từ Đông sang Tây,
địch chỉ cách bạn trên 100 thước, tình nghi địch có tăng yểm trợ, khi nào sẵn
sàng tôi bắn khói chỉ điểm.
Trục
đánh Đông sang Tây, có nghĩa là khi vào trục, anh sẽ bay trên thành phố Kontum,
anh dỏi tìm cụm khói chỉ điểm, ngay từ bắt đầu vào trục, từ lúc khi còn ở trên
cao khi vừa chúi xuống, anh nhìn thấy nhiều trái cầu khói đen lúp búp nổ ngay
trước mặt, vẫn chúi xuống lao tới, anh nhấn nút release bốn trái ngay khi mục
tiêu vào đúng hỏa điểm, rồi kéo stick đưa mũi phi cơ lên thẳng trên trời, đẩy
cần ga tới maximum, rồi nhích stick về phía trái, anh kéo phi cơ lại về hướng
Đông, hướng thành phố, đúng lúc này con tàu bị trúng đạn rung chuyển dữ dội, lữa
phát cháy bên ngoài cockpit và cả trên cánh phi cơ.
-
Thái Dương đây Bắc Đẩu! Tàu mày bị cháy rồi, nhảy dù ra ngay lập tức!
- Mày nghe tao không Thặng?, nhảy dù ngay lập tức. Tiếng Hiệp “Vixi “ hoảng hốt trên tần số.
- Mày nghe tao không Thặng?, nhảy dù ngay lập tức. Tiếng Hiệp “Vixi “ hoảng hốt trên tần số.
-
Tao còn bốn trái bom trên cánh, nhảy dù ra để giết dân vô tội
à?
Th/t Thặng cố gắng đưa phi cơ ra khỏi khu vực Kontum và đáp bằng bụng trên một
cánh đồng nhưng phi cơ đã phát nổ.
Kính phục thay lòng thương người và lo cho bá tánh của anh.
Người anh hùng của phi đoàn 530 Thái Dương nói riêng và của KQVNCH nói chung.
Vĩnh
biệt anh Thặng (Fulro)!
Và trong một bài viết Cánh Chim
Thần Tượng - tác giả DD-2ndG “nói” về những Phi Công “Bảo Quốc Trấn
Không” để “minh hoạ” Không Quân Việt Nam Cộng Hoà “Trên Vòm Trời Lửa Đạn” chiến
trường Tây Nguyên mùa Hè 1972:
Là một Phi Công trực thăng thời
chiến, Trung Tá Khưu Văn Phát chứng kiến nhiều đồng đội của mình đã ra đi như
chiếc “lá vàng rơi”. Ngày 11 tháng 4 năm 1972, Phi Đoàn có nhiệm vụ tiếp tế khẩu
phần ăn nhà binh, nước uống và tải thương sau cùng cho tiểu đoàn 11 Nhảy Dù ở
ngọn đồi “máu” Charlie. Một trực thăng của Phi Đoàn 215 Thần Tượng do Trung Úy
Nguyễn Tường Vân lái bị bắn bốc khói cháy sau khi vừa hoàn thành nhiệm vụ tiếp
tế. Phi cơ đang cố gắng rời khỏi vùng giao tranh một cách nhanh chóng. Thiếu Tá
Phát (danh hiệu Charlie) đang bay chiếc trực thăng chỉ huy trên cao độ 6,000ft ở
một góc trời quan sát và hướng dẫn Trung Úy Nguyễn Tường Vân (hoa tiêu tàu tiếp
tế), hốt hoảng la lên trên tần số:
- Tàu bạn đang bốc cháy… đáp ngay…
đáp lài xuống ở triền đồi phía dưới.
Charlie ( Thiếu Tá Phát) trấn an
tức khắc:
- Đã có Hổ một (danh hiệu Gunship
trực thăng) cover, nghe rõ trả lời?
Nhưng con tàu trực thăng ngộ nạn sợ
nguy hiểm, vì đang trong tầm tác xạ của phòng không địch đã không còn nghe được
lệnh nữa. Lửa đã phụt lớn mạnh và tàu bốc cháy dữ dội như ngọn pháo bông. Trực
thăng rơi nhanh xuống triền đồi và nổ bùng lên như quả bom lửa. Lửa và khói quện
lại đen mù mịt cả một góc trời. Tất cả bốn nhân viên phi hành đoàn đều tử nạn
dưới con mắt của Thiếu Tá Phát và các bạn hoa tiêu trực thăng võ trang đang có
mặt trong vùng. Trung Úy Nguyễn Tường Vân, Thiếu Úy Trần Văn Long và hai Mê Vô
xạ thủ trực thăng đã lặng lẽ ra đi không tìm được xác rơi. Trung Úy Vân mới 23
tuổi đã để lại người vợ trẻ và đứa con thơ đầu lòng vừa chào đời trong tiếc
nuối…! Chào vĩnh biệt các anh hùng vô danh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa
một lần cuối!
Anh
nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã
vui chơi trong cuộc đời nầy…
Đã
bay cao trong vòm trời đầy…
Rồi
nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không
có ai, từng ngày, không có ai đời đời…
Ru
anh ngủ vùi,
Mùa
mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!
(ngưng
trích)
Một
trích đoạn khác nữa trong bài viết Lữ
Đoàn 2 Nhảy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie
của tác giả Vương Hồng
Anh:
Trận
Chiến
Giữa
Trinh Sát
2 Nhảy Dù và 1 Tiểu
Đoàn Cộng
Quân
ở Đồi Delta:
Đồi
Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng
Quân
đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư
đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, Đại
Tá
Trần Quốc Lịch-Lữ
Đoàn Trưởng
Lữ
Đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh Đại Đội 2 Trinh Sát do Trung
Úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào
rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.
Sau
khi Pháo binh và Không Quân
VNCH
hỏa
tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ Đại
Đội Trinh Sát Dù vào
đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn Đại Đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích
bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán
tiền đồn của Tiểu
Đoàn
1
Trung
Đoàn 3
Sư
Đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng Quân
đã điều động 1 Tiểu
Đoàn để bao vây Đại Đội Trinh Sát
Dù.
Dù bị áp đảo về quân số, nhưng Trung
Úy Út
Bạch Lan
(ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm
cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán Đại Đội và lưu động tác xạ để đánh
lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng Quân
tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn
tránh sau khi đã bấm mìm Claymore
giết địch.
Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh Sát
2 Nhẩy
Dù đã
vòng ra phía sau tấn công ngay vào Bộ
Chỉ
Huy
Tiểu
Đoàn Cộng Quân
và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả Tiểu
Đoàn Trưởng
Tiểu
Đoàn 1/ Trung
Đoàn 3 CSBV tên
Trương
Hà.
Bị
tổn thất nặng, ngay sau đó, Trung
Đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ
Đại Đội Trinh Sát 2 để trả thù cho Tiểu
Đoàn
1 của Trung
Đoàn này. Vào lúc này
Đại Đội Trinh Sát
cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch
lại bị
một Trung
Đoàn C
ộng
Quân
bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược
và lương thực gần cạn, nên Đại Đội Trinh Sát
2 Dù
ở
trong tình trạng nguy kịch!
Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các Phi
Công
của Phi
Đoàn Trực
Thăng
215
Thần
Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho
Đại Đội Trinh Sát
2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một Phi
Công
kinh nghiệm và gan lì của Phi
Đoàn 213
Song
Chùy đã điều khiển Trực
Thăng
lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho Đại Đội này được một chuyến
duy nhất.(ngưng
trích)
Tôi
cũng xin được trích dẫn bài viết “Trận Đánh Đồi Delta” trong tác phẩm “20
Năm Chiến Sự” - Binh Chủng Nhảy Dù. Tác giả: Đại Úy Võ Trung Tín Tiểu Đoàn
Truyền
Tin SĐND.Đại
Úy Nguyễn Hữu Viên Tiểu
Đoàn 3 Nhảy Dù:
Đồi
Delta là một ngọn đồi nằm về
hướng Nam căn cứ Charlie, trên đỉnh đồi một bên là rừng già dầy dặc. Sáng
ngày 17/3/1972, sau những trận địa pháo và phi pháo vừa chấm dứt, địch quân chưa
kịp hoàn hồn, thì một đoàn trực thăng chuyển quân sà thấp sát đất thả các Thiên
Thần Trinh Sát 2 của “Út Bạch Lan” phóng xuống trận địa như những con
diều
hâu vồ mồi quanh vị trí Delta để săn lùng và tiêu diệt các chốt của TÐ1/ Trung
Ðoàn 3/SÐ320. Cả Đại Đội vừa bắn vừa hô xung phong vang rền
khắp núi rừng khiến
địch quân hoảng hốt đưa tay lên đầu hàng, kẻ nào ngoan cố chống cự đã bị các
chiến
sĩ Nhảy Dù diệt gọn. Chỉ trong chớp nhoáng, Các chiến
sĩ Trinh Sát 2 của Trương Văn Út (danh hiệu truyền
tin Út Bạch Lan) đã làm chủ tình hình. Nguyên toán tiền
đồn của TĐ1/TrĐ2/SĐ320 đã bị tóm gọn không sót một móng. ĐĐ2TSND đã bắt sống
được 12 tù binh và lãnh tiền
thưởng đầu tiên của Tướng Ngô Du.
Ngày
18/3/1972 Tiểu Ðoàn 1/3/SÐ320 phản công bao vây để dứt điểm ÐÐ2TS. Út Bạch Lan,
Ðại Ðội Trưởng/TS2ND không nao núng, điều quân phân tán mỏng chỉ để lại một toán
nhỏ lừa địch, rồi đưa toàn bộ Đại Đội vòng ra bọc hậu đánh thẳng vào BCH/Tiểu
Đoàn địch và tiêu diệt gọn TÐ1/3/320 bắt và giết
chết
TÐT là Ðại Úy Trương Hà... Ngay sau đó, để phục thù Trung Ðoàn 3/320 tập trung
quân còn lại bao vây TS2 và thề
bắt sống Út Bạch Lan cho bằng được. (Út Bạch Lan nỗi danh từ dạo ấy) Ngày
20/3/1972 TÐ2ND được trực thăng vận đổ quân xuống thiết
lập và trấn đóng tại Charlie, và từ Charlie đánh bọc ngang hông TrÐ3/320 để cứu
quân bạn và giải vây cho ÐÐ2Trinh Sát ND.
Đến
ngày 23/3/1972 ĐĐ2TSND sau 3 ngày hổn chiến
với địch và được TÐ2ND giải vây, 2 đơn vị Nhảy Dù đã dùng ngoại công nội kích
với những chiến
thuật thần kỳ tam mãnh “mãnh đã, mãnh xung và mãnh truy” đã phá nát Trung Ðoàn
3/SĐ320 của CSBV, Sư Đoàn được hổn danh là “Thép” giờ đây đã bị chảy ra thành
nước. Tin chiến
thắng bất ngờ đã làm cho Quân Dân Quân Đoàn 2 phấn khởi, Trung Tướng Ngô Du đã
bay ngay đến
Delta để trao gắng cấp bậc Đại Úy tại mặt trận cùng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân
Chương cho Trương Văn Út và trao ngay 1 triệu 200 ngàn tiền
thưởng vì đã bắt sống được 12 cán binh VC và thăng thưởng, ủy lạo cho tất cả các
chiến
sĩ Nhảy Dù đã tham chiến.
Ðại Ðội 2 Trinh Sát sau đó được bốc về
Võ Ðịnh để nghỉ ngơi và tái trang bị. Trong khi đó Cộng quân khởi sự trận địa
pháo liên tục bằng các loại 107, 122, và 130 ly vào các vị trí đóng quân của các
đơn vị VNCH kể cả Tân Cảnh và Võ Ðịnh.
(ngưng trích)
Và
đây là trích đoạn trong tài liệu:
Chiến
Đấu Ở Tây Nguyên. Hoàng Minh Thảo. Nhà xuất bản Quân Đội Nhân
Dân.
Hà Nội. 2009
và Bộ
Đội Chủ
Lực
Mặt
Trận
Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 - 1966-2005. Nguyễn Văn Biều. Nhà xuất bản Quân Đội
Nhân
Dân.
Hà Nội. 2005:
“Phối
hợp với chiến trường chính, tại Tây Nguyên, Thiếu
tướng
Hoàng Minh
Thảo,
Tư lệnh Mặt trận B3, đã điều động binh lực của 2 sư đoàn 320 (gồm 3 trung đoàn
52, 64 và 48) và 2 (gồm 2 trung đoàn 1 và 141), 4 trung đoàn bộ binh độc lập
(66, 95, 28 và 24), trung đoàn đặc công 400, 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn
xe tăng và 6 tiểu đoàn pháo phòng không. Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực
lượng vũ trang tại địa phương. Tổng binh lực tham gia khoảng 20.000
người.
Từ
ngày 15 đến ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn
320A
Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam
đã làm giả hai con đường cơ giới phía Tây Bắc thị xã Kon Tum. Tướng Ngô Du liền
điều lữ đoàn dù 2 ra phá đường. Sư 320A dùng trung đoàn
52
chặn đánh nhưng không truy kích. Ngày 23 tháng 3, Liên đoàn 22 Biệt động quân
tiếp tục tiến ra phá đường, cũng bị trung đoàn 52 chặn đánh.[6].
Ngày 24 tháng 3, trung đoàn 28 (độc lập) cắt đứt đường 14 ở Diên Bình, bao vây
Võ Định. Ngày 26 tháng 3, trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (bảo vệ 559) và đại đội 1
(địa phương) cắt đường 14 ở Chư Thoi, Tân Phú (nam Kon Tum).
Ngày
30 tháng 3, 2 trung đoàn 52 và 64 cùng một tiểu đoàn của trung đoàn 48, sư 320
(Quân Giải phóng
miền Nam Việt Nam),
đồng loạt tấn công 5 tiền đồn phía Tây sông
Poko
do 3 tiểu đoàn Biệt động quân QLVNCH đóng giữ. Tướng Ngô Du
điều 2 tiểu đoàn của lữ đoàn dù 2 từ Tân Cảnh về các cứ điểm phía Tây sông Poko
để tăng cường phòng thủ, điều trung đoàn 47 đánh ra tăng phái cho 2 đại đội quân
địa phương chốt giữ Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bờ Biêng, lập 2 căn cứ hỏa lực đặt tên
là “Delta” và “Charlie.
Do bị lộ trận địa, công tác chỉ huy, phối hợp hiệp đồng pháo binh - bộ binh -
phòng không chưa chặt chẽ, thông tin liên lạc kém, bị không quân Mỹ và pháo binh
QLVNCH oanh tạc mạnh mẽ, trung đoàn 52 bị thương vong nhiều. Ngày 15 tháng 4,
trung đoàn 64 Sư 320A đánh chiếm cứ điểm “Rocket Ridge” (1015), đánh tan tiểu
đoàn dù 11 (lữ dù 3), bắn rơi 9 máy bay trực thăng. Cùng ngày, trung đoàn 48 (sư
320A) chiếm cứ điểm “Delta” (1338) và phục kích toán quân còn lại của tiểu đoàn
dù 11 chạy về đây
…” (ngưng
trích).
Tôi
có tính khí chỉ huy như mãnh hổ vồ mồi là trong khi phi pháo yểm trợ thì chúng
tôi nằm yên mai phục và quan sát lượng định tình thế bén nhạy với tất cả giác
quan và trực giác như viên đá cuội quẳng vào mặt hồ nước tĩnh lặng làm lan
toả những gợn sóng âm ba va vào bờ, trãi rộng diện tích thăm dò, đo đạt trạng
huống chung quanh, tôi có cảm tưởng trong nội tâm và ngoại vật như lồng vào nhau
thành một thực thể trực ngộ kỳ diệu, tôi có thể cảm nhận được những di động của
nhiều đôi dép râu “Bình Trị Thiên” và đôi chân trần của nhiều thân thể dẫm đạp
lên mặt đất tiến về phía chúng tôi với cường độ sát khí hung hãn… Tôi thu dụng
ngay tình trạng Tâm thức như nhất trong giây phút vừa qua và phối hợp với tri
thức thực tại cùng bao nhiêu sở học ở quân trường và kinh nghiệm chiến trường,
rồi quyết định hành sự chớp nhoáng sau khi phi pháo rời vùng ra xa để tránh tình
trạng quân ta bắn nhầm lên đầu quân bạn.
Tôi
gọi âm thoại
qua máy liên lạc:
-
7273...6263...1001...
Tôi
ra lệnh bằng mật mã cho hai Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cùng hai toán Viễn Thám 2
và Viễn Thám 3 đồng loạt “Tapi” từ phía dưới tấn lên, phía trên tràn xuống,
trang bị nhẹ: vai không ba lô chỉ giây ba chạc, súng cá nhân và lựu đạn…Trinh
Sát Dù dẫm lên xác Bắc Quân theo thế hàng ngang đột xuất tấn công nhanh
như chớp đồng loạt nhã đạn vào hàng ngũ địch cho tới khi hai cánh từ trên và
dưới gặp nhau (Link up)… Quang cảnh chiến địa: năm ba khẩu phòng không 57 ly
chỏng gọng, hằng trăm vũ khí của Bắc Quân ngỗn ngang bên cạnh hằng trăm xác chết
vẫn còn hơi ấm nồng mùi máu tươi…!
Chiến
tranh nào mà không có tàn phá hủy diệt, không phải trả bằng máu đổ thịt rơi,
xương phơi dưới chiều nắng quái …? Nhưng cuộc chiến Bắc - Nam cốt nhục
tương tàn này khiến tôi có nhiều xúc động, thương cảm, bồi hồi, nội tâm buồn
mênh mang khi nhìn những cặp mắt mở trừng trên gương mặt trai trẻ tuổi
đang độ xuân thì mà có lẽ cũng chưa được hưởng bao nhiêu tháng năm an bình niên
thiếu với gia đình và cha mẹ, người yêu bên nồi khoai sắn vừa nấu chín tay cầm
tay mà e ấp chuyện chung tình… thì đã bị bọn đồ tể chễm chệ trên chóp bu quyền
bính “Đảng và Nhà Nước” Cộng Sản Bắc Việt xử dụng bạo lực thu gom, tuyên truyền
nhồi nhét lý tưởng và nghĩa vụ tạo ra “chất” ảo tưởng anh hùng giải phóng, ngọn
giáo tiền phong của phong trào tiến lên thực hiện nghĩa vụ Quốc Tế Cộng Sản… và
đẩy vào chiến trường miền Nam làm mồi cho bom đạn vốn được chế biến, sản xuất từ
những quốc gia Âu - Mỹ phương xa …! Bọn chóp bu Cộng Sản Bắc Việt có bao giờ
liếc mắt nhìn vào bản thống kê tổn thất sinh mạng Bộ
Đội Bắc Việt, để
xét lại tham vọng ngông cuồng
của
chúng? Cán
binh Bắc Việt bị chết trận được tô vẽ thành “liệt sĩ” chỉ là con số thôi,
“chúng” đã chết tức không phải là người?! Bọn
chúng vẫn tiếp tục tận dụng vơ vét tài nguyên nhân lực cho đến khi cạn kiệt và
sẵn sàng “đốt cháy cả dãy Trường Sơn để chiến đấu trường kỳ “nhất định
thắng lợi” và đánh cho tới người Việt cuối cùng…” để cho nước Tàu được bình yên
với hơn 1 tỷ dân trong nước luôn đói thiếu miếng ăn từ nhiều thiên niên kỷ đã
trở thành nỗi ám ảnh và quán tính, nên do vậy câu chào hỏi đầu tiên khi gặp
nhau: “你
吃
饭
了
吗”
(nǐ chī fàn le ma?) - mày ăn
cơm chưa?
Và để cho Mao sếng sáng thân thể béo tốt ngủ ngày với giấc mơ Đông Phương Hồng
và quyển sách nhỏ
“Mao Tuyển” bỏ trong túi
quần làm sách gối đầu
giường lại là “Extract Testoterone” kích thích Hồng Quân, đám trẻ trâu Vệ Binh Đỏ chưa
ráo máu đầu làm cuộc “Cách Mạng Tazan Hoá” để Mao “tá đao sát nhân” thanh toán
hầu hết những đồng chí có công trong cuộc trường chinh là để tránh hậu hoạ “công
thần chủ nghĩa” về sau và “đào
tận gốc, trốc tận rễ” cả nền văn hoá Phật - Khổng - Lão - Trang – Bách Gia Chư
Tử … đốt sạch, giết sạch như bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng tân thời…! Nhưng Mao đã nhận chân ra nhân dân
“thoòng dzành” của “thiên tử” không thể làm công cụ bành trướng cho Nga Sô hưởng
lợi và Nga hoá (Russianization, and Russian-led Sovietization) toàn thể lục địa Trung Hoa nên
“rặn” ra Maoism để bảo vệ thành quả cách mạng
triều đại “Mao Hoàng”! Nhưng bọn gia nô “Jiệtcộng dzành” Annam Bắc Bộ Phủ
cấp sách đồng ấu học Mao, học “Mac xít - Lê nin nít” chưa vỡ chữ nghĩa
đang lùa thanh thiếu niên miền Bắc Việt Nam vào lò sát sinh do Mỹ đã an bày với
tất cả Bomb đạn và pháo đài bay B52 chiến lượt trãi thãm… kể
cả tên Lê
Duẩn (1907–1986) là Bí thư Thứ nhất Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam Cộng Sản
cũng đã cúc cung tận tín làm con chó nhỏ đã căng giây cót tuyên bố:”
Ta
đánh Mỹ là đánh
cả
cho
Liên Xô,
đánh
cho
Trung
Quốc…”… Ôi nhân tai!
Tôi
biết nó thằng nói câu nói đó
Tôi
biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc
nó làm, tội phạm nó ra sao…!
Nó
đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình
xác lão Mao lông lá
Bàn
tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng
nhoài người qua lục địa Trung Hoa
Không
phải xoa đầu mà túm nó từ xa…
Nó
đứng không yên, tất bật, điên đầu!
Lúc
rúc vào Tàu, lúc rụi vào Nga
Nó
gọi Tàu – Nga là cha anh nó
Và
nguyện làm con chó nhỏ!!!
Xông
xáo giữ nhà, gác ngõ cha anh
Nó
tận thu từ quả trứng, quả chanh…
Học
thói hung tàn của cha anh nó
Cuộc
chiến tranh chết vội hết thanh niên
Đang
diễn ra triền miên ghê gớm đó…
(Thơ
Vô Đề - Khuyết Danh. 1968)
Trên
tầng số liên lạc:
-
Út Bạch Lan...207...
-
Tôi nghe Đích Thân.
-
Phú Quý (thiếu tá Lê Văn Mạnh TĐT/TĐ2ND) sẽ vào Charlie phía Bắc và sẽ Link up
với UBL. TĐ1ND sẽ xuống Hồng Hà phía Nam của UBL. Chúc mừng UBL. Có tin vui cho
UBL...sẽ gặp nay mai.
-
Nhận 5/5 Đích Thân.
Đứng
trên đỉnh đồi
Delta
bên cạnh thiếu úy Chấn với ca cà phê còn bốc khói, tôi chợt nghĩ lại lời nói hôm
qua với tên Thiếu Úy Đoàn Tạo (VC): “các cậu may mắn bị chúng tôi bắt giữ, có
nghĩa là các cậu còn sống...” rồi cười một mình…!!!
Thiếu
Úy Chấn nói:
-
Anh Út à...! Tôi ở Nhẩy Dù 15 năm từ Hạ Sĩ Quan rồi đi học trở thành Sĩ Quan,
xông pha bao nhiêu trận mạc vào sinh ra tử… Nhưng chưa bao giờ tôi có cảm tưởng
hồi họp ly kỳ, đôi lúc tếu lâm như lần này ở bên cạnh anh, tôi nhận
thấy thái
độ của anh tỉnh bơ, tinh thần
vững
chãi, bản lãnh
chỉ huy điều
động anh em tác chiến và nhất là không nao núng,
lo âu ngay khi cả bọn mình trong vòng vây trùng điệp
tưởng
chừng
như
sẽ bị địch tràn ngập… mà anh còn nói chuyện
tếu
trong âm thoại liên lạc với mấy Sĩ Quan Trung Đội Trưởng hay các Trưởng Toán
Viễn Thám chẳng hạn khi trung úy Sang gọi báo cho anh rằng:
“…Trung
Đội 2 chúng tôi bị tràn ngập…”. Anh trả lời tỉnh queo cho Sang:” … Anh còn gọi
báo cáo cho tôi được, thì trên răng dưới lựu đạn, hay răng đen mã tấu của anh
vẫn còn? Sao không chơi xã láng sáng mặc quần xà lỏn về sớm với tôi... để chúng
ta cùng chạy over run…”!!! Tôi thật sự ái mộ và khâm phục ĐĐ2TSND của anh
vô cùng…!!!
-
Anh Chấn nè...! Chiến công này không phải của riêng tôi và đơn vị đâu. Thứ nhất
là kế hoạch hành quân tuyệt vời của BCH/LĐIIND với Quân Đoàn II, những bộ phận
then chốt trong đó là TĐ1PBND của Thiếu Tá Bùi Đức Lạc, các Pháo Đội...và của
Anh Chấn nữa, Phi Đoàn Khu Trục 514 Phượng Hoàng, Phi Đoàn 530 Thái Dương tăng
cường,
Phi
Đoàn 213 Song Chuỳ, Phi Đoàn 215 Thần Tượng, Phi Đoàn Trực Thăng 229 Lạc Long
của Phi Đoàn Trưởng
Thiếu Tá Lê Văn Bút với tay Pilot gan lỳ xuất
thân từ trường tôi luyện thép Thiếu
Sinh Quân là Đại Úy Phạm Công Cẩn túc trực
ứng chiến bay ngày đêm trên vòm trời lưới đạn phòng không để “cứu thằng em Út
Bạch Lan và con cái của nó đang bị VC tapi en masse”,
Đại Tá Mike cố vấn LĐIIND thảo hoạch và phối
hợp điều động chặc
chẻ ứng chiến
từng phút, từng giờ
và hằng
ngày với
Cố Vấn Quân Đoàn Mr B.52 John Paul Vann phối hợp nhịp nhàng với
Phi
- Pháo yểm trợ… Anh nên biết rằng các quan “Mặt
Trời” bày binh bố trận “Trường Bản” rồi bốc toàn thể yên hùng Triệu Tử Long
ĐĐ2TSND thả
chúng ta xuống cái “hột
Lạc” này đây
là kế sách của cấp Quân Đoàn: “thảy một cục đường cho bầy kiến bu lại”
rồi
xịt thuốc pháo TOT (Time on Target: to determine the time to fire. An executive
order to fire is given to all guns in the fire unit at the correct moment to
fire), và mở Hội Thiên Lôi từ trên giời cao cho quan lái tàu bay mặc phi bào áo
liền quần thảy lỗ Bomb Napal đốt muỗi, diệt ruồi …!!! Anh Chấn “vác ngộ”
chưa?
Tôi choàng tay ôm vai người bạn già Thiếu Úy Tiền Sát Viên TĐ1PBND đã
đồng
cam cộng sinh tử vừa qua và cùng nâng
ca cà phê:
-
Hay không bằng hên...! Chết sống như một định số an bày? Anh nhìn xem có bao
nhiêu người đã bất động nằm đó, còn tôi với anh vẫn còn đứng đây, chung quanh là
những binh sĩ như huynh đệ thủ túc của mình đã cùng nhau kinh qua bao
chiến
trường gian khổ, hiểm nguy từng phút từng giờ trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật này,
họ đang
lom khom đốt lửa
để hâm nóng hộp thịt ba lát chuẩn
bị bữa ăn dã chiến và ngoài kia có hơn 600 xác chết Bắc Quân đếm được vì còn
phần thân mình, những thây bị banh xác chỉ còn vài phần xương thịt vung vãi trên
khắp ngọn đồi Delta và có bao nhiêu thân xác Bắc Quân bị Bomb Napal đốt cháy
thành than không đếm được nữa… Tất cả sẽ ở cùng với đất đá tại thung lũng dốc
thoai thoãi lẫn khuất này và rồi sẽ làm thêm mầu mỡ cho môi sinh khi mùa mưa tới
vài tháng nữa đây…! Tôi đố Anh Chấn biết trong thâm tâm của những người
Lính ĐĐ2TSND đang ghĩ gì …?
Với
ý chí truy tìm và tuệ giác chiếu soi thì thế giới quan chẳng có gì là bí
mật? Do dục vọng móng khởi trong Tâm làm sáng tạo tư tưởng và rồi tư tưởng lại
làm cho dục vọng tăng trưởng thành nền tảng cho loài người tiến hoá, văn minh…
và nhận thức sự lý tốt xấu, đau khổ, hạnh phúc, giải thoát khỏi vạn pháp … lại
cũng tuỳ ở quan niệm giới hạn bởi tri thức, địa lý chính trị và tầng giác ngộ
thô hay thậm thâm vi tế vượt qua khỏi trạng huống vật chất với phàm nhân còn vô
minh thì như bất khả tư nghì …? Với tiềm năng của con người cộng với trí thức và
có phương pháp, tinh tấn với nổ lực sẽ đạt được thành quả. Nhưng khi “cái” thành
quả đó có được cũng là quá khứ với ít nhiều thiếu sót, khiếm khuyết … và lại có
thêm những khám phá, phát minh mới … rồi tối hậu để làm gì? Có phải chăng loài
Người trên thế gian này đối đãi và cư xử với nhau hướng thượng với phương châm
cực Lý là Tình? Nếu là Tình thì những kẻ chủ xướng cổ máy xay xương thịt người
Việt Nam là hợp Lý chăng? Dân Việt sẽ được gì sau cuộc chiến? Đất nước nầy
rỗi sẽ ra sao? Trong phạm vi cuộc chiến Việt Nam mà 3 nước đại cường và cũng là
3 thế lực lớn: Mỹ - Nga - Tàu chủ trương, chi phối và điều động toàn thể giới
lãnh đạo của hai miền Nam - Bắc Việt Nam: Mỹ có đại nhân, đại trí, đại lược, đại
dũng và cũng là “nhân tố” thiên tài ở mặt sáng có ánh quang mặt trời làm lý
tưởng che chắn và rao hàng, dòng thời sự Mỹ tuy có phản ảnh sự phân hoá ở mặt
tầng xã hội, tin tức phản chiến rộ trên mặt trận truyền thông, báo chí là biểu
hiện ý thức sinh hoạt Tự Do - Dân Chủ của dân chúng Mỹ “thấm thương” bởi
Việt Nam War và cũng chỉ là Science có chỉ đạo và dự tính cho dù đã xảy ra hiện
thực đang thời? Nhưng Quốc Sách - Chiến Lược do những Kỳ Nhân - Thượng Hội
Đồng Tối Cao Quyền Lực ngự trong “Nội Phủ” làm quốc chủ “Cung Đình” vẫn được các
“hình nhân” răm rắp thi hành xuyên suốt… Nếu có trở ngại trên đường thẳng tiến
ư? Oh,… Flow Chart … đã có dự trù thế bò trườn của con sâu róm (sâu lông) nó rất
cẩn trọng luôn ngẩng đầu lút lắc nghe ngóng, thăm dò để điều chỉnh hướng tiến
tới và Policy vẫn trực chỉ thi hành cho hoàn tất những chặng đường đã hoạch
định, thiết kế cho nước Mỹ và Thế Giới như an bày “In God We Trust – Annuit
Coeptis – Novus Ordo Seclorum” (tuân hành những điều đã qui định) … Ở mảng tối
lại là thiên tai và gây nên đại hoạ cho dân Việt khi thiết kế sách lược xử dụng
chiến tranh Việt Nam để phân hoá Nga - Tàu làm hư hoại khối Cộng Sản trên đà
bành trướng! Những người Bolshevik
Nga tinh tuý, biến cải và ảo tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa và Thế Giới Đại Đồng! Nhưng
thực chất vẫn là cuồng vọng bành trướng Đại Nga, Đế Quốc Nga sau khi họ đã triệt
hạ triều đại Nga Hoàng, với quyền lực đại cường họ đã xuất cảng dòng thác “cách
mạng” là dòng sông máu Marxism-Leninism để nhuộm đỏ
thế giới… Nhưng chính bọn đồ tể Bắc Bộ Phủ mới là tác nhân làm cho dòng sông máu
Cộng Sản thêm phần dơ bẩn, hôi thối là rác rưỡi của nhân loại cần phải thiêu huỷ
và vứt đi. Tàu với bản chất xâm lăng, chiếm đoạt, và phá hoại tài nguyên của
nhân loại và với sách lược chính trị lộ tuyến… Tàu đang là công địch của thế
giới thì trên lộ trình hướng tới tương lai phải đương đầu với đại hoạ phân thây
là điều tất yếu, huống chi “Người Ta” vỗ béo con vật để giết thịt? Kết
cuộc: Nga bị lừa, Trung Cộng bị lừa, cả thế giới bị lừa, Giới lãnh đạo Nam
- Bắc Việt Nam bị lừa, Dân Tộc Việt Nam bị lùa vào lò sát sinh… “Oh hô
Washington Bodhisattva… xá mớ bái”…! Trời hết mưa rồi lại nắng, sau chiến tranh
thì tới hoà bình, để những tập đoàn tài chánh là sân sau của “Cung Đình” sẽ di
dời vùng kéo tới đầu tư, mua bán, tái thiết, xây dựng và khui bốc mẽ tài nguyên
dưới mặt đất thời kỳ Vôi của đất nước Việt? Nhưng dân Việt ta có lẽ chỉ hưởng
được một tí chéo áo là an vui, hạnh phúc rồi và lấy làm thịnh vượng…?! C'est sera
sera, Anh
- Em chúng ta biết ra sau ngày sau?
Sau
hai ngày chờ đợi TĐ1ND và TĐ2ND vào vùng an định, ĐĐ2TSND được trực thăng vận
triệt xuất về Căn Cứ
Võ
Định - Bộ
Chỉ
Huy Lữ
Đoàn
II Nhẩy
Dù
với báo cáo kết quả của TĐ2ND đã thu nhặt
chiến lợi phẩm và đếm
hơn
600 xác Bắc
Quân nằm
chung quanh và khắp
ngọn Đồi
Delta.
.Mũđỏ
Trương
Văn Út
(Útbạchlan)
Houston
- Tháng Giêng, Năm Đinh Dậu 2017.
Subscribe to:
Posts (Atom)
