Saturday, July 10, 2021

CHUYỆN ĐỔI TIỀN VÀ NHỮNG CUỘC ĐÁNH ÚP TÀN BẠO

  • Nguyễn Thông

Hôm qua ồn ào thông tin mật mà tòe loe, kín mà hở, rằng Sài Gòn sẽ bị lockdown (tạm dịch là phong tỏa). Lập tức có ngay những ông bà quan cai trị (chắc bị đẩy làm người phát ngôn nhất thời) đứng ra tuyên bố đó là tin đồn nhảm trên mạng xã hội. Với thể chế này, những thứ trên mạng xã hội, và cả chính mạng xã hội nữa, đều rất chi bố lếu bố láo. Lại nhớ từng có khá nhiều facebooker bị phạt, ít thì 2-3 triệu, nhiều thì 5-7 triệu đồng, về cái tội cầm đèn chạy trước ôtô.

Hôm nay 7 Tháng Bảy (song thất nhật), tin “đồn nhảm” đã thành sự thật. Chính phủ, Bộ Y tế, chính quyền “Saigonpore” chính thức công bố từ sau 0 giờ ngày 9 Tháng Bảy, tức nửa đêm mai, sẽ thực hiện chỉ thị 16 trên toàn thành phố, trong 15 ngày, rồi tùy tình hình sẽ tính tiếp. Gọi Chỉ thị 16 cho văn vẻ thế thôi, chứ thực ra là phong tỏa, cách biệt, ngăn cách, theo kiểu dân mạng là lockdown.

Tôi sống từ bé tới giờ ở thế chế này nên biết cái cách họ nói một đằng làm một nẻo, nhưng cứ ngoan cố giấu diếm. Họ chỉ cốt giấu được tới đâu hay tới đấy, nhưng họ không nghĩ rằng cách ấy cực kỳ tai hại, bởi thiên hạ sẽ không tin vào bất cứ thứ gì họ nói nữa, hoặc họ nói gì thì cứ phải hiểu ngược lại. Nhân vụ này, tôi kể lại chuyện họ mấy lần đổi tiền, cũng cung cách đó, rất chi là… bản chất ngoan cố.

Đổi tiền 1978

Tháng Tư, 1978, tôi vào Sài Gòn đã tròn năm. Một năm ròng với biết bao đổi thay khi chính thức bước vào đời. Hồi còn sinh viên, mọi thứ thật đơn giản, trong trẻo, ngay cả sự vất vả, đói khổ, thiếu thốn cũng được nhìn nhận rất nhẹ nhõm. Giờ thì thay đổi tận gốc. Chả khác gì cuộc vật lộn với đời, lăn vào bãi bể nương dâu. Lúc này sống được đã khó, chống chọi lại đủ thứ tai ách bủa vây lại càng khó hơn.

Đến khi tôi gõ những chữ này, thời gian đã trôi qua hơn 40 năm rồi, nên trí nhớ về ngày tháng cứ chập chờn, nhớ nhớ quên quên. Người ta bảo “cái gì không biết thì tra gu gồ”, nhưng tôi nhớ được đến đâu kể đến đấy, kệ cụ gu gồ. Láng máng là sát cuối Tháng Tư 1978, một buổi tối, chú Dương Cao Thăng, Chủ tịch Công đoàn Trường dự bị  Đại học Tiền Giang (91 Nguyễn Chí Thanh, phường 9, quận 5, TP.HCM) gọi đám anh em giáo viên trẻ miền Bắc chúng tôi lại, bảo rằng sáng mai có mặt để làm theo sự phân công của nhà trường. Cũng đoán được phần nào chuyện gì rồi bởi tin đồn đổi tiền đã rộ lên từ mấy hôm.

Phường tôi ở là trọng điểm người Hoa tại Sài Gòn. Họ đang chộn rộn, hoang mang lắm. Suốt mấy tối liền, tivi ra rả lên tiếng kêu gọi người dân cần tỉnh táo, nêu cao cảnh giác, tin đổi tiền là đồn nhảm, do bọn phản động chống phá cách mạng, do bọn bành trướng Bắc Kinh xúi giục, bà con đừng có tin… Hết lãnh đạo phường, đến quận, đến thành phố lên tivi trấn an dân chúng, vẫn điệp khúc hãy tin chính quyền, đừng mắc mưu kẻ địch. Đám công chức, giáo viên chúng tôi thực ra chả quan tâm lắm bởi làm gì có tiền mà đổi. Lương tháng 64 đồng, không có thêm bất cứ phụ cấp hoặc thu nhập gì, còn gọi lương ba cọc ba đồng, vào đúng thời điểm đói rách, ăn độn, thiếu thực phẩm, đói vàng cả mắt nên có đồng nào chén sạch đồng ấy, lấy đâu tiền dành dụm mà đổi. Tuy vậy, cả đêm khó ngủ, chờ đến sáng hôm sau. Mới tờ mờ sáng ngày 3 Tháng Năm, khác hẳn mọi hôm, loa phường đã oang oang, thông báo lệnh đổi tiền. Nội dung cho biết đổi ở đâu, mỗi người được đổi bao nhiêu, mỗi hộ bao nhiêu…

Tiền mệnh giá 30 đồng, đồng tiền lạ không giống ai duy nhất trên thế giới, chỉ người cộng sản An Nam mới nghĩ ra được! (chú thích của tác giả)

Số cán bộ, giáo viên trường tôi được đổi tại trụ sở Ủy ban phường 9 trên đường Nguyễn Tri Phương, đối diện Trường cấp III Trần Khai Nguyên. Chú Thăng dặn dò, nhớ nhé, mỗi người được đổi 100 đồng, một hộ gia đình được đổi 200, nếu nhà đông người được tối đa 500 đồng. Ai hoặc gia đình nào có nhiều tiền hơn số quy định phải làm bản khai cụ thể, tiền đó ở đâu ra, rồi số tiền ấy sẽ được gửi vào Ngân hàng Nhà nước, sau này xác minh là tiền chính đáng thì rút ra dần, còn không rõ ràng sẽ bị tịch thu.

Đó là ở thành phố, chứ vùng nông thôn, như Tiền Giang chẳng hạn, mấy thầy cô cùng trường tôi cắm trụ dưới Cơ sở II than trời, bởi cá nhân chỉ được đổi 50 đồng, hộ gia đình 100 đồng, hộ đông người tối đa 300 đồng. Nhà tôi quê ngoài Hải Phòng cũng vậy, bu tôi chịu khó buôn bán, tiết kiệm dành dụm, ăn chả dám ăn, tiêu chả dám tiêu, đổi có 300 đồng nên bị mất ối tiền, nhưng bu tôi giấu không cho cả nhà biết, sợ bị… mắng.

Tôi vét voi mãi chỉ còn chưa đầy hai chục, chẳng vội vàng gì. Lão Vy (Nguyễn Văn Vy đồng nghiệp, đồng hương, đồng môn của tôi) cũng chẳng khá hơn, hình như có 21 hay 22 đồng. Độc thân cần quái gì dành dụm. Tay học sinh bộ đội đi học chơi thân với chúng tôi, Đào Gia Thiệp người Thủy Nguyên, có những hơn bốn chục. Cả đám cười như nghé. Đang dập dờn định kéo nhau ra Ủy ban phường thì chị em cái Thu người Hoa bán tạp hóa-cà phê ở dưới phố hớt hơ hớt hải chạy lên kiếm. Tôi hay trò chuyện với Thu nên nó cũng mến tôi. Nó bảo anh ơi, nếu các anh chưa đủ suất thì đổi giúp em với. Ba đứa chúng tôi nhận lời, cái Thu đếm tiền đưa 200 đồng, cứ cảm ơn rối rít, rồi chạy vụt về, có lẽ đi tìm tiếp người khác nhờ đổi. Nhà nó buôn bán nên có tiền.

Ngoài Ủy ban phường không khác cái chợ vỡ. Mặc cho công an phường và dân phòng vòng trong vòng ngoài, dân chúng cứ rên rỉ, la hét, than thở, chửi bới, năn nỉ, thôi thì đủ kiểu. Một ông sồn sồn nhìn là biết ngay người Hoa, lớn tiếng, giọng lơ lớ, tỉu hà ma chúng bay, chúng bay là quân lừa đảo, quân ăn cướp, cướp không mồ hôi nước mắt của chúng ông. Mấy cậu thanh niên cờ đỏ đến nói gì đó, ông nhổ phì một phát, bỏ đi không thèm nói thêm một lời.

Thực ra chỉ có bọn người nhà nước chúng tôi và dân lương thiện ngây thơ tin vào tuyên truyền của nhà nước thôi, chứ đám có tiền thì họ đã ngóng đón trước rồi. Tôi nghe kể hôm qua có gia đình người Hoa ở chợ An Đông còn mua cả cần xé vé số để nếu hôm sau xổ số mà trúng sẽ có tiền hợp pháp. Chú Thăng bảo rằng đổi tiền thế này về hình thức chỉ nhằm đánh vào bọn tư sản thôi, chứ công nhân viên chức ba cọc ba đồng đâu có ảnh hưởng gì. Rồi ông nói nhỏ, cũng là một dạng ăn cướp, ăn cướp hợp pháp. Đau nhất là cướp chính của dân. Còn tôi thì hiểu rằng từ sau vụ này khó mà tin được người nhà nước, tin vào mấy ông lãnh đạo, tin vào đài báo, tivi nữa. Mới hôm trước khăng khăng rằng không đổi tiền, hôm sau tráo trở nuốt lời làm ngược lại.

Xã hội sau vụ đổi tiền chả khác gì trải qua cơn bão, đầy bi kịch. Mấy hôm sau, nghe người ta kể lại có những người bị mất của, sạt nghiệp do đổi tiền đã thắt cổ hoặc nhảy cầu tự tử. Cộng đồng người Hoa bị đánh đòn kinh tế nốc ao này càng thêm chán ngán, họ rục rịch chuẩn bị kéo nhau về Hong Kong hoặc Trung Quốc. Số người vượt biên ngày càng tăng nhanh. Trường tôi cũng có mấy thầy cô ra đi, trong đó có thầy Đái Phụng Thời, dạy toán, Phó bí thư Đoàn trường, bạn tôi. Số tiền mà chị em Thu nhờ đổi, chúng tôi lĩnh xong đưa trả lại không thiếu đồng nào. Một thời gian sau chị em Thu cũng vượt biên. Cả đứa học trò tôi là Trịnh Hảo Tố Như, người Hoa, nhà số 41 Nguyễn Chí Thanh, ngay sát ký túc xá 43 Nguyễn Chí Thanh tôi ở, cũng cùng gia đình lặng lẽ đi trong đêm, sáng hôm sau khi tôi xuống phố mới biết.

Cuộc đổi tiền năm 1978 đã gây ra bao nhiêu bi kịch, tang thương. Kẻ cai trị mới đã lộ rõ bản chất ăn cướp, mà đối tượng không ai khác chính là nhân dân. Kinh tế chẳng những không khá hơn mà ngày càng lụn bại. Và càng bi kịch hơn nữa, sau đổi tiền có vài tháng, đồng tiền lại mất giá nhanh vùn vụt, gần như chẳng còn bao nhiêu giá trị. Thày Vy đùa bảo không khác gì tờ giấy lộn, còn tệ hơn cả khi chưa đổi.

Cuộc đánh úp tàn bạo năm 1985

Như đã kể, trải qua cuộc đổi-cướp tiền Tháng Năm 1978, tôi đã biết sức mạnh của tiền và sự cay đắng mà đồng tiền đem lại. Nhưng phải nói, đến lần đổi tiền thứ tư, vào Tháng Chín 1985, và cũng là lần cuối cho đến tận bây giờ, tôi mới thực hiểu con người bị khốn khổ bởi đồng tiền như thế nào. Và cần làm rõ thêm, bản thân tiền bạc chả có tội gì, nó chỉ gây nên đau khổ khi nó được điều hành, chi phối bởi những thế lực cầm quyền ghê gớm, tàn bạo.

Suốt mấy năm trời, sự nghèo đói mò đến tận chân giường. Những nhà trước kia khá giả một chút giờ cũng bắt đầu lôi đồ đạc, vật dụng sinh hoạt ra bán dần. Sau cuộc chạy loạn “nạn kiều” của người Hoa năm 1978-1979 thì có lẽ cuộc chạy ăn của dân chúng, công chức, nhân viên nhà nước trước năm 1985 gây sôi động Sài Gòn nhất. Mặt mũi ai cũng vêu vao, má hóp lại, da nhăn nheo đen sạm. Thương nhất mấy cô giáo, gầy còm, xanh xao vẫn phải đứng lớp ròng rã. Thầy Võ Thanh Long dạy lý – một trong những thầy giáo cự phách của Trường DBĐH, cũng như các thầy Trần Mạnh Hảo (toán), Cung Bỉnh Duyệt (lý), Nguyễn Cương (hóa), Nguyễn Văn Vy (văn), Phương Văn Dần (Nga)… cười méo xẹo – nói rằng giờ là lúc “thầy giáo tháo giầy”. Chưa bao giờ câu nói đùa ấy đúng cay đắng chua chát như lúc này. Thầy Hảo thì bảo cứ nói “giáo chức – dứt cháo”, cũng đúng quá đi mất.

Xung quanh chợ An Đông (quận 5) gần trường tôi hình thành mấy lề đường chợ trời, người ta đem đủ thứ ra đó bán, từ cái tủ lạnh, tivi vốn rất hiếm lúc bấy giờ, đến cái thìa chiếc muỗng bằng inox, thậm chí cả cái dây kéo fermeture cũ dùng rồi cũng tháo khỏi quần áo cũ bày ra bán. Miễn thứ nào có người mua là bán thì mới có tiền mua gạo mua cá cho khỏi chết đói. Hồi người Hoa chạy, tôi còn lang thang lề đường kiếm tìm những thứ đồ rẻ, mấy con dao ăn, bức tranh khắc gỗ (giờ vẫn còn) nhưng đến kỳ này thì tiền cũng chả có để mua.

Đồng tiền mệnh giá 10 đồng này (mệnh giá cao nhất trước năm 1978)
được dân gian âu yếm đặt tên là “cụ mượt” (chú thích của tác giả)

Đồng lương vẫn thế nhưng tiền mất giá kinh khủng, vừa lĩnh ở phòng tài vụ xong, ra đến cửa là đã có thể vơi đi cả nửa do trả nợ. Bóp mồm bóp miệng lắm cũng chỉ kéo được hơn hai chục ngày với số tiền còm ấy. Vài năm trước, lương còn đủ mua được chục ký gạo, hằng ngày nhặt nhạnh mớ rau, con cá vụn…, còn giờ tan trường là cúi mặt vội về, không dám la cà ngoài chợ nữa. Thằng con đầu lòng tôi, sinh Tháng Năm 1984 tính toàn bộ tuổi nhũ nhi của nó chỉ được uống đúng một hộp sữa Meiji hơn 400gr khi nó bị ỉa chảy. Hôm chạy xe đạp tới đường Nguyễn Thông quận 3 mua hộp sữa ấy, tôi hiểu rằng mình sẽ phải nhịn ăn trong nhiều ngày tới.

Lạ ở chỗ, đến năm 1984-1985 đồng tiền không những mất giá khủng khiếp mà cũng rất hiếm. Trường tôi tháng nào cũng nợ lương giáo viên, nghe đâu phòng tài vụ của anh Trần Văn Thông (trùng tên với tôi, khác họ) bảo rằng nhà nước không có tiền (chẳng bù bây giờ, cứ thiếu tiền là in, kệ cụ lạm phát). Mấy đứa em họ tôi làm công nhân cũng than xí nghiệp không có tiền. Sao người ta xì xào nhà nước in tiền liên tục, nhờ Tiệp Khắc in nhiều lắm. Vậy thì tiền nó chạy đi đâu? Hàng hóa khan hiếm, tiền mất giá và thiếu hụt, cuộc sống đi xuống từng ngày, tất cả in khắc vào gương mặt. Vợ tôi đang thất nghiệp, ở nhà chăm cu con đầu lòng, mỗi lần thấy chồng thất thểu từ trường về, chán chả hỏi gì nữa, bởi có hỏi cũng vẫn những câu trả lời cũ kỹ vô hồn. Quả thật, mình đang sống mà có cảm giác tất cả đều rất cũ, như sống thời xửa thời xưa kiếp trước chứ không phải bây giờ, sống hộ ai đó chứ không phải cho chính mình.

Nhìn những khuôn mặt xanh xao, xám xịt, quắt queo, gò má nhô ra của người thân, của đồng nghiệp, bạn bè, tôi tự hỏi chả biết dòng đời còn trôi chảy đến đâu nữa. Đành phó mặc dòng đời mà sống thôi.

Từ nửa cuối Tháng Tám 1985 đã râm ran tin đồn đổi tiền. Ông bạn tôi, thầy giáo Nguyễn Văn Vy, người huyện Thủy Nguyên, học trước tôi một khóa, vào Sài Gòn dạy trước tôi một năm, là người vốn rất hiền lành chuẩn mực, vậy mà cáu tiết “đổi đéo gì đổi lắm thế”, cứ như thể cuộc đổi tiền ghê rợn lần trước, năm 1978, mới vừa xảy ra vậy. Có nhẽ sự ám ảnh ấy nó đeo đẳng, kéo dài, đau đớn quá, khó có thể quên. Cứ qua mỗi ngày, tin đồn lại càng rộ càng đậm.

Đám đàn ông người Hoa cởi trần hoặc áo may ô ba lỗ tuổi sồn sồn sáng nào cũng ngồi cà phê chỗ góc vườn hoa ven đường An Dương Vương gần nhà thờ Thánh Jeanne D’Arc, quận 5 bàn gì bí mật lắm. Thầy Cung Bỉnh Duyệt bảo đó là những xì thẩu, họ quyết định về kinh tế lên hay xuống của Sài Gòn. Cứ xong cữ cà phê sáng của họ thì lại có “đường lối” kinh tế cụ thể cho ngày ấy. Giá vàng, giá trị đồng tiền, gạo nước, vải vóc, tôm cá lên xuống ra sao đều được quyết định từ cái góc xộc xệch nhếch nhác này. Thầy Duyệt cười, đổi tiền hay không, cứ ra đó là có thể biết. Đám ấy không quyết định việc đổi tiền nhưng nó biết chắc chắn có đổi tiền hay không. Nó không bị mắc mưu bị đánh úp như hồi năm 1978 nữa.

Mỗi lần nhà nước đổi tiền là mỗi lần đồn đoán, lo sợ, giải thích, phân trần, trấn an. Lần này 1985 cũng vậy. Truyền thông nhà nước đưa một số vị lãnh đạo có tên tuổi lên tivi, lên đài phát thanh khuyên nhân dân hãy tin tưởng vào đảng và nhà nước, đừng mắc mưu bọn bóc lột, bọn chống phá cách mạng, bọn bành trướng Bắc Kinh. Nhưng dân thì đã rút ra được kinh nghiệm xương máu, cứ bao giờ có ông to bà nhớn nào lên kêu gọi dụ dỗ thì chỉ vài ba ngày sau là đổi tiền. Đến giữa Tháng Chín, tôi nhớ láng máng ngày 13 hay 14 Tháng Chín chi đó, thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Năm khi họp ban giám hiệu với các tổ trưởng bộ môn đã xì ra thông tin sẽ có đổi tiền, thầy bảo nghe thì biết vậy, đừng nói lung tung. Trò đời, với những thứ quốc cấm ấy thì giấu làm sao được. Tôi chỉ về hé với thầy Vy, bởi tôi cũng chẳng biết liệu có đổi hay không. Thầy Vy nói, tao với mày, cũng như đám đánh Mỹ quá đà tụi mình, có mấy đồng bạc ranh, đổi hay không đổi sợ chó gì…

Ngày 14.9, ông anh trai tôi đang là trưởng phòng ngoài Sở Tư pháp Đà Nẵng vào công tác. Anh có nhiệm vụ giữ tiền ăn, tiền sinh hoạt cho cả đoàn cán bộ của sở. Tôi kể chuyện có tin đồn đổi tiền, anh Uy tôi bảo nếu đổi thì đổi chứ có sao. Đến chiều cùng ngày, lại ông em họ bên vợ tôi từ An Giang lên Sài Gòn, ôm một đống tiền lên mua đinh, mua sắt thép, nhà nó có sạp hàng ở chợ Mỹ Luông, thị trấn huyện Chợ Mới. Người thứ ba nghe tôi bật mí chuyện đổi tiền là nó. Nó, cậu Tư Trung lo lắng bảo chỉ mong sao mai em mua hàng, trả hết tiền hàng xong, về đến quê thì hãy đổi. Cả nhà tôi, cả ký túc xá 43-45 Nguyễn Chí Thanh nơi tôi ở, sống trong tâm tạng hồi hộp, phấp phỏng lo sợ, cứ như chuẩn bị đón cơn bão lớn.

Cũng như lần trước, nhà nước đánh úp dân. Đổi tiền chỉ có dân chết bởi dân luôn sẵn lòng tin vào nhà nước. Đám xì thẩu người Hoa lần này bình chân như vại. Sáng sớm 15.9, loa phát lệnh, giống như thiết quân luật, ai ở đâu ở yên đó để nghe nhà chức trách thông báo. Việc đổi tiền sẽ chính thức tiến hành từ 6 giờ sáng 15.9. Loa nói rằng nhà nước đang tiến hành cải cách kinh tế để đưa nền kinh tế đất nước tiến lên vững chắc theo con đường xã hội chủ nghĩa, cụ thể sẽ làm cuộc cách mạng về giá – lương – tiền. Đổi tiền để đảm bảo giá trị của đồng tiền ngân hàng nhà nước, giá cả sinh hoạt, giá trị đồng lương. Lần này đảng và nhà nước sẽ kéo đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng, đẩy lùi những khó khăn, thiếu thốn. Đồng bào hãy tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng và nhà nước. Hãy thực hiện đổi tiền trong trật tự, theo đúng quy định…

Theo đúng quy định, nghĩa là kỳ này 1 đồng tiền mới ăn 10 đồng tiền cũ, mỗi cá nhân chỉ được đổi 100 đồng mới (tôi nhớ đồng tiền này màu nâu). Hộ có 3 người như gia đình tôi được đổi tối đa 250 đồng, hộ đông người như nhà chú Thăng được đổi tối đa 500 đồng. Để có được 250 đồng mới, tức là nhà tôi phải có 2.500 đồng, gớm, có mà ăn cướp ngân hàng cũng chả kiếm đâu ra số tiền lớn như thế. Chỉ có điều, lần này chị em cái Thu dưới phố cũng không thấy lên nhờ, mà có nhờ tôi cũng chẳng dám nhận bởi còn bọc tiền quỹ mà ông anh đang giữ, lỡ có bề nào anh ấy nhờ thì mình phải giúp. Và nhất là tiền mua đinh mua sắt của cậu Tư Trung, phải giúp nó, chứ không thì gay.

Ngoài điểm đổi tiền, cũng vẫn chỗ cũ, trụ sở UBND phường 9, quận 5 trên đường Nguyễn Tri Phương, tiếng loa ra rả thông báo cuộc đổi tiền bắt đầu từ 6 giờ sáng, kê khai đến 12 giờ trưa, lượng tiền được đổi… Ghê nhất là 1 ăn 10, và chỉ được đổi tối đa lấy 100 đồng tiền mới, có bao nhiêu cũng mặc lòng. 100 đồng ấy cho nhận ngay. Số còn lại, sẽ căn theo bản kê khai, nếu xét thấy hợp lý thì về sau sẽ trả tiếp, còn không thì tịch thu. Phải nói, đó là cuộc ăn cướp có bài bản, được nhà nước và pháp luật bảo trợ. Đang có 10 đồng, tự dưng chỉ còn 1 đồng, mất tiêu 9 đồng, dù nhà nước khuyến cáo rằng 1 đồng mới có giá trị bằng 10 đồng cũ nhưng thị trường đâu có chấp nhận sự duy ý chí ấy. Thực tế cho thấy chỉ khoảng vài tháng sau (tôi nói vài tháng là hơi nhiều), đồng tiền mất giá xuống nhanh như tên bắn, lại gần trở về mốc lạm phát cũ. Vài tháng đầu sau đổi tiền còn có hiện tượng hiếm tiền lẻ, đi ăn bát phở bình dân, đi cúp cái tóc, đưa tờ 50 màu xanh hoặc tờ 100 màu nâu ra, người ta lắc đầu quầy quậy bởi không có tiền thối (trả lại), có khi phải nhịn đói mà về. Hồi đó người ta ưu tiên cho 2 đối tượng “tiền lẻ, thẻ thương binh”. Tuy nhiên, chỉ vài tháng, đồng tiền mệnh giá 100 đồng còn giá trị phân nửa, và cứ xuống đến tận đáy trong một nền kinh tế èo uột, khan hiếm hàng hóa, vốn là thứ để bảo đảm giá trị đồng tiền.

Ông anh tôi đeo cái túi đựng tiền của cơ quan ra điểm đổi tiền, xếp hàng giữa muôn trùng người chen lấn, mồ hôi đầm đìa. Cậu Tư Trung em vợ tôi cũng vậy. Tôi đứng ngoài nhìn vào mà chịu, chả làm sao giúp được. Hai vị ấy đến gần 12 giờ mới kê khai xong, nhà chức việc hẹn ngày mai ra giải quyết tiếp. Về đến nhà, ông nào ông nấy khướt như cò bợ, chán nản mệt mỏi chả muốn ăn uống gì. Ông Uy còn phát hiện chiếc túi xà cột đựng tiền đem từ Liên Xô về bị rạch một đường rõ dài, sắc lẻm. May mà nó có nhiều lớp, tiền để phía trong nên không mất đồng nào.

Đổi tiền, về nguyên lý, là để cứu nền kinh tế khi đồng tiền bị mất giá, lạm phát quá cao (ngoài trường hợp thay đổi chế độ thì dĩ nhiên đồng tiền phải đổi) nhưng thực chất chỉ đánh vào người dân, người làm ăn chân chính. Nó là cuộc cướp bóc trắng trợn, nhưng cũng đầy thủ đoạn, không cần biết gì đến thiệt hại của dân chúng. Nhiều người, nhất là người về hưu, người già, dành dụm hoặc được con cháu cho ít tiền, đem gửi tiết kiệm lấy tiền lãi sống qua ngày, đến khi đổi tiền bị mất gần hết, 10 đồng chỉ còn 1, rồi tiền mất giá thì coi như mất hết. Sau cuộc đổi tiền 1985, hàng triệu người bị rơi vào bi kịch tán gia bại sản ấy. Người ta hay kể với nhau chuyện ai đó bán con bò, đem tiền gửi tiết kiệm, tiền mất giá, sau đổi tiền chỉ còn mua được vài ký thịt. Cười ra nước mắt.

Sau này, người ta cứ đổ qua đổ lại thất bại của chính sách giá – lương – tiền, của cuộc đổi tiền năm 1985 tối tăm trời đất cho ông Tố Hữu, nhà thơ làm kinh tế. Đành là ông Tố Hữu cũng có trách nhiệm bởi ông ấy làm Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng (tức Phó thủ tướng thứ nhất) chuyên trách về kinh tế, nhưng trút hết rác rưởi vào ông nhà thơ là hành vi tầm thường, tiểu nhân. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thủ tướng) khi đó là ông Phạm Văn Đồng, Tổng bí thư là ông Lê Duẩn, rồi còn đám ông Đỗ Mười, Phạm Hùng, Trường Chinh, bao nhiêu ông thét ra lửa, cuối cùng chạy tội, né tránh cả. Đến đại hội 6 vào tháng 12.1986, ông Tố Hữu bị văng ra, và người ta xoa tay coi như đã làm hả hê lòng dân chúng khi trị tội một kẻ đã đẩy nền kinh tế của đất nước, cuộc sống của mấy chục triệu người đến bờ vực thẳm. Cũng chỉ là trò Tào Tháo mượn đầu quan coi lương Vương Hậu để yên lòng quân sĩ thời Tam Quốc mà thôi.

Những kẻ tham quyền cố vị, dốt nát, chỉ cốt bảo toàn đường lối chính trị, khi chúng làm kinh tế, ắt chúng sẽ phá nát nền kinh tế. Một xã hội mà cứ đổi tiền xoành xoạch, đủ biết tài cán làm kinh tế của những kẻ cai trị đến mức nào. Đồng tiền thấm bao nhiêu mồ hôi, nước mắt con người, in dấu số phận con người, trong tay những kẻ ấy, cũng chả khác chi tờ giấy lộn. Cho nên, cứ nhớ đến chuyện đổi tiền lại rùng mình khiếp đảm.

Nhà báo Nguyễn Thông
Kili

Nguồn : https://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1/posts/1631867830173291/

Saturday, May 22, 2021

SỬ HỌC BỊ CHÍNH TRỊ HÓA THÌ NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG SỰ THẬT BỊ VI PHẠM

 Nguyễn Văn Nghệ

Khi còn ngồi ở ghế trường đại học, chúng tôi được các thầy cô (nhất là các thầy cô dạy lịch sử đảng ta, Nhà nước ta) dạy: Chỉ có sử học dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mới có cái nhìn khách quan trung thực mà thôi. Sử học phong kiến, tư bản chỉ phục vụ lợi ích cho giai cấp cầm quyền của họ cho nên không khách quan.


Nói đến sử học là nói đến khách quan, trung thực. Vậy sử học dưới chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay có khách quan và trung thực không?

Dịp ngày 30/4/2021 vừa qua, công chúng được xem bộ phim tài liệu điều tra “Chuyện trưa 30/4/1975” với thời lượng 1 giờ 12 phút do một nhóm văn nghệ sĩ của “ta” (Phạm Việt Tùng- Đạo diễn, Nghệ sĩ ưu tú; Trần Đăng Khoa- Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Trần Thu Hằng- Cựu Tổng biên tập Báo Phụ nữ Thủ đô; Minh Đức- Cựu Phóng viên VOV; Nguyễn Thu Hà- Chuyên viên Bảo tàng HCM; Chu Thùy Trang- Phóng viên VTC) thực hiện [1]. Sau khi bộ phim tài liệu được công chiếu, Trần Văn có bài viết “Sự thật là xa xỉ phẩm mà ‘ta’ không muốn sắm!” đăng trên trang web Báo Tiếng Dân có đoạn viết: “Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam tiếp tục ngậm tăm cho dù đồng chí, đồng bào tiếp tục hối thúc chính thức trả lại sự thật cho lịch sử đối với hai sự kiện: xe tăng mang số hiệu 390 chứ không phải xe tăng mang số hiệu 843 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975; Ông Bùi Văn Tùng chứ không phải ông Phạm Xuân Thệ soạn Tuyên bố đầu hàng để ông Dương Văn Minh- Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa- đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 30/4/1975”[2].

Ông Nguyễn Đình Cống đã nêu quan điểm của ông về vấn đề tranh cãi này: “Không biết vì kém trí tuệ hay vì một âm mưu nào khác mà người ta để cho cuộc tranh cãi kéo dài, nếu việc đó vào tay tôi chỉ cần khoảng một giờ, tôi giải quyết xong, êm thấm trả sự thật về cho lịch sử”[3].

Lý do tại sao gần nửa thế kỷ trôi qua với những chứng cứ lịch sử rõ ràng mà đảng ta, Nhà nước ta chưa “trả sự thật về cho lịch sử”?

Giáo sư Hà Văn Tấn nhận định về lịch sử của ta: “Lịch sử là khách quan, sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức của chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau” “Các nhà sử học chúng ta thường coi là mác xít, nhưng bệnh thiên lệch cường điệu một cách phiến diện một mặt nào đó, lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm. Cũng chính vì vậy nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua."[4]

Ông Dương Trung Quốc nhận xét về Sử học ở Việt Nam: “Cái thách đố là tính hấp dẫn của nó. Tính hấp dẫn theo tôi là phải gắn với hai thuộc tính quan trọng của lịch sử đó là tính trung thực và sự công bằng. Rõ ràng sử học Việt Nam trong thời gian rất dài nó phục vụ chính trị. Cái nhiệm vụ chính trị tôi cho là không sai nhưng nó đã xơ cứng rồi, nó làm cho chương trình không tạo nên sự hấp dẫn cho bọn trẻ”[5]

Nhà văn Nguyên Ngọc có cái nhìn: “Học chính trị là quá cần thiết chứ và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải làm “thống soái” để cho tất cả những cái khác phải châu đầu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người.

“Nói trắng ra, hiện nay người ta chán ghét học văn, học sử là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu, mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác”[6]

Không được chính trị hóa sử học. PGS.TS. Phạm Quốc Sử nhận định: “Lịch sử thì khách quan, nhưng sử học và dạy học lịch sử thì không phải như vậy. Trong sử học nguyên tắc tối thượng là tôn trọng sự thật, nhưng điều này thường bị vi phạm, bởi nó buộc sử học phải quỳ gối phục vụ cho mục đích chính trị mà có trường hợp dẫn đến xuyên tạc sự thật”

PGS.TS. Phạm Quốc Sử gọi sử học Việt Nam hiện nay là “sử học quốc doanh”, “sử học nhà nước’: “Sử học vinh quang thật nhưng lại rất dễ phạm phải những căn bệnh nặng, những lỗi không nhỏ. Tiếc thay sử học nước ta đã không tránh được một thứ “sử học nhà nước”, “sử học quốc doanh” (phân biệt với sử học chân chính) đang ngự trị”

PGS.TS.Phạm Quốc Sử cho rằng sử học và dạy học lịch sử ở Việt Nam đã bị tiêm chủng “vắc xin”: “Có người bảo ngành sử học các ông hoàn toàn chạy theo chính trị. Chủ yếu ca ngợi và lặp đi lặp lại nên rất nhàm. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Đúng bởi lẽ sách vở nhiều nhưng chất lượng sử học rất thấp. Song, thử hỏi, nếu anh bị buộc phải tiêm “vắc xin” anh có chống lại được không?”và “Từ rất sớm, sử học và dạy học lịch sử nước ta đã được tiêm những liều “vắc xin” khá nặng, khiến cho đối tượng bị tê cứng, hết sinh khí”[7].

Nhà giáo Hà Văn Thịnh trả lời với bà Mạc Việt Hồng: “Tôi nói thật với chị, lịch sử Việt Nam hiện đại chỉ có 30% sự thật, 70% giả dối. Đó là điều rất đau lòng. Ví dụ đánh nhau 30 năm với Pháp, Mỹ mà Việt Nam không thua trận nào là không thể chấp nhận được”[8]

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định việc dạy và học lịch sử hiện nay bị bóp méo: “Người ta đã biến một bộ môn khoa học trở thành một bộ môn chính trị để tuyên truyền, để minh họa cho đường lối chính sách của nhà nước chứ không phải cho một ngành khoa học. Vấn đề dạy và học lịch sử hiện nay đã bị bóp méo. Nó được xây dựng trên một nền tảng khoa học. Chính vì vậy nên thầy không muốn dạy mà trò thì không muốn học”[9].

Nhiều nhà giáo dạy môn lịch sử khi về hưu đã nói: Chúng tôi dạy theo sách! (sách ghi sao dạy y như vậy không cần biết đúng sai).

Trên đây là những phát ngôn nhận định về thực trạng nền sử học Việt Nam hiện nay của những người được giáo dục đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa, chứ không phải của những người được các thế lực thù địch nuôi dưỡng và đào tạo!

Bên dưới bài viết “Sự thật là xa xỉ phẩm mà ‘ta’ không muốn sắm” đăng trên facebook.com/tiengdanbao có bình luận của độc giả Duy Hung Tran: “Không tôn trọng lịch sử từ những việc bình thường đến những sự kiện trọng đại thì hậu quả là lòng tin bị mất. Từ sự kiện Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé rồi sự kiện xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập 30-4-1975 và viết bài cho Dương Văn Minh đầu hàng đọc trên đài Sài Gòn…đã gieo vào lòng người sự khó tin khác. Gorbachev nói đúng”.

Bình luận của độc giả Nguyễn Khuông đăng bên dưới bài viết “Nếu vào tay tôi” trên facebook.com/tiengdanbao: “Sự thật thì chỉ có một, nói dối, giả dối thì vô cùng. Kể cũng lạ, sự thật sờ sờ như thế mà hàng chục năm nay cùng hàng lố, hàng lốc cơ quan thanh tra nhà nước, quân đội…mà vẫn chưa có kết luận cuối cùng?! Không lẽ Phạm Xuân Thệ mang hàm Trung tướng cùng danh hiệu AHLLVT nên không dám làm ‘mất thể diện’???”

Kinh Thánh viết: “Ai trung tín trong việc nhỏ, sẽ trung tín trong việc lớn. Ai gian dối trong việc nhỏ, sẽ gian dối trong việc lớn”.

Ông bà ta nói: “Một sự thất tín vạn sự không tin”.

Chú thích:




[4] – Gs. Hà Văn Tấn, Lịch sử, sự thật và sử học(đăng trên Tạp chí Tổ quốc vào tháng giêng năm 1988. Được in lại trong tác phẩm: Một số vấn đề lý luận sử học, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2007)

[5] – Bài viết : Học sinh Việt Nam quá kém môn sử. Vì đâu? Của T/g Mặc Lâm


[6] – Bài viết: Điểm sử thấp có phải là thảm họa của T/g Hà Hiển đăng BBC Tiếng Việt 9:43 GMT Thứ hai 8/8/2011


[7] – xuandienhannom.blogspots.com/2015/11/mot-tieng-noi-trung-thuc-chinh-xac-manh.html


[9] – https://luongtamconggiao.worpress.com/2011/08/25/ho-chi-minh-khoc-vi-mon-su-hien-nay/

Diên Khánh – Khánh Hòa, 6/05/2021

Nguyễn Văn Nghệ

Sunday, May 16, 2021

TỔNG THỐNG TRẦN VĂN HƯƠNG MẪU NGƯỜI QUỐC GIA TIÊU BIỂU



VNTB – Tổng thống Trần Văn Hương mẫu người quốc gia tiêu biểu (*)

Nguyễn Quang Duy

(VNTB) – Ông Hương đã thực hiện lời hứa, từ chối lời mời di tản của người Mỹ và người Pháp, từ chối nhận “quyền công dân” dưới thể chế cộng sản, mất đi trong nghèo túng và bệnh hoạn.

Trong buổi lễ nhậm chức Tổng thống ngày 21/4/1975 ông Trần văn Hương đã hứa:

“Tôi xin hứa với anh em trong quân đội là ngày nào anh em còn chiến đấu, tôi luôn luôn đứng bên cạnh anh em và ngày nào, chẳng may, mà đất nước không còn nữa thì cái nắm xương khô của tôi sẽ nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em binh sĩ.”

Ông Hương đã thực hiện lời hứa, từ chối lời mời di tản của người Mỹ và người Pháp, từ chối nhận “quyền công dân” dưới thể chế cộng sản, mất đi trong nghèo túng và bệnh hoạn.

Nhân dịp 30/4 năm nay xin được ôn lại lịch sử của Tổng thống Trần văn Hương một người quốc gia suốt cuộc đời vì nước vì dân.

Thời thuộc địa

Ông Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại Vĩnh Long trong một gia đình nghèo nhờ học giỏi ông được ra Hà Nội học tiếp.

Ở Hà Nội ông Hương học cùng trường Cao đẳng Sư phạm, cùng thời với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học người sáng lập Việt Nam Quốc Dân đảng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.

Ông Hương không chọn con đường đấu tranh cách mạng mà tiếp tục con đường giáo dục khi tốt nghiệp ông về dạy môn văn chương và luận lý tại trường Collège Le Myre De Villers.

Trường này ông Hương cũng đã theo học và đã được thành lập từ năm 1879 là ngôi trường xưa nhất tại Việt Nam, năm 1953 được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu rất nổi tiếng nhờ đào tạo được nhiều nhân tài cho Việt Nam.

Bắt đầu tham chính

Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp rồi trao trả độc lập cho Việt Nam, Vua Bảo Đại cho thành lập Chính phủ Trần trọng Kim và bổ nhiệm ông Trần Văn Hương làm Đốc Học lo việc giáo dục tại tỉnh Tây Ninh.

Đến tháng 8/1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền, Vua Bảo Đại thoái vị, ông Hương tham gia Việt Minh và được giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh.

Đến năm 1946, ông Hương thấy Việt Minh quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu, ông về quê tuyên bố bất hợp tác với Việt Minh rồi lên Sài Gòn làm cho một tiệm thuốc Tây.

Năm 1953, ông Hương cùng ông Trần Văn Văn và một số nhân sĩ quốc gia thành lập đảng Phục Hưng, ông Hương được cử làm chủ tịch đảng.

Đấu tranh cho dân chủ

Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do.

Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle.

Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Ðình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu.

Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).

Dấn thân chính trị

Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, ông Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Đô trưởng Sài Gòn, nhưng chỉ vài tháng ông được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mời ra làm Thủ tướng.

Ông làm thủ tướng được 84 ngày thì Trung tướng Nguyễn Khánh lật đổ Chính phủ dân sự và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu bị truất phế.

Người con trai đầu của ông Hương tên là Trần Văn Dõi tự là Lưu Vĩnh Châu theo Việt Minh ra Bắc khi biết ông Hương làm Thủ tướng có viết một lá thư nhờ ông Ung Văn Khiêm là Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Bắc Việt trao cho ông Hương.

Ông Hương nhận thư, thảo luận với người con thứ tên là Trần Văn Ðính cả hai đồng ý chuyện quốc gia phải đặt trên chuyện gia đình, bởi thế ông đã từ chối không liên lạc với người con ở miền Bắc.

Năm 1967, ông Hương cùng ông Mai Thọ Truyền lập liên danh Người Gieo Mạ ra tranh cử Tổng thống nhưng chỉ được 10% phiếu cử tri ủng hộ đứng hàng thứ tư.

Cộng tác với ông Thiệu

Tháng 5/1968, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu mời ông Hương ra làm Thủ tướng nhưng cũng chỉ được 96 ngày thì ông xin từ chức cũng không cho biết lý do.

Việc ông Hương nhận lời ông Thiệu làm nhiều người ủng hộ ông thất vọng, vì trước đó liên danh Người Gieo Mạ đã cùng các liên danh thất cử khác họp báo tố cáo có gian lận bầu cử và yêu cầu Quốc Hội Lập Hiến hủy bỏ kết quả bầu cử để tổ chức một cuộc bầu cử khác.

Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế hỏi ông Hương vì sao ông đã nhận lời làm Thủ tướng được ông trả lời như sau:

“… Lúc đó chỉ có ông Thiệu là có khả năng chống cộng thật sự, lại nữa vụ Mậu Thân cho thấy Việt cộng đã mạnh lắm rồi, mà Hoà Kỳ thì lại có ý chủ hòa, ông Johnson thì ép mình phải đi hoà hội Paris… nên cần phải ủng hộ ông Thiệu.”

Giáo sư Thế nhận xét: ông Hương có lập trường chống cộng triệt để nhưng ông cũng là một người yêu nước chân chính để vì đại cuộc mà bỏ qua mâu thuẩn cá nhân.

Liên danh với ông Thiệu

Năm 1971, ông Hương đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và đắc cử chức vụ Phó tổng thống.

Ông Hương rất liêm chính nên những kẻ tham nhũng rất sợ ông, miền Trung bị lụt ông tới ngay để thăm dân và cứu trợ, trong chiến dịch Hạ Lào khi Hoa Kỳ thất hứa không trợ giúp không quân cho miền Nam ông họp báo chỉ trích Mỹ…

Báo chí đặt cho ông danh hiệu “Cụ Già Gân” còn dân chúng miền Nam trân quý kêu ông bằng “Cụ Hương” vì là văn viết nên tôi xin phép gọi bằng ông Hương.

Trong việc điều hành đất nước ông Hương rất gắn bó với ông Nguyễn văn Thiệu cho đến khi ông Thiệu từ chức dựa trên Hiến Pháp chính thức trao quyền Tổng thống cho ông.

Từ chức tổng thống…

Trong bài diễn văn trước Lưỡng Viện Quốc Hội ngày 26/4/1975, Tổng Thống Trần Văn Hương cho biết đã tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh để mời ông Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng, nhưng ông Minh không chịu mà đòi phải nhường cho ông Minh chức Tổng thống.

Ông trả lời ông Minh là không thể trao quyền cho ông ấy vì còn có Quốc Hội và phải tuân theo Hiến Pháp vì thế ông cho Quốc Hội biết để mọi người bàn tính và quyết định.

Ngay ngày hôm sau Quốc Hội họp, đồng ý sửa lại Hiến Pháp và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh để thương thuyết với phía cộng sản.

Sang ngày 28/4/1975, ông Hương chính thức từ chức và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh.

Từ chối di tản…

Ngày 29/4/1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin có đến nhà gặp ông Hương vừa để từ giã về nước, vừa để gởi lời Chính Phủ Hoa Kỳ mời ông Hương sang Mỹ lánh nạn, ông trả lời:

Thưa Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm, đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.

Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại sứ, nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi.

Tôi cũng dư biết cộng sản sẽ vào Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.

Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước.

Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.”

Trước đó, Tòa Đại Sứ Pháp cũng ngỏ lời sẵn sàng đưa ông rời khỏi Việt Nam để đi Pháp.

Nước mất nhà tan

Theo Hồi ký của bà Phan Cẩm Anh vào tối ngày 30/4/1975 hai vợ chồng cháu ông Hương là đại úy Phan Hữu Cương và trung úy Trần Mai Hương (là bạn thân của bà Phan Cẩm Anh) đã uống thuốc ngủ tuẩn tiết ngay tại nhà ông Hương.

Đại úy Phan Hữu Cương là cháu ruột kêu ông Hương bằng cậu và cũng là sĩ quan cận vệ cho ông Hương nên gia đình ở chung với ông Hương.

Họ để lại lời trăng trối: “…xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù…”, người nhà phát hiện nhưng chỉ cứu được người vợ.

Nghe tin buồn cháu tuẩn tiết ông Hương vào phòng đóng cửa im lặng, trầm mình trong nỗi đau của một người đã từng trên cương vị lãnh đạo đất nước, giờ đây bi phẩn chứng kiến cảnh quốc gia suy vong, gia đình tang chế, nỗi đau khổ của ông ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được ông hé môi thố lộ.

Từ chối “quyền công dân”

Theo hồi ký của Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế sau khi bỏ Việt Minh ông Hương lên Sài Gòn sống với gia đình bên vợ của ông Thế trong cả chục năm.

Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi ông Hương từ chức Thủ tướng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết ông không có nhà riêng nên tỏ ý muốn cấp cho ông một căn nhà.

Ông Hương chọn một căn biệt thự nhỏ và cũ nằm ở cuối con hẻm đường Phan Thanh Giản. Ông Thiệu muốn sửa lại căn nhà nhưng ông Hương không đồng ý vì không muốn tốn hao ngân sách quốc gia.

Ngày 28/4/1975 sau khi từ chức tổng thống, ông Hương dọn về ngôi nhà này, vách tường của ngôi nhà đã có nhiều chỗ nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ gạch vỡ tung lên, màu vôi đã trải qua nhiều năm tháng vàng uế không được trùng tu sơn quét.

Giáo sư Lâm Vĩnh Thế cho biết sau Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất Hai Miền Nam Bắc, nhà cầm quyền Hà Nội quyết định trao trả “quyền công dân” cho ông Hương tại ngôi nhà trước sự hiện diện của báo chí, các đài truyền thanh, truyền hình, nhằm tuyên truyền cho nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.

Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi một cán bộ cộng sản đọc “chính sách khoan hồng và rộng lượng” của nhà nước đối với những “thành phần” như ông Hương, ông trả lời:

Tôi xin phép từ chối, không nhận cái quyền công dân này vì dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo.

Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được thả và nhận lại quyền công dân.”

Những năm tháng cuối đời

Vì từ chối nhận “quyền công dân” ông Hương không được cấp hộ khẩu, không được cấp phiếu mua lương thực, mà còn bị quản thúc ba năm không được bước ra khỏi nhà.

Ông Hương phải sống đạm bạc, thiếu thốn, ốm đau và cũng như những người miền Nam khác để có thể sống qua ngày ông phải bán dần đồ vật trong nhà từ bộ áo vest cũ đến những đồ kỷ niệm.

Bà Trần Văn Văn và bạn bè từ Pháp gởi thuốc về giúp ông chữa trị, thuốc không dùng hết cũng được mang ra chợ trời thêm chút gạo bó rau cho gia đình.

Có lần ông Hương bị té xỉu phải đưa vào bịnh viện cấp cứu, khi tỉnh dậy thấy bịnh viện chỉ dành cho cán bộ cộng sản ông nhứt định đòi phải đưa ngay về nhà.

Bà Phan Cẩm Anh bạn thân của cháu gái ông Hương có chồng là bác sĩ mới ra trường, khi biết ông Hương bệnh nặng cần người chăm sóc, ông chồng bác sĩ đã tình nguyện thường xuyên đến tận nhà để chăm sóc cho ông.

Muốn nằm cạnh anh em binh sĩ

Tổng thống Trần văn Hương mất ngày 27/1/1982, gia đình nghèo đến độ không còn tiền mua hòm, người tài xế cũ của ông xin được phúng điếu chiếc quan tài, người chủ trại hòm ở Chợ Lớn, một người Việt gốc Hoa, nghe nói mua cho ông Tổng thống xin chỉ lấy nửa giá tiền của chiếc quan tài.

Ông Hương có ước nguyện được chôn trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa để được nằm bên anh em binh sĩ nhưng không được cộng sản chấp nhận, nên người nhà đã quyết định hỏa táng ông tro cốt được rải trong khu vực.

Hơn 40 năm qua người Việt quốc gia vẫn trân quý công ơn của ông, ở hải ngoại nhiều cộng đồng đến ngày ông mất đã cử hành lễ giỗ để tri ân một người đã một lòng một dạ xây dựng Việt Nam Cộng Hòa.

Người Việt quốc gia tiêu biểu

Ôn lại cuộc đời Tổng thống Trần Văn Hương làm tôi nhớ lại một định nghĩa được học giả Phạm Quỳnh viết trong bài “Đi tìm một chủ nghĩa Quốc Gia” xuất bản năm 1938:

Một người theo chủ nghĩa quốc gia là một người hết lòng gắn bó với đất nước và nòi giống mình, có một ý thức cao về tình đoàn kết quốc gia và truyền thống lịch sử; là một người yêu nước, nhưng yêu nước không chỉ bằng tình cảm mà còn bằng lý trí, một người muốn nâng mức độ yêu nước của mình lên thành một chủ thuyết đạo đức và chính trị.”

Ông Hương quả là một mẫu người tiêu biểu theo chủ nghĩa quốc gia, ở miền Nam có không ít những người như ông, nhưng dường như họ đã thất bại xây dựng được một chủ thuyết về đạo đức và chính trị chung cho cả nước, để cuối cùng bị chủ nghĩa (quốc tế) cộng sản xóa nhòa.

Thế kỷ thứ 21, người Việt lại phải đối đầu với chủ nghĩa (quốc tế) toàn cầu mà mục tiêu cũng là xóa bỏ văn hóa, đạo lý, truyền thống dân tộc và xóa nhòa mọi nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội và cả biên giới của mọi quốc gia.

Đã đến lúc người Việt cần tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, những thành công và thất bại của ông cha, để cùng nhau gìn giữ và phát triển những điều hay, lẽ phải, đồng thời bảo vệ được bờ cõi ông cha để lại.

Melbourne, Úc Đại Lợi

27/4/2021

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

Wednesday, April 28, 2021

NHỮNG TRẠI TÙ HỌC TẬP CẢI TẠO SAU NGÀY 30-4-1975

Trần Gia Phụng

         Hai mươi ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ, nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, tuyên bố trên đài truyền hình Paris rằng “Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ.” (Michel Tauriac, Hồ sơ đen Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Văn dịch, California: Văn Mới 2002, tr. 36.)  Alexandre Soljenitsyne (1918-2008) là nhà văn Nga chống chế độ Liên Xô, viết nhiều kịch và tiểu thuyết, nổi tiếng là Một ngày của Ivan Denisovich (1962), Quần đảo ngục tù (The Gulag Archipelago) (tập 1 và 2 năm 1974, tập 3 năm 1976).Alexandre Soljenitsyne tiên đoán như trên dựa theo kinh nghiệm bản thân tại quê hương ông là Liên Xô và những diễn tiến tại Đông Âu và Trung Cộng.

         Tại Nga năm 1917, sau khi cầm quyền, CS thiết lập chế độ tù cải tạo vào những năm 1918-1921 và hợp thức hóa bằng luật pháp năm 1933.  Tại Trung Cộng, chính sách “lao cải” (lao động cải tạo) được chính thức hóa ngày 26-8-1954 và hội đồng chính phủ chấp thuận thủ tục thi hành chính sách lao cải vào tháng 8-1957.  (Phạm Hữu Trác, “Tù cải tạo: Trình bày và phân tích dữ kiện”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do: Canada, 2000, tr. 19.)

        Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đại đa số công chức, quân nhân chính thể Quốc Gia Việt Nam di cư vào Nam Việt Nam (NVN).  Chỉ một số ít còn lại ở Bắc Việt Nam (BVN), liền bị chế độ cộng sản (CS) bắt giam, tù đày.  Chính sách cải tạo do quốc hội BVN chính thức quy định vào năm 1961 trong nghị quyết 49-NQTVQH và thông tư số 121-CP của hội đồng chính phủ đặt ra các biện pháp thi hành nghị quyết nầy.  (Phạm Hữu Trác, bài đã dẫn.)

       Năm 1975, trước khi tấn công Sài Gòn, Ban bí thư Trung ương đảng Lao Động từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: 

“Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể.  Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sĩ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội.  Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toà và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, Saigon – Boston – Los Angeles: Osin Book, 2012, Chương 2:  “Cải tạo”, mục “Ngụy quân’, tr. 39.)

         Sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền mới ở Nam Việt Nam (NVN) là Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam do đảng Lao Động tức đảng CS điều khiển, bắt giam tất cả những sĩ quan, công chức cao cấp của chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhằm các mục đích chính: 1) Triệt hạ vĩnh viễn quân đội và chính thể VNCH. 2) Giam giữ, bạo hành, trả thù, làm cho tù nhân sợ hãi, không dám chống đối chế độ mới. 3) Tiêu diệt tiềm lực VNCH, vì những người bị bắt học tập cải tạo ở độ tuổi trung niên để làm việc, sản xuất hay tranh đấu, có trình độ văn hóa trung bình cao so với trình độ văn hóa chung của toàn dân.  4) Bóc lột sức lao động của tù nhân, đưa đi canh tác những vùng đất bỏ hoang thời chiến tranh. 5)  Đe dọa, trấn áp những gia đình có thân nhân bị tù.  Nếu gia đình  chống đối, thì tù nhân khó được trở về đoàn tụ gia đình.  6) Làm gương cảnh cáo dân chúng NVN, nếu vọng động thì sẽ bị số phận học tập cải tạo dài hạn không xét xử, làm ai cũng khiếp sợ.

       Kế hoạch của CSVN nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân đội VNCH rất tinh vi, chia thành hai phần: 1) Thứ nhứt, vào giữa tháng 6-1975, CSVN ra lệnh cho hạ sĩ quan và công chức cấp thấp VNCH học tập tại chỗ các khóa chính trị tử đến 7 hay 10 ngày tùy địa phương.  2) Thứ hai, CSVN ra lệnh sĩ quan VNCH từ cấp thiếu úy trở lên và công chức cao cấp VNCH phải trình diện từ 13-6 đến 16-6-1975 và chuẩn bị lương thực 30 ngày, để học tập chính sách của “chính phủ cách mạng” trong một tháng. (Bác sĩ Trần Vỹ, “Đời sống trong trại giam ở miền Bắc”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, sđd. tt. 239-250.)

          Khi đại đa số sĩ quan, công chức VNCH trình diện, thì tất cả bị đưa đi giam trong các trại tù mà CS gọi là trại học tập cải tạo trên các vùng rừng thiêng nước độc, không tuyên án và không thời hạn.  Nếu bỏ trốn, không trình diện mà bị CS bắt, sẽ bị án phạt nặng nề.  Sau những tuyên truyền huyễn hoặc thời chiến tranh trước năm 1975, đây là cuộc lừa phỉnh công khai vĩ đại của CSVN sau năm 1975 tại NVN, ghi đậm thành tích lừa dối phỉnh gạt của CSVN.

         Người tù phải học tập chính sách của nhà nước CS, chủ nghĩa Mác-Lê, phải lao động từ sáng đến tối, dọn mìn, phá rừng, sản xuất, trồng trọt, làm gạch ngói, dựng nhà …  Người tù đau ốm không thuốc thang, ăn uống thiếu thốn, đói quanh năm, khẩu phần rất thấp, so với khẩu phần của một tù nhân CS dưới chế độ VNCH.  (Bác sĩ Trần Vỹ, bài đã dân.)

        Theo bộ Encyclopedia of the Vietnam War, sau năm 1975, số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người trên tổng dân số NVN lúc đó khoảng 20 triệu người.  Tất cả bị giam tại trên 150 trại giam; theo đó khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu; 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm; 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political,  Social, and Military History, Vol. two, Santa Barbara, California: 1998, tr. 602.  Sách trích tài liệu của Sagan, Ginette and Stephen Denney, Violations of Human Rights in the Socialist Republic of Vietnam, Palo Alto, California: Aurora Foundation, 1983.) 

         Trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.)  Cộng sản hứa hẹn sẽ thả ra khỏi tù những ai học tập cải tạo tốt, nhưng không có tiêu chuẩn xác định thế nào là cải tạo tốt, nên chẳng ai hiểu thế nào là học tập cải tạo tốt để được thả ra.  Và cứ thế, CS tùy thích giam cầm quân nhân, công chức VNCH không thời hạn theo sáng kiến của CS.

KẾT LUẬN

         Đúng như văn hào Nga Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, tiên đoán trước ngày 30-4-1975, “Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ.”

        Chuyện sĩ quan, công chức cao cấp Việt Nam Cộng Hòa bị bắt giam, bị đày đọa trong các trại tù học tập cải tạo dưới chế độ CS sau năm 1975 là chuyện dài bất tận, vì đàng sau các sự kiện và số liệu trên đây, là nỗi đau khổ triền miên trong gia đình những tù nhân là những chiến sĩ đã tranh đấu cho sự sống còn của chính chúng ta, cho nền tự do dân chủ chẳng những miền NVN mà cho cả toàn quốc nữa..

        Cuối cùng, để kết luận, xin được phép nhắc lại lời cuối trong bản nhạc “Cơn mê chiều” của nhạc sĩ Nguyễn Minh Khôi về biến cố Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế, qua cách trình bày tha thiết của nữ ca sĩ Thái Thanh, “Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên….” 

        Vâng, xin đừng bao giờ quên những đau thương cùng cực của những chiến sĩ VNCH; đừng bao giờ quên lý tưởng tự do dân chủ cao cả mà những chiến sĩ VNCH đã tận tình bảo vệ. Và cũng đừng bao giờ quên tội lỗi của CSVN, một chế độ “tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tân Thủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài.  Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ.  Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền…” (Trần Độ, Nhật ký rồng rắn, trích đăng trên Việt Báo Online (vietbao.com) số 3489 ngày 21-10-2004.)  (Nguồn: Chiến tranh 1954-1975, sẽ xuất bản.)

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, tháng 4-2021)

Nguồn : https://www.baocalitoday.com/viet-nam/nhung-trai-tu-hoc-tap-cai-tao-sau-ngay-30-4-1975.html