Wednesday, April 24, 2019


CHIỀU TRÊN PHỐ BOLSA Ở CALIFORNIA



Babui (Danlambao)

Chiều Bolsa, đi ngang qua khu Phước-Lộc-Thọ
Nghe vang lên bài hát Chiều Tây Đô của Nhạc Sĩ Lam Phương
"Gió ra khơi đưa người vượt biển"…
Mới đó mà đã 44 năm ròng rã
Mới ngày nào tóc vẫn còn xanh, mà nay đã muối tiêu, muối ớt
Nghe cay nồng nỗi nhớ niềm đau
Nhớ Vũ đình Trường của quân trường Thủ Đức
Nhớ bãi Nhà Sập, nhớ đồi Tăng Nhơn Phú
Nhớ nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà
Nhớ tượng Thương Tiếc của một thuở VNCH
Tự nhiên nước mắt lăn dài trên má


Chiều Bolsa, đi ngang qua khu Phước-Lộc-Thọ
Lại vang lên bài hát Chiều Tây Đô
"Bao năm giải phóng như thế này phải không anh?" …
Nghe đâu 3 ông Phước-Lộc-Thọ đã qua đời
Phố Bolsa chiều nay sao vắng vẻ lạ thường
Lại sắp đến ngày 30 tháng 4 đen một lần nữa!



Babui

Tuesday, March 19, 2019

MỘT LẦN CHÀO CUỐI CÙNG CỦA ĐỜI QUÂN NGŨ

 
8 giờ sáng ngày 28 Tháng Ba, 1975, tiểu đoàn tôi được lệnh rút về tuyến “vàng” phòng thủ, giữ phía Tây Nam của bộ tư lệnh Quân Ðoàn I và bảo vệ một pháo đội 105 ly của Sư Ðoàn 3. Mở bản đồ thì biết đó là trục lộ 14 C từ quân Ðiện Bàn đi Ðại Lộc, Thượng Ðức
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, người Việt tản mát trên khắp thế giới để tỵ nạn cộng sản. Trên sách vở, báo chí, hồi ký, bút ký, trên đài truyền thanh, truyền hình, trong các đại nhạc hội, những lúc hội họp các đoàn thể chính trị hay các tổ chức khác, trong những lúc ngồi nói chuyện quá khứ với nhau, đôi lúc cũng nhắc đến những cái chết của những vị tướng lãnh hay các sĩ quan cao cấp khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cái chết đó phải được vinh danh một cách trang trọng xứng đáng, phải được ghi vào lịch sử để con cháu chúng ta sau này biết đến sự tuẫn tiết của cha, anh họ.
Với tinh thần đó, tôi muốn viết lên sự tuẫn tiết của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con ngày 29 Tháng Ba, 1975 tại Ðà Nẵng.
***
8 giờ sáng ngày 28 Tháng Ba, 1975, tiểu đoàn tôi được lệnh rút về tuyến “vàng” phòng thủ, giữ phía Tây Nam của bộ tư lệnh Quân Ðoàn I và bảo vệ một pháo đội 105 ly của Sư Ðoàn 3. Mở bản đồ thì biết đó là trục lộ 14 C từ quân Ðiện Bàn đi Ðại Lộc, Thượng Ðức thuộc tỉnh Quảng Nam. Tiểu đoàn chịu trách nhiệm từ tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km). Tiểu đoàn di chuyển đến địa điểm lúc 10 giờ sáng, đã thấy vài khẩu đại bác 105 ly đã có sẵn ở các ruộng khô các tỉnh lộ 14 C khoảng 50 km.
Sau khi liên lạc với vị pháo đội trưởng để bàn hoạch phương thức bảo vệ pháo đội, tôi ra lệnh, giao nhiệm vụ, chỉ định vị trí cho từng đại đội, ban chỉ huy của tiểu đoàn ở gần pháo đội. Khoảng 12 giờ trưa hôm đó, vị đại úy pháo đội trưởng báo cho tôi biết là họ được lịnh rút lui sau. Tôi không thắc mắc vì pháo binh luôn luôn ở sau để yểm trợ. Tuy nhiên, tôi ra lệnh cho đại úy trưởng ban 3 của tôi gọi về tiểu khu hỏi xem chúng tôi có theo họ để bảo vệ súng không?

2 giờ 30 chiều hôm đó, sĩ quan ban 3 của tôi báo cho tôi biết là ban chỉ huy tiểu khu đã thông báo là dời về Non Nước. Lúc này, tôi có phần bi quan vì theo dõi tin tức qua máy trên các tần số của các đơn vị ở Vùng I mà chúng tôi có trong đặc lệnh truyền tin.
4 giờ chiều, tôi hoàn toàn không liên lạc được với Liên Ðoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành chỉ huy mà tiểu đoàn tôi trực thuộc. Tiểu khu cũng biệt vô âm tín. Tôi gọi về trung tâm hành quân của Quân Ðoàn I cũng như của Sư Ðoàn 3, họ quá bận rộn với nhiều đơn vị nên khó chen vào được.
Tôi mời các đại đội trưởng và sĩ quan tham mưu đến cho biết tình hình và bàn kế hoạch. Bây giờ tôi không còn ai chỉ huy nữa nên tôi quyết định rút tiểu đoàn về Hội An để vào tiểu khu xem sự việc đồng thời đó là con đường tương đối an toàn và gần nhất để ra Ðà Nẵng.
Ðơn vị ra đến quốc lộ 1 thì dân, lính họ chạy về Ðà Nẵng quá sức tưởng tượng. Họ đang chạy giặc. Tình hình quá bi đát, một thoáng suy nghĩ trong đầu, tôi ra lệnh tất cả dừng lại ở trong làng cách quốc lộ khoảng 100 mét, chờ lệnh tôi vì tôi sợ lính ra đây thấy cảnh đó thì bỏ đơn vị về lo cho gia đình.
Tôi tiến sát quốc lộ 1 để xem tình hình thì gặp Trung Tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng Ðức Dục. Ông ta cho biết tất cả các chi khu của Quảng Nam đều bỏ cả rồi, tiểu khu thì về Ðà Nẵng không liên lạc được. Ông ta còn cho biết thêm là Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh Sư Ðoàn 3, vừa cho lệnh ông là thuộc Ðại Tá Vũ Ngọc Hướng, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 2 thuộc Sư Ðoàn 3. Ðại Tá Hướng chỉ huy luôn các tiểu đoàn của Tiểu Khu Quảng Nam nữa. Trung Tá Lạc chỉ còn một người mang máy truyền tin, một người lính bảo vệ thôi.
Tôi đang đứng với Trung Tá Lạc thì một chiếc chiến xa M-48 từ trong đi ra thấy có Ðại Tá Hướng ngồi trên pháo tháp. Ông ta thấy tôi liền cho xe dừng lại (tôi là thuộc quyền của ông lúc ông ta còn là tiểu khu phó Quảng Nam) và hỏi tôi:
- Tiểu đoàn của mày đâu mà mày đứng đây?
Tôi trả lời:
- Tiểu đoàn tôi còn nằm trong làng này, đại tá.
Tay tôi chỉ vào trong làng gần đó.
- Có còn đủ không?
- Còn tương đối nguyên. Chưa đụng trận nào lớn cả mà, chỉ gặp du kích thôi. Bảo đảm đại tá. Chắc đại tá biết tiểu đoàn này rồi mà (tiểu đoàn này 2/3 là lính Biệt Kích Tây Hổ hoàn toàn Quốc Dân Ðảng chống Cộng thứ thiệt mà Ðại Tá Hướng biết lúc ông ta là tiểu khu phó ở đây).
- Tao hiểu. Mày đã nhận lệnh của thiếu tướng chưa? (ý ông nói là Th/Tg Hinh, tư lệnh SÐ3)
- Tôi chưa nhận lệnh trực tiếp của thiếu tướng nhưng đã nghe Trung Tá Lạc nói rồi.
- Tốt. Bây giờ ban chỉ huy tiểu khu không còn ai nữa, mày trực thuộc trung đoàn tao. Mày có tần số của tao chưa?
- Có đầy đủ ở đặc lệnh truyền tin rồi, đại tá. Bây giờ đại tá cho lệnh thế nào?
- Theo lệnh thiếu tướng, mày cho tao tiểu đoàn về Hội An phòng thủ với trung đoàn. Ðến nơi, mày vào gặp tao tại ban chỉ huy tiểu khu để nhận lệnh chi tiết.
Tôi từ giã Ðại Tá Hướng trở lui tiểu đoàn trình bày cuộc nói chuyện và lệnh của Ðại Tá Hướng cũng như Trung Tá Lạc cho các sĩ quan nghe. Sau một hồi thảo luận, cuối cùng tôi nói: “Bây giờ chúng ta về Hội An như ý định của chúng ta đã nói. Trên vấn đề quân sự, chúng ta đặt dưới quyền của Ðại Tá Hướng, nếu hữu sự, chúng ta có lực lượng quân sự cùng chiến đấu. Về đó tùy tình hình ta xử trí sau. Tại Hội An, chúng ta có các điểm lợi sau:
1. Về địa thế chúng ta rõ như trong bàn tay.
2. Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung Tâm Tiếp Vận Quảng Nam của tiểu khu chúng ta. Chúng ta sẽ sử dụng nếu chiến đấu nhiều ngày.
3. Nếu, có lính chết hay bị thương thì bệnh viện Hội An có phương tiện cấp cứu, có bác sĩ Trung Ðoàn 2 và y tá.
4. Liên tỉnh lộ 13 C từ Ðà Nẵng đi Hội An tương đối an toàn để chúng ta về Ðà Nẵng.
Tôi đã trình bày những điểm lợi hại cho các sĩ quan rõ, tôi nói tiếp: “Nếu phải bỏ Ðà Nẵng như ở Huế và Vùng II thì tôi sẽ vào trình diện quân đoàn để được giúp đỡ vì tiểu đoàn mình còn nguyên chưa bị tổn thất thì thế nào quân đoàn cũng lo cho mình vào Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Nếu tận cùng mình dùng quân số đông để áp đảo hải quân, yêu cầu được chở vào Nam chiến đấu.”
Bây giờ đã 6 giờ chiều, mặc dù còn ánh nắng mặt trời, dân chúng cũng như binh sĩ chạy về Ðà Nẵng quá nhiều nên di chuyển đơn vị lớn như thế rất khó khăn, dễ bị thất lạc. Tôi ra lệnh cho các đại đội trưởng, trung đội trưởng phải bám sát binh sĩ của mình đừng cho thất lạc. Nếu thất lạc, họ phải đến điểm tập trung là Ty Công Chánh Hội An. Ðó là điểm tập trung của tiểu đoàn, đừng vào tiểu khu. Tôi căn dặn rất kỹ các đại đội phải ban hành lệnh đến từng người lính để nắm rõ điểm tập họp.
6 giờ 30, tiểu đoàn bắt đầu hướng về Hội An. Lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh, Tiểu Khu Quảng Ngãi, Quảng Tín kéo về như kiến cỏ. Họ không còn người chỉ huy nên hoàn toàn vô trật tự, vô kỷ luật, chỉ cần một hành động vô ý thức làm chạm tự ái, họ có thể bắn mình một cách dễ dàng.
Tôi đến được Hội An lúc 12 giờ đêm. Tại điểm tập trung, hai đại đội đầu đã có mặt. Tôi ra lệnh phòng thủ và đợi tiểu đoàn đến cho đầy đủ. Tôi vào tiểu khu để gặp Ðại Tá Hướng nhận lệnh.
12 giờ 30, tiểu đoàn đã đến đầy đủ. Ðại úy ban 3 tiểu đoàn cho tôi biết quân số lúc đó là 470 người. Các sĩ quan có đủ, có 20 thường dân là thân nhân của các quân nhân của tiểu đoàn theo họ (họ hy vọng nếu có thể vào Sài Gòn thì họ cùng tiểu đoàn vào Nam được dễ dàng hơn) vì lúc ở Ðiện Bàn, các gia đình này ở đó nên họ biết có tiểu đoàn về nên đem theo luôn.
Có 50 quân nhân các đơn vị khác thuộc Tiểu Khu Quảng Nam đã thất lạc đơn vị nay muốn theo chúng tôi. Tôi nói với 50 quân nhân này, tôi chấp thuận cho họ ở với tiểu đoàn với điều kiện phải tuyệt đối tuân hành lệnh của các sĩ quan tiểu đoàn, nếu bất tuân, tôi ra lệnh bắn bỏ, nhất là lúc đụng trận. Tôi sẽ cho họ về đơn vị gốc khi tôi gặp đơn vị đó. Tất cả họ đồng ý và tôi phân chia cho các đại đội tác chiến ngay.
Riêng 20 thường dân (trong số này, tôi đã biết họ vì trước đây tôi có đến nhà họ lúc thuận tiện), tôi ra lệnh Trung Sĩ I Thoảng chịu trách nhiệm vì trung sĩ là hạ sĩ quan Ban 5 của tiểu đoàn (trung úy trưởng ban 5 vắng). Ðồng thời tôi giới thiệu T/S I Thoảng cho họ biết và nói: “Bà con là thân nhân của quân nhân các cấp trong tiểu đoàn tôi. Tôi có nhiệm vụ bảo vệ bà con cũng như bảo vệ lính tôi vậy. Nếu đụng trận, bà con nghe lệnh của T/S I Thoảng để được an toàn, đừng chạy lộn xộn mà chết. Tiểu đoàn đến đâu, tôi đem bà con theo đó.” Họ hiểu ý tôi nên rất hoan hỉ.
Thành phố Hội An bây giờ trống vắng, 99% đều bỏ ra Ðà Nẵng lánh nạn. Tiểu đoàn rời Ty Công Chánh Quảng Nam để đến vị trí phòng thủ theo lệnh Ðại Tá Hướng. Ðó là hướng Bắc Hội An trên đường ra Ðà Nẵng. Trước khi đi, tôi còn để lại một tiểu đội, một máy truyền tin do một trung sĩ của ban 2 chỉ huy để đón nhận những người đến muộn.
Tại vị trí phòng thủ mới, tôi quá mỏi mệt, tinh thần căng thẳng. Tôi đang ngồi suy nghĩ thì Minh (Hạ Sĩ I Minh là người lo công việc hàng ngày cũng như ăn uống cho tôi mà trong quân đội gọi là tà-lọt) bưng đến một tô cháo cùng một ly cà phê sữa đang nóng và nói:
- Mấy ngày nay thiếu tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước không, lo suy nghĩ nhiều, em thấy thiếu tá ốm đó nghen. Thiếu tá ăn tô cháu hầm bồ câu và uống ly cà phê để có sức đánh giặc chứ.
Tôi đang lo lắng, định bảo dẹp đi, nhưng thấy thuộc cấp của mình thương mình, lo cho mình như thế nên không đành và nói:
- Mấy ông kia ăn chưa? Bồ câu đâu mày có?
- Thưa thiếu tá, lúc nãy ở ty công chánh có chuồng bồ câu có lẽ là của ông trưởng ty đã bỏ đi rồi, nên em bắt 4 con. Em biết Ðại Bàng (danh xưng của tôi ở đặc lệnh truyền tin) sẽ rầy, nhưng giờ này có khỏe mới giết được Việt Cộng chứ Ðại Bàng.
- Thôi được, để đó, đừng mắc võng nữa nghe.
Từ sáng đến giờ, tôi chỉ uống nước, không ăn gì ngoài một tô mì gói có đập vào hai hột gà cũng do Hạ Sĩ I Minh làm mà thôi. Cảm thấy đói, hớp mấy miếng cà phê, ăn được gần nửa tô cháo thì nghe tiếng trực thăng. Tôi nhìn ra thì thấy từ hướng Quân Ðoàn I có hai chiếc máy bay bay khá cao. Tôi bảo trung úy sĩ quan truyền tin mở máy qua tần số quân đoàn liên lạc xem sao. Không liên lạc được, mặc dù anh đã có tất cả đặc lệnh truyền tin trong tay, đã liên lạc nhiều tần số và nhiều giới chức có thể đi bằng máy bay, nhưng vô hiệu.
Tôi biết chắc đó là máy bay quân đoàn, nhưng không biết giới chức nào mà thôi. Lúc này, tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi ra lệnh đại úy trưởng ban 3 gọi các đại đội trưởng về họp, đồng thời thu hồi tiểu đội ở ty công chánh trở về tiểu đoàn. Tôi còn ra lệnh cho Ðại Úy Hà Thúc Thuyên đi với một máy, vài lính bảo vệ đến ban chỉ huy tiểu khu xem Ðại Tá Hướng thế nào mà không liên lạc được.
Bây giờ là 2 giờ sáng ngày 29 Tháng Ba, 1975. Ðại Úy Thuyên báo Trung Ðoàn 2 đã âm thầm ra hướng biển để về Ðà Nẵng. Tiểu đội ở Ty Công Chánh đã đến tiểu đoàn mang theo 9 người lính đến muộn. Tôi cho về lại hai đại đội của họ cả. Như thế, giờ này tiểu đoàn có 479 quân nhân tham chiến chưa kể 50 quân nhân các đơn vị khác đi theo.
Sau một hồi bàn thảo của sĩ quan tham mưu và các đại đội trưởng, tất cả quyết định rút về Ðà Nẵng, vào trình diện quân đoàn. Tôi hoàn toàn đồng ý và trình bày: “Bây giờ còn sớm, chưa được 3 giờ, chúng ta đến chùa Non Nước sẽ gặp đơn vị phòng thủ quân đoàn ở đó. Trời chưa sáng, họ không nhận diện được ta có thể ngộ nhận và bắn lầm. Tôi quyết định 4 giờ sáng chúng ta xuất phát theo đội hình Ðại Ðội 1 đi đầu, Ðại Ðội 3 bên trái, Ðại Ðội 4 bên phải; Ðại Úy Thuyên, tiểu đoàn phó, đi với đại đội này vì có Trung Ðoàn 2 đi ra biển, nếu gặp tiện việc liên lạc hàng ngang tránh ngộ nhận; Ðại Ðội 2 đi sau, ban chỉ huy tiểu đoàn đi giữa, gia đình đi sau ban chỉ huy tiểu đoàn. Trên đường đi, nếu chạm địch, chúng ta phải yểm trợ nhau đưa nhau về Ðà Nẵng. Tất cả, nếu không ai có ý kiến gì khác thì về đơn vị chuẩn bị lên đường khi có lệnh”.
Ðúng 4 giờ sáng ngày 29 Tháng Ba, 1975, tiểu đoàn bắt đầu di chuyển thứ tự theo lệnh như đã phân nhiệm. Trên đường đi, chúng tôi không gặp một sự kháng cự nào, chỉ gặp vài du kích bắn lẻ tẻ, vô sự, các đại đội phản ứng nhưng vẫn tiến quân. Gần 9 giờ sáng, đại đội đầu do Trung Úy Thành chỉ huy báo cáo là đã đến Non Nước, gặp đơn vị bạn, đã nhận diện và nói chuyện với nhau. Trung Úy Thành nói là đã gặp một đại úy thủy quân lục chiến đang ngồi trên chiến xa nói là họ được lệnh không cho một quân nhân nào vào Ðà Nẵng mà mang súng, muốn vào phải bỏ súng ở đây. Tôi nghe ngạc nhiên. Lính mà không cho mang súng thì đánh giặc bằng gì, ôm mà cắn hả, lệnh gì kỳ cục vậy!
Tôi nói cho Trung Úy Thành ra lệnh cho binh sĩ đứng tại chỗ, cấm phản ứng để tôi lên tiếp xúc. Tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý là các đại đội thu hẹp gần tiểu đoàn, bố trí tại chỗ chờ lệnh và nói chuyện Ðại Úy Thuyên đến gặp tôi. Trên con đường đến gặp đại úy thủy quân lục chiến, tôi suy nghĩ: Tình hình an ninh Ðà Nẵng rất xấu, đã có Việt Cộng cải trang thành lính xâm nhập rồi, nên mới có lệnh đó.
Tôi gặp vị đại úy thủy quân lục chiến và trình bày sự việc để xin được vào Ðà Nẵng. Ông ta dứt khoát và bảo đó là lệnh, không thể sai được. Tôi cũng biết lệnh của quân đội, tôi nói tình lý cho đại úy thủy quân lục chiến và gần như năn nỉ. Ông ta mềm lòng và nói để hỏi lại cấp trên.
Tôi tìm hiểu Thiếu Tá Ðịnh là cấp trên của ông ta vì Thiếu Tá Tá Ðịnh học chung một khóa Bộ Binh Cao Cấp với tôi năm 1973, ngủ chung một phòng, cũng người Huế nên chúng tôi cũng thân nhau. Tôi cũng nói cho ông ta biết là tôi cũng bạn thân với Thiếu Tá Ðịnh, tiểu đoàn trưởng thủy quân lục chiến. Vị đại úy này xác nhận Thiếu Tá Ðịnh là tiểu đoàn trưởng của ông ta (điều này tôi đã biết, nhưng giả như không biết để khỏi chạm tự ái). Ông ta nói chuyện với Thiếu Tá Ðịnh, sau đó trao máy cho tôi để nói chuyện.
Thiếu Tá Ðịnh cho tôi biết quân đoàn đã đi hết, đã bỏ ngõ, thủy quân lục chiến cũng đang tự tìm cách về Sài Gòn, chưa biết tính sao đây. Thế là hết! Tôi trả máy lại cho đại úy thủy quân lục chiến.
Tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý gọi tất cả sĩ quan đến gặp tôi. Bây giờ là 9 giờ 30 sáng ngày 29 Tháng Ba, 1975 tại chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Vị đại úy thủy quân lục chiến cũng báo cho tôi biết là tôi được tự do vào Ðà Nẵng. Tôi chỉ nói cám ơn. Chiến xa nổ máy quay đầu chạy lui về Ðà Nẵng có tùng thiết thủy quân lục chiến theo. Thiếu Tá Ðịnh thủy quân lục chiến cũng cho tôi biết không còn phương tiện vào Sài Gòn nữa, chính đơn vị ông ta cũng phải tự lo liệu lấy. Không ai chỉ huy nữa. Hải quân ở Tiên Sa cũng nhổ neo hết rồi.
Tất cả sĩ quan đã có mặt. Tôi trình bày tình hình quân đoàn, hải quân do Thiếu Tá Ðịnh cho biết và chính ông ta cũng không biết phải xử trí như thế nào. Tôi nói:
- Tôi đã cùng quân nhân các cấp trong tiểu đoàn chiến đấu bên nhau bấy lâu nay, nhất là sau Tết cho đến bây giờ, tình hình chiến sự sôi động, gian lao khổ cực cùng anh em. Tôi đã đoán được tình hình, cố gắng đưa tiểu đoàn về đây để được cùng nhau vào Sài Gòn tiếp tục chiến đấu. Nhưng bây giờ, sự việc xảy ra ngoài ý muốn của chúng ta, tôi rất đau khổ về sự việc này.
Tôi cũng kể về sự tiếp xúc của tôi và Thiếu Tá Ðịnh thủy quân lục chiến, sự suy luận của tôi, sự hiểu biết về tình hình của tôi cho tất cả nghe, và tôi nói tiếp:
- Không nên tập trung cả đại đội, sợ bị tấn công bất thường, chỉ từng trung đội, giải thích cho họ hiểu, thông cả tìm cách vào Sài Gòn hoặc về gia đình tùy ý. Quyền chỉ huy bây giờ tuy nghi các anh lo liệu. Nếu ai về nhà thì vũ khí nên phá hủy đừng để vào tay Việt Cộng. Các bạn tự do thi hành theo ý mình, điều cần nhất là phải an ủi, giải thích cho lính hiểu tâm trạng của chúng ta bây giờ.
Có nhiều người lưỡng lự chưa muốn đi. Lúc này, tôi như cái xác không hồn, ngồi xuống đất, dựa vào cổng trụ cửa ngõ của một nhà bên đường xem phản ứng của quân nhân các cấp của tiểu đoàn như thế nào. Các sĩ quan đã đến chia xẻ sự đau khổ của tôi, mỗi người một ý.
10 giờ 30 sáng ngày 29 Tháng Ba, 1975, tôi vẫn ngồi yên tại chỗ. Trung đội tình báo của ban 2 vẫn đứng quanh tôi để bảo vệ như những lúc hành quân.
Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng đến đứng trước mặt tôi nghiêm đưa tay chào một cách trịnh trọng rồ nói: ”Chắc em không vào Sài Gòn đâu thiếu tá. Cả quân đoàn không một trận đánh nào mà đã bỏ đi cả, em thấy chán quá rồi! Em chúc thiếu tá nhiều may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.”
Cái xác không hồn của tôi vẫn ngồi dựa vào trụ vôi, không chào lại, không bắt tay từ giã, nói:
- Tao bây giờ không biết tính sao, tao cố gắng đưa đơn vị về tới đây để cùng vào Nam song không ngờ như thế này, tao rất thương anh em nhưng bây giờ ngoài tầm tay tao rồi.
Vợ Trung Sĩ I Thoảng và hai con, một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi, cùng đi với tiểu đoàn từ hôm qua. Chị ta bước tới trước mặt tôi và nói: “Em chúc thiếu tá lên đường bình an, vào cho được Sài Gòn nghe thiếu tá. Chứ Việt Cộng, đến cỡ thiếu tá, nó giết chứ không tha đâu.”
Tôi đứng dậy xoa đầu hai đứa nhỏ đang đứng bên mẹ, có lẻ đó là phản ứng lịch sự đối với đàn bà chứ tôi có đến nhà chị ta mấy lần rồi nên cũng thường thôi. Tôi nói:
- Tôi cũng không biết có đi được không, đến đâu hay đó. Thoảng (Trung Sĩ I Thoảng thua tôi khoảng 5 tuổi) thì chắc nó không giết đâu vì nó cấp bậc nhỏ mà nó là chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
- Cám ơn thiếu tá. Chúc thiếu tá thượng lộ bình an.
Thoảng tiến lên một bước, đưa tay chào tôi lần nữa. Tôi cũng không chào lại, đưa tay bắt và nói:
- Thôi mày về đi, tùy tình hình địa phương mà sống chắc không can gì đâu.
Anh ta đến chào Ðại Úy Hà Thúc Thuyên, tiểu đoàn phó, các đại úy trưởng ban 2 và ban 3 tiểu đoàn rồi từ giã ra đi. Ðến lúc này chỉ còn những sĩ quan đó và khoảng 20 lính của trung đội tình báo mà thôi. Còn tôi lại ngồi xuống đất dựa vào trụ vôi. Ðại Úy Thuyên đến nói: “Thôi mình cứ về Ðà Nẵng rồi hãy tính”.
Tôi đang chán nản chưa có quyết định nào dứt khoát thì bỗng nghe tiếng nổ lớn phía sau nhà tôi đang ngồi. Lính tôi ngồi xuống trong thế sẵn sàng tác chiến. Tôi nói: “Minh, mày ra xem cái gì đó”. Minh đi với hai người lính nữa, sau hơn 5 phút chạy lui, trả lời: “Thiếu Tá ơi! Ông Trung Sĩ Thoảng tự tử bằng lựu đạn với vợ con ông ta rồi!”
Tôi quá bàng hoàng và xúc động, tự nhiên bật khóc. Tôi đã đứng trước hàng trăm cái chết, sự rên la đau đớn, sự nhắn gửi trối trăn của thuộc cấp sắp chết mặc dù tôi rất xúc động, tôi cũng có trái tim biết đau khổ nhưng tôi tự kềm chế không bao giờ khóc, nhiều lắm là đỏ con mắt. Tôi cố gắng kềm chế không để cho thuộc cấp biết sự mềm yếu về tình cảm của tôi. Thế mà hôm nay không hiểu sao tôi lại bậc khóc, có lẽ đây là lần khóc đầu tiên và cũng là lần khóc cuối cùng trong 13 năm quân ngũ của tôi đối với thuộc cấp. Tôi nói:
- Nó chết ở đâu?
- Ổng chết ở nhà kia.
Theo tay chỉ của Minh thì sau căn nhà đang đứng cách một cái nữa. Tôi đi theo Minh, 6 người lính bảo vệ tôi cũng đi theo. Căn nhà tôn nhỏ xây vách chung quanh. Một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt tôi. Bốn thi thể không toàn vẹn, một xách áo quần, mền còn bỏ lại trong một góc của căn nhà, máu đang chảy, da thịt tung tóe dính cả vào tường.
Tôi không nói gì, quan sát và đứng nghiêm chào vĩnh biệt 4 anh hùng rồi ra đi. Các binh sĩ theo tôi cũng bắt chước chào rồi đi ra đường. Người lính đi theo sau tôi nói:
- Ông Thoảng và vợ ông là đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Ðảng đó thiếu tá.
Bây giờ là 12 giờ ngày 29 Tháng Ba, 1975.
Một trung sĩ cấp bậc quá nhỏ so với tôi. Một thuộc cấp mà trước đây tôi đã từng có lúc gọi bằng “thằng”, một phần vì anh ta nhỏ tuổi hơn tôi, phần khác vì gọi thế cho thân mật, có những lỗi lầm mà tôi đã rầy la đôi khi còn nặng lời nữa, thế mà hôm nay tôi phải gọi là ông. Ông Thoảng với lòng tôn kính vì đây là một vị anh hùng hơn tôi rất nhiều, ít nhất là lòng can đảm, sự thể hiện bất khuất không thể sống chung với Cộng Sản.
Hôm nay, tôi viết để vinh danh một quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho con cháu sau này biết đến.
Xin nghiêng mình tôn vinh một vị anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hai giờ chiều ngày 29 Tháng Ba, 1975, Việt Cộng đã treo cờ ở Tòa Thị Chính Ðà Nẵng.
Trương Quang Chung
(Khóa 11 – Thủ Ðức)

Sunday, February 17, 2019

SỐ PHẬN CỦA MỘT CA KHÚC

Huy Phương




Ca khúc mà tôi muốn nhắc đến hôm nay là Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.
Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, Ly Rượu Mừng xem là một bài hát tiêu biểu của nhạc Xuân, thường được trình bày trên các đài phát thanh và truyền hình của miền Nam và ở các buổi trình diễn âm nhạc cuối năm. Mặt khác nó cũng được hát lên trong các buổi họp mặt gia đình riêng tư. Bài hát này viết theo thể valse, có âm điệu rộn ràng, tươi vui, hát lên trong ngày Tết, vào mùa Xuân, như một lời chúc tốt đẹp gửi đến cho mọi người. Đây là một nhạc phẩm rất được phổ biến, nên vào dịp đông người, mọi người đều có thể nâng ly hợp ca, mở đầu hay kết thúc cho cuộc vui.

Ly Rượu Mừng không là bản nhạc tâm huyết nhất của Phạm Đình Chương, người ta biết đến ông nhiều với Mộng Dưới Hoa, Hội Trùng Dương, Đôi Mắt Mgười Sơn Tây, và sau đó là những bản nhạc nói lên xót xa của một cuộc tình như Nửa Hồn Thương Đau, Đêm Cuối Cùng, Thuở Ban Đầu… nhưng đại chúng biết đến ông, phổ biến nhạc của ông nhiều nhất là Ly Rượu Mừng.
Sau Tháng Tư, 1975, văn hóa miền Nam bị dập vùi, tất cả đều là một thứ độc dược của tư bản, Tây phương cần thiêu hủy, dẹp bỏ, để thay vào đó là những ca khúc phục vụ cho công cuộc tiến chiếm miền Nam, với những bài nhạc Xuân đè nặng bởi bóng dáng của đảng và lãnh tụ, hay mang màu sắc của nước đàn anh Trung Cộng. Phạm Đình Chương lại là người từ Liên Khu IV bỏ về vùng tự do, rồi sau đó cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954, chưa có tiêu chuẩn được chấp nhận như một nhạc sĩ trong hàng ngũ của những người thắng trận.
Tuy lời nhạc ca tụng hòa bình, nói đến người giai cấp công-nông, có nhắc đến “người binh sĩ” nhưng sao không phải là người “bộ đội cụ Hồ,” người ta đặt câu hỏi, người lính đây là người lính phe nào? Bản nhạc chịu số phần của mọi loại tinh hoa miền Nam, bị cấm đoán vùi dập hơn 40 năm. “Lúc thương thì trái ấu cũng tròn, lúc ghét thì bồ hòn cũng méo!” Lúc mới vào Nha Trang, bọn cộng sản ngu dốt xô đổ bức tượng thằng Tây Yersin, lúc cần ve vãn, bang giao với nước Pháp thì dựng lại tượng Alexandre Yersin như là một nhà bác học có công với nhân loại.
Khi cần phong phú thêm cho kho nhạc nhạc Xuân nghèo nàn, cục bộ của nền âm nhạc XHCN, thì người ta mới “khám phá” ra rằng, anh lính trong Ly Rượu Mừng chính là “anh lính thời chống Pháp!” mà 40 năm nay, người ta đã tiếc nuối là đã không thấy! Theo tài liệu của Danlambao, ca khúc “Ly Rượu Mừng” ấn bản lần thứ nhất, do Tinh Hoa, Huế xuất bản năm 1956, nghĩa hai năm sau ngày chia hai đất nước và sau rất nhiều năm Phạm Đình Chương di cư vào Nam. Vào Nam, ông cũng đã viết bài nhạc “Anh Đi Chiến Dịch” nói về người lính VNCH, với lời hát “Bao nhiêu chàng trai tay xiết mạnh, thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi,” thì người lính trong Ly Rượu Mừng không thể nào là anh “bộ đội cụ Hồ” được!
Trong thời gian Ly Rượu Mừng bị cấm phổ biến sau Tháng Tư, 1975 nghiệt ngã, cả miền Nam vào nhà tù, mỗi năm vào những ngày đón Tết trong tù, dù là ở Đầm Dơi, Cái Sắn hay tận Yên Bái, Cổng Trời… những người tù chúng tôi cùng bên nhau, đã cùng cất cao tiếng hát bài Ly Rượu Mừng. Mỗi năm những người tù tự lo lấy sân khấu, đàn hát cho quên những ngày tù ngục, mà đám cán bộ coi tù cũng phấn khởi khuyến khích những buổi văn nghệ này để “hưởng ké!” Không phải là những chuyên viên tuyên truyền, chúng nghe một bản nhạc có nói đến nông dân, công nhân, có binh sĩ, có mẹ già từ lâu mong con, mặt lệ nhòa thì chính chúng cũng bồi hồi xúc động, mà không cần biết xuất xứ của ca khúc!
Nhưng bọn cai tù không thể nào biết, khi cùng cất tiếng hát những câu hát trong Ly Rượu Mừng, chúng tôi như được sống lại những ngày Xuân của một miền Nam thanh bình và thịnh vượng, thương nhớ đến gia đình và đồng bào, nghĩ đến quê hương đang đọa đày. Không một người tù miền Nam nào không thuộc lòng những câu hát này của Phạm Đình Chương. Chúng tôi bên nhau, trong nhà tù hát Ly Rượu Mừng, mà nước mắt ràn rụa, nghĩ đến gia đình, nghĩ đến mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa,” biết ngày nào, thấy được“bước con về hòa nỗi yêu thương!”
Bây giờ mỗi lần nghe lại ca khúc Ly Rượu Mừng, hình ảnh những ngày Tết trong tù lại như hiện ra rõ nét. Bao nhiêu người anh em chúng tôi đã được trở lại cuộc sống bình thường, nay đã kẻ còn người mất. Ai lưu lạc xứ người, ai lưu đày trên chính quê hương của mình, có nhớ gì khi nghe lại bài Ly Rượu Mừng năm xưa hay không?
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã hiểu thế nào là chế độ cộng sản, đã ba lần vượt thoát ra khỏi chế độ này, đã phổ nhạc thơ Hoàng Anh Tuấn với bài “Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội” với lời “Mưa ngày nay, như lệ khóc phần đất quê hương tù đày.” Chắc còn sống ông cũng không lấy gì làm hoan hỉ khi Ly Rượu Mừng của ông “được phép” trình diễn trở lại 40 năm sau, nhất là với một ca sĩ vai chính mặc “áo quần bộ đội cộng sản, đầu đội nón cối, chân mang dép râu!” (Huy Phương)

Friday, January 18, 2019

KỶ NIỆM 45 NĂM TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA GIỮA VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ TRUNG CỘNG 19.01.1974 - 19.01.2019


TƯỞNG NHỚ HẠM TRƯỞNG NGỤY VĂN THÀ VÀ CÁC CHIẾN SĨ HẢI QUÂN VNCH ĐÃ HI SINH

Hoàng Sa Hoàng Sa là của Việt Nam. 
Hoàng Sa Hoàng Sa quần đảo quê ta, từ ngày giặc chiếm, Biển Đông phong ba, tàu lạ cướp giết ngư dân đau thương.
Hoàng Sa Hoàng Sa là bản hùng ca, Hoàng Sa Hoàng Sa lời thề còn vang, người người còn nhớ, niềm đau quê hương, Tầu Cộng xâm lăng quần đảo thân yêu.
Năm tháng trôi qua vẫn ghi lòng. Lời thề cương quyết giữ non sông.
Sóng nước mênh mông còn ghi dấu vết, người chiến sĩ Hải Quân, trận tử chiến năm xưa. 

Hoàng Sa Hoàng Sa là của Việt Nam, vang vang lời thề, vang vang lời thề, vang vang lời thề , chiếm lại Hoàng Sa.

Tuesday, December 18, 2018

TRƯƠNG VĨNH KÝ - NHÀ GIÁO DỤC YÊU NƯỚC CỦA VIỆT NAM

6 tháng 12 2018
Trương Vĩnh Ký (1837-1898) 
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường.
Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về "công và tội" của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà.
Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư "Sic vos non vobis".
Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là "Ở với họ mà không theo họ", vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết "phản động", vừa tỏ bày tâm sự "Ở với cộng sản mà không theo cộng sản".
Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh "Sic vos non vobis" có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký.
Winston Phan Đào Nguyên phổ biến trên trang 'Nghiên Cứu Lịch Sử' bài "Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu 'ở với họ mà không theo họ' ", theo tác giả thì Pétrus Ký dùng một nghĩa khác của ngạn ngữ là "Làm điều lợi cho người khác chứ không cho chính mình."
Tác giả đã trình bày rất rõ và rất thuyết phục triết lý sống của Pétrus Ký là mỗi người phải làm tròn vai trò hay số phần trong đời để làm cho xã hội của mình tốt đẹp hơn.
Cuộc đời của Pétrus Ký đã chứng minh triết lý sống này đặc biệt là sự cống hiến ông dành cho chữ Quốc ngữ và nền Quốc văn hiện tại.

Hoàn cảnh xã hội

Pétrus Ký sinh ra cuối triều vua Minh Mạng, vào lúc triều thần thất bại trong việc canh tân đất nước, vì chỉ có toàn những nhà Nho biết làm thơ phú, thiếu khả năng khoa học kỹ thuật.
Vua Minh Mạng thiếu công minh, khiến nhiều người giỏi đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, quan tham mỗi ngày một tăng.
Nhà Nguyễn bế môn tỏa cảng, cấm đạo Công giáo, khiến dân tình đói khổ, loạn lạc khắp nơi, để cuối cùng đất nước lọt vào tay Pháp cả trăm năm.
Petrus Ký là người công giáo, Pétrus là tên Thánh, theo học trường dòng ở Mã Lai về nước đúng lúc thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.
Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 1/9/1858 không thành nên chuyển sang tấn công ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Ngày 18/2/1859 Pháp chiếm được thành Gia định. 
 
Sài Gòn thời thuộc địa Pháp

Việc cấm đạo Công giáo trở nên gay gắt hơn. Petrus Ký phải trốn lên Sài Gòn và được Giám mục Dominique Lefèbre giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp, nên từ đó bị kết tội là tay sai cho giặc.

Pétrus Ký, nỗi oan thế kỷ

Sau 30/4/1975, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giữ độc quyền đánh giá "công và tội" của Petrus Ký.
Năm 1993, ông Nguyễn Văn Trấn, đảng viên Cộng sản từ 1930, được Ban Khoa học xã hội Thành ủy TPHCM cho phép phát hành quyển "Trương Vĩnh Ký, Con Người Và Sự Thật" nhưng sách đã bị tịch thu sau khi in mà không biết lý do.
Đầu tháng 1/2017, cuốn "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ" do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu soạn đã được Cục Xuất bản cho phép lưu hành, nhưng chỉ ít ngày trước khi phát hành thì một "lệnh miệng" được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách.
Ông Nguyễn Đình Đầu cho trang BBC Tiếng Việt biết ông đã phát hiện một tư liệu nói về sự hợp tác của ông Trương Vĩnh Ký với người Pháp từ đầu đã không có suôn sẻ như người ta vẫn tưởng:
"Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thơ chứng tỏ là Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác.".

Chữ Quốc ngữ giữ văn hóa nước nhà



Về việc giữ gìn tiếng Việt trong sách giáo khoa sử An Nam bằng tiếng Pháp xuất bản tại Sài Gòn năm 1875 (Cours d'histoire annamite à l'usage des écoles de la Basse-Cochinchine, Impr. du Gouvernement, Saigon, 1875) trang 13 Pétrus Trương Vĩnh Ký đã nhận xét (được dịch) như sau:
"Sĩ Nhiếp đã du nhập toàn bộ văn học Trung Hoa, cùng đạo lý Khổng Tử, ép buộc dân An Nam phải tiếp nhận làm văn hóa của mình, và cấm dân An Nam dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của người An-nam.
Vì biện pháp nghiệt ngã ấy mà người An-nam đã hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của mình".
Sĩ Nhiếp (137-226), Thái thú Giao Chỉ được sử sách chính thống các triều đại Việt Nam đánh giá rất cao vì đã dạy cho dân ta chữ Hán, văn hóa, phong tục và văn minh Trung Hoa.
Vừa là sử gia vừa là nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký đã đánh giá Sỹ Nhiếp là người đã hủy diệt chữ viết cổ của người Việt Nam, áp đặt cách cai trị và văn hóa của người Hán, giết chết văn hóa cổ của người Việt.
Điều này cho thấy ông hiểu rất rõ khi phải mượn tay người Pháp phổ biến chữ Quốc ngữ để cạnh tranh và loại bỏ ảnh hưởng tiếng Hán và cả tiếng Pháp, để giữ gìn văn hóa, phong tục và ngôn ngữ Việt Nam.
Pétrus Ký - ông tổ báo chí Việt ngữ
Năm 1864, Pétrus Ký được cử là Hiệu trưởng trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) và theo lời đề nghị của ông người Pháp cho lập tờ Gia Định báo bằng tiếng Việt. 
Trường thi Bắc Kỳ thời cuối mùa Nho giáo

Để phân biệt với tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Nôm, Pétrus Ký gọi cách viết tiếng Việt theo kiểu La Tinh là chữ Quốc ngữ còn văn học thì được gọi là Quốc văn.
Gia Định báo phát hành số đầu tiên ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn dưới hình thức một tờ Công Báo do ông Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (chủ nhiệm hay tổng biên tập) và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Ngày 16/9/1869, thống đốc Nam Kỳ G. Ohier ký quyết định số 189 giao tờ Gia Định Báo cho ông Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Gia Định Báo gồm các văn kiện và quyết định của nhà cầm quyền bằng tiếng Pháp do Nha nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ. Và những bài viết tiếng Việt về thời sự, về lịch sử, về luân lý dân gian giúp truyền bá chữ Quốc ngữ.
Trên Gia Định Báo và nhiều tài liệu khác ông lấy bút hiệu là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký.
Trong số 11 ra ngày 8/4/1870 ông kêu gọi cộng tác viên như sau:
"Lời cùng các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập... đặng hay: Nay việc làm Gia Định Báo tại Sài Gòn ở một chỗ nên không có lẽ mà biết các việc mới lạ các nơi trong sáu tỉnh mà làm cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay là nửa tháng hãy viết những chuyện mình biết tại chỗ, tại xứ mình ở như: ăn trộm, ăn cướp, bệnh hoạn, tai nạn, rủi ro, hùm tha, sấu bắt, cháy chợ, cháy nhà, mùa màng thể nào, tại sở nghề nào thạnh hơn...".
Đa số các bài trên Gia Định Báo đều bằng văn xuôi, ngắn gọn, đơn giản, theo cách nói của người miền Nam, và đàng hoàng theo lễ giáo Việt Nam.
Ông giữ vai trò chánh tổng tài đến năm 1872 thì giao lại cho ông Ernest Potteaux không rõ vì lý do gì.
Như vậy, Trương Vĩnh Ký chính là chủ nhiệm báo Việt ngữ đầu tiên và theo cách ông hướng dẫn làm báo thì ai cũng có thể làm báo, không khác gì cách làm báo mạng ngày nay.
Năm 1888, Trương Vĩnh Ký cho xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Trình, tạp chí văn học sưu tập nhiều văn thơ, câu đối, câu hò, câu hát dân gian, nhằm cổ vũ phong tục cổ truyền, phổ biến văn hóa dân tộc, có cả thơ văn chống Pháp và lịch sử Việt Nam.
Thông Loại Khóa Trình cho thấy tinh thần yêu nước của Petrus ký với nhiều bài viết về các nhân vật lịch sử có tài chống ngoại xâm của Việt Nam, như Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản...
Thông Loại Khóa Trình còn phổ biến thơ chống Pháp của Bùi Hữu Nghĩa, bài vè như vè Khâm sai và cả hịch chống Pháp của Nguyễn Tri Phương.
Cộng tác với Thông Loại Khóa Trình có các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, và nhiều người yêu nước khác.
Toàn quyền Albert Sarraut và vua Khải Định
Những người đọc báo biết chữ quốc ngữ khi ấy đều là công chức Pháp hay học sinh trường Pháp nên nhà cầm quyền Pháp tìm cách tẩy chay, báo không bán được.
Thiếu vốn, Thông Loại Khóa Trình chỉ ra được 18 số đến tháng 10/1889 thì đóng cửa.
Trong số này Trương Vĩnh Ký cho biết:
"Nay vì bởi không có vốn cho đủ in luôn Thông Loại Khóa Trình nữa nên ta cực chẳng đã, phải đình in."
Petrus Trương Vĩnh Ký, ông tổ nghề báo Việt Nam qua đời 1/9/1889 trong nghèo khó và nợ nần.

Tạo nền tảng Quốc văn và giáo dục

Ngay từ năm 1866 Trương Vĩnh Ký đã cho in ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là cuốn Chuyện Đời Xưa.
Từ đó ông không ngừng viết và để lại một di sản văn học với ít nhất 119 tác phẩm cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp.
Đây là các công trình soạn thảo một cách cẩn thận và khoa học nhưng dễ hiểu, dễ quảng bá, bao trùm mọi thể loại từ ngôn ngữ, tự điển, sách giáo khoa lịch sử, địa lý, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh học và văn học.
Kho tàng văn học này là căn bản định hình cho một nền Quốc văn với chủ trương gìn giữ đạo lý văn hóa dân tộc nhưng học hỏi văn minh Tây Phương để cải cách đất nước, mở mang dân trí giúp nước nhà độc lập và giàu mạnh.
Để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng canh tân, Trương Vĩnh Ký còn chọn việc dạy tiếng Việt và đào tạo hằng ngàn thanh niên theo tân học tạo nền tảng cho Phong trào Duy Tân và Đông Du sau này.
Ảnh hưởng triết lý và tư tưởng của Trương Vĩnh Ký đến nền văn hóa và giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là lấy nhân bản, dân tộc và khai phóng làm căn bản.

Nỗ lực 'thoát Hán' của các vua nhà Nguyễn

Trong chuyến đi sứ sang Pháp cùng Phan Thanh Giản năm 1863, Petrus Ký gặp và làm quen với nhà bác học Paul Bert.
Ông Paul Bert là giáo sư khoa học ĐH Bordeaux và Paris, từng tham gia cách Mạng Pháp năm 1870 và trở thành Tổng trưởng Giáo dục và Nghị sĩ Quốc hội Pháp.
Tháng 2/1886, ông được bổ nhiệm Thống sứ cạnh triều đình Huế. Ông chủ trương tiến bộ và muốn thực hiện cải cách nên đã đích thân thăm và mời Trương vĩnh Ký ra Huế giúp vua Đồng Khánh.
Nhà vua phong Petrus Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và dạy cho vua Đồng Khánh tiếng Pháp.
Năm 1887, Petrus Ký có dâng vua Đồng Khánh 24 điều để đối phó với Pháp. Trong đó ông có đề cập việc cải cách giáo dục, bỏ dạy chữ Hán, dạy chữ Quốc ngữ và học hỏi văn minh Tây phương.
Đến cuối thời vua Thành Thái các đề nghị của Petrus Ký mới được nhà vua ban sắc lệnh cho thi hành.
Chính sắc lệnh này đã dẫn tới phong trào Duy Tân, dùng chữ quốc ngữ để thoát Hán được trình bày khá rõ trong bài viết trước "Quốc ngữ và nỗ lực 'thoát Hán' của các vua nhà Nguyễn".
Nhà bác học Trương Vĩnh Ký với triết lý sống chẳng vì mình nên không cần chúng ta phải "minh oan".
Ngược lại chúng ta cần tìm ra sự thật, cần hiểu biết sự thật và cần phổ biến sự thật để qua đó chúng ta có thể ghi nhận ân đức cũng như học hỏi từ Trương Vĩnh Ký và những bậc tiền bối những người đã có công đóng góp cho nền văn học nước nhà.
Đồng thời chúng ta cần tiếp tục giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, văn hóa và phong tục để truyền lại cho con cháu chúng ta.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông Nguyễn Quang Duy từ Melbourne, Australia.
NGUỒN : https://www.bbc.com/vietnamese/forum-46455314