Saturday, January 6, 2018

50 NĂM MÁU VẪN CHƯA KHÔ TRÊN THÀNH PHỐ HUẾ

(1968-2018)

Phạm Trần
Những người mẹ, người vợ mất chồng, con trong Tết Mậu Thân 1968... Nguồn: Keith W. Nolan/ internet



Nhằm kỷ niệm 50 năm cái gọi là “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968”, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã đồng loạt tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với đề tài “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 – Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử”, và tung ra 2 bài viết ca tụng cái gọi là “chiến thắng” trong chiến dịch Mậu Thân 1968 của Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch.
Tại cuộc Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức ngày 29-12-2017 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có các mục tiêu quan trọng bị tấn công như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ và Đài Phát thanh Sài Gòn, các diễn giả đã tận lực khoe khoang cho điều gọi là “giá trị của cuộc tổng tiến công và nổi dậy; khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tái hiện diễn biến và những nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc tổng tiến công, trình độ chỉ huy, khả năng cơ động và phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng trên chiến trường miền Nam…”.
Nhưng mục đích Hội thảo để làm gì, ngoài mớ lý thuyết phô trương như thế? Các báo Việt Nam trích lời Thượng tướng Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết mụch đích: “Hội thảo lần này là một trong những hoạt động quan trọng góp phần tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (LLVT) và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ phát huy truyền thống cách mạng, hun đúc tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội (CNXH), lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống đại đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

À thì ra thế! Nhưng có ai biết từ nội dung Hội thảo đến 2 bài viết của Quang và Lịch đã chứa đựng những dối trá để che đậy tội ác chiến tranh của Quân đội Nhân dân (miền Bắc) và của lực lượng tay sai được gọi là “lực lượng võ trang giải phóng” (của Mặt trận Giải phóng miền Nam do đảng CSVN dựng lên) đã gây ra cho đồng bào miền Nam nói chung, và đặc biệt đồng bào ở Cố đô Huế trong 25 ngày đềm Cộng sản chiếm đóng chỉ để thảm sát dân lành?
Do đó, Tướng Ngô Xuân Lịch đã không ngần ngại khoe đạt chiến thắng ở Huế bằng máu người dân vô tội. Lịch viết: “Đặc biệt, với 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế đã khẳng định sức mạnh của lực lượng vũ trang (LLVT) ba thứ quân, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam anh hùng”.
Lịch viết bố láo như thế là bôi nhọ lịch sử và chà đạp lên những vong hồn của các nạn nhân bị Quân đội Cộng sản thảm sát, chôn sống và hành quyết rồi đẩy xuống các hố mồ tập thể khắp nơi trong Thành phố Huế. Bởi vì trong suốt thời gian của biến cố Mậu Thân và ngay tại Thành phố Huế khi bị chiếm đóng, không nơi nào có “nổi dậy” của nhân dân như Cộng sản tuyên truyền từ trước khi tiềng súng nổ đêm Giao Thừa Mậu Thân (31 tháng 1 năm 1968). Và cũng chẳng có nơi nào dân bỏ vùng Quốc gia chạy vào rừng với Quân Cộng sản.
Như vậy rõ ràng Lịch và guồng máy tuyên truyền của CSVN đã “bịa đặt một” chưa dủ còn tranh thủ “ nói dối hai” mà mặt vẫn cứ trơ ra như đá!
Nhưng không chỉ có thế, Lịch còn bịa thêm rằng: “Nhận thức rõ vai trò quan trọng của lực lượng vũ trang trong chiến tranh cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng xây dựng LLVT ba thứ quân, nhất là xây dựng bộ đội chủ lực từng bước phát triển lớn mạnh. Theo đó, đến cuối năm 1967, lực lượng bộ đội chủ lực toàn miền Nam đã phát triển lên 278.000 người , được tổ chức thành 190 tiểu đoàn chiến đấu, bố trí bí mật trên khắp các chiến trường. Đây là một trong những nhân tố tạo sức mạnh trực tiếp, quyết định thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; đồng thời, thể hiện tầm nhìn và sự chỉ đạo chiến lược sắc sảo của Đảng ta về xây dựng LLVT nhân dân trong chiến tranh giải phóng dân tộc.”
Làm gì có cái gọi là “lực lượng bộ đội chủ lực toàn miền Nam” do chính người miền Nam lập ra? Có chăng là đa số trong đội ngũ này là của miền Bắc được đào tạo đưa vào Nam rồi nhập chung vào với du kích miền Nam để cùng đội mũ tai mèo, mặc quần xà lỏn, đi chân đất trông rất tồi tệ. Đi đâu cũng khoe là “quân giải phóng”! Trong khi bộ đội chính quy từ miền Bắc được đi dép râu bằng vỏ xe hơi và mặc quần áo do Tầu Cộng cung cấp để cầm súng của Nga, các nước Cộng sản Đông Âu và Trung Cộng cung cấp.
Sự thể bộ đội miến Bắc vào Nam xâm lược Việt Nam Cộng hoà và gây ra chiến tranh máu đổ thịt rơi từ 1955 đến 1975 thì ai không biết. Ngoài số quân “vượt Trường Sơn theo đường mòn Hồ Chí Minh’’ xuyên qua Lào và Cao Miên xâm nhập miền Nam từ 1960 thì trước đó, khỏang từ 30 ngàn đền 40 ngàn Bộ đội Cộng sản được giữ lại trong Nam mà không tập kết ra Bắc theo điều kiện của Hiệp định Geneve 1954.
Chính đạo quân “nằm vùng” này là lực lượng nồng cốt để đảng CSVN thành lập cái gọi là Quân đội Giải phóng và Mặt trận Giải phóng miền Nam tay sai do đảng CSVN thành lập ra đời ngày 10 tháng 12 năm 1960.
Nhưng đến khi xe tăng và bộ đội kéo vào các thành phố và Thủ đô Sài Gòn trước và trong ngày 30/04/1975 thì đâu đâu cũng mang cờ của Mặt Trận Giài Phóng miền Nam : Hình chữ nhật, mầu đỏ trên và mầu xanh dưới. Ở giữa có ngôi sao Vàng, thay vì “cờ Đỏ Sao Vàng” của Đảng CSVN.
Vì vậy, ngay sau khi vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975, quân CS miền Bắc đã hạ lá Cờ Vàng 3 Sọc đỏ của VNCH xuống và thay vào lá Cờ của MTGPMN, ngụy trang là cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (!)
Nhưng sau ngày chính thức thống nhất đất nước tháng 7/1976, lá cờ của MTGPMN đã bị dẹp bỏ không kèn không trống để chỉ còn lại lá cờ Đỏ Sao Vàng của miền Bắc CS chiếm ngự trên cả nước!
BÀI TRẦN ĐẠI QUANG
Về phần mình, Chủ tịch nước Trần Đại Quang góp phần tuyên truyền gỉa dối trong bài “Phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Quang ba hoa rằng: “Cách đây tròn 50 năm, đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân ta đã đồng loạt mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, tạo ra bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết thêm trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc ta…
“… Đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã bất ngờ đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, đánh vào các cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn, Huế, các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy, các thành phố, thị xã, đồng thời đánh địch khắp các vùng nông thôn bị tạm chiếm…”
SỰ THẬT KHÓ XÓA ĐI
Như vậy, tất cả nội dung dành tung hô cho biến cố Mậu Thân đã không có một chữ hay con số nào nói lên sự thật tổn thất lớn lao của Bộ đội miền Bắc và Quân Việt Cộng trong Nam.
Vì vậy, mãi đến năm 2013, cuốn phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968” của Nhà Đạo diễn (Bà) Lê Phong Lan, chủ Hãng phim Bản sắc Việt, mới bắt đầu chiếu trên đài Truyền hình Việt Nam từ ngày 25 tháng 01 năm 2013.
Lý do làm phim trễ vì Chính quyền Cộng sản và Bộ Quốc Phòng coi vụ Mậu Thân là “vấn đề nhậy cảm” không ai muốn nói đến.
Nhưng tại sao lại cho là “nhạy cảm”, Lê Phong Lan nói: “Vì sao mọi người phía ta tránh nhắc đến Mậu Thân, đó là vì sự tổn thất của quân đội nhân dân Việt Nam ở sự kiện này quá nhiều. Tâm sự với tôi khi trả lời phỏng vấn, nhiều chỉ huy các sư đoàn dạn dày chiến trận còn khóc nức lên vì thương lính. Đó là lý do duy nhất”.
Quả nhiên về phương diện quân sự thì cả quân miền Bắc và du kích trong Nam đã thiệt hại rất nặng. Theo các ước tính quân sự thì trong cuộc tấn công Mậu Thân, CSVN đã vận động từ 323,000 đến 595,000 quân chính quy và địa phương trong Nam để thực hiện kế họach chống lại khỏang 1 triệu 200 quân VNCH và Hoa Kỳ với dự kiến chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của VNCH.
Tuy nhiên kế họach hồ hởi của Hà Nội đã bị quân và dân VNCH được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ đánh bại. Khỏang từ 85,000 đến 100,000 quân Cộng sản bị loai khỏi vòng chiến, so với thiệt hại của đồng minh có trên 6,000 tử thương, ngót 30,000 bị thương và trên 1,000 quân bị mất tích.
Thương vong thường dân, tính riêng tại Huế cũng đã có từ 5,000 đến 6,000 người chết và mất tích, đa số bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu.
Nhưng phiá Cộng sản đã liên tiếp phủ nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho bom đạn của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà gây ra.
Vì vậy, theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì bà Lê Phong Lan cho rằng: “Thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này, tới nỗi các thế hệ sinh sau 1975 không còn biết đâu là thông tin sai, đâu là thông tin đúng vì vậy lại càng quyết tâm để làm phim.”
Nhà văn Hòang Phủ Ngọc Tường, thành viên của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế đi theo Cộng sản trong vụ Mậu Thân, còn đối đáp vớ Nhà báo Thụy Khuê của Đài Phát thanh Quốc tế Pháp (Radio France International, RFI) trong cuộc phỏng vấn gần 30 năm sau Mậu Thân như sau :
“Thụy Khuê: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?
HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.
Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng.. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.
Thụy Khuê: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?
HPNT: “Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.”
NHỮNG TIẾNG NÓI KHÁC
Ông Đinh Lâm Thanh, trong Bài thuyết trình trong dịp tưởng Niệm 40 năm biến cố Mậu Thân tổ chức tại Paris ngày 02.03.2008, nói : “Tại Huế, CS lùng bắt thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại chỗ một số và dẫn những người còn lại theo làm tù dân – tôi nói tù dân, vì tù là những người dân vô tội – trước rút lui tháo chạy trước sức tấn công mãnh liệt của QLVNCH và Đồng Minh.
Nếu tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng như những người sống tại địa phương làm việc cho chính quyền Sài Gòn bị Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1.892 người.. Ngoài ra người ta còn tìm được 2326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập thể tại những địa điểm như Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bãi Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An, Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ Đàm, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phú Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Đá Mài.
Mỗi hố chôn tập thể từ 5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát một cách dã man như : Cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống. Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15 trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các cha Bửu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, cha Guy và cha Urbain (dòng Thiên An), và cha Cressonnier (Hội Thừa sai Paris), 5 thầy dòng gồm 3 sư huynh dòng Thánh Tâm là thầy Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long, 2 sư huynh dòng Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy dòng Lasan bị bắt và bị chôn sống chung một hố với linh mục Bửu Đồng tại Sư Lỗ, quận Phú Thứ. Ngoài ra Cộng sản còn giết các giáo sư đại học người nước ngoài trong lúc họ đang dạy ở đại học Y khoa Huế và thân nhân họ hàng của những người phục vụ dưới chế độ VNCH. Người ta ước lượng tại thành phố Huế có gần 5.000 người bị Cộng sản giết trong vòng mấy tuần lễ.
Những người lớn tuổi còn sống tại Huế là những nhân chứng sống. Trong đó có hai thanh niên nguyên là học sinh trung học, nay đã 56 tuổi, trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngoại quốc. Người thứ nhất tên Tuấn cùng với những học sinh khác đã bị CSBV bắt đào lỗ chôn sống 5 người tại Gia Hội ngay trong ngày đầu tiên khi CS vừa chiếm Huế. Học sinh thứ hai, xin giấu tên, ở Phủ Cam bị bắt đi theo đoàn tù dân đưa chôn sống ở Khe Đá Mài. Cả hai học sinh nầy nhờ một phép nhiệm mầu nào đó họ đã thoát được và sống sót đến ngày hôm nay.” (Khối 8406Tự do Dân chủ cho Việt Nam, 01-2009)
Hai Linh mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải hiện còn sống ở Việt Nam kể lại như sau:
“…tại núi Ba Tầng (núi Bân), phía Nam thành phố Huế.. Ngôi mộ này lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ yếu bốc từ Khe Đá Mài nhưng đã bị chính quyền cộng sản phá đổ trụ bia và để cho hoang phế suốt 32 năm trời…
“Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những gì xảy ra tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả, có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng rợn, dã man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của chúng tôi, hình như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết rõ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc nạn nhân bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ hành quyết”. (Đối Thọai online, 17-01-2008)
Hai linh mục Lợi và Giải cho biết họ họ gặp một nhân chứng sống lúc bấy giờ ông ta mới 17 tuổi cũng bị bắt theo đoàn người bị đưa đi giết ở Khe Đá Mài nhưng may mắn lợi dụng lúc đêm tối nên ông đã trốn thoát và hiện còn sống ở trong nước đã kể lại :
“Hồi ấy, tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi đã từ quê chạy về thành phố, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, xã Thủy Phước, tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy năm trước… Khuya mùng Một rạng mùng Hai Tết, tôi nghe tiếng súng nổ khắp nơi và được tin Việt Cộng đã chiếm nhiều nơi trong thành phố Huế… Cả gia đình tôi cũng như nhiều giáo dân ở Phủ Cam đều chạy đến ẩn núp trong nhà thờ để tránh bom đạn. Lính Nghĩa quân của xã và một số quân nhân về phép chiến đấu bên ngoài để bảo vệ đồng bào. Sau mấy ngày, không có tiếp viện nên chiều mùng 5 Tết (3 tháng 2/1968) phải rút chạy… Khuya mùng 5 Tết, Việt Cộng tràn vào nhà thờ bắt những người từ 15 tuổi đến ngoài 50 tuổi bất kể là học sinh hay thường dân … và tuyên bố cho đi học tập trong vòng 3 ngày sẽ trở về trong đó có tôi… Sáng hôm sau, chúng tôi bị dẫn đi theo đường xe lửa từ Phủ Cam ra Bến Ngự và đến chùa Từ Đàm… Tại đây tôi thấy Việt Cộng rất đông vừa du kích địa phương vừa bộ đội miền Bắc… Ngôi nhà 5 gian thì 4 gian đã đầy người bị bắt từ mấy ngày trước, còn một gian để giam giữ những người mới bị bắt… Tôi gặp những người quen như ông Tín (thợ chụp ảnh), ông Hồ (thợ hớt tóc), anh Trị (con ông Ngọc người đánh đàn trong nhà thờ), ông Hoàng (Đông y sĩ ở Chợ Xép), hai người con trai ông Thắng (làm nghề nấu rượu nuôi heo), hai người con trai ông Vang (nhạc sĩ thổi kèn đồng), anh Thịnh (con ông Năm), hai anh em Bình và Minh (con ông Thục), anh Minh 16 tuổi, con ông Danh nhân viên Công Ty Thủy Điện Huế) đều là học sinh… Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả một ngày từ sáng tới tối không được ăn uống gì cả… Họ đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy để viết bản khai lý lịch tên, nghề nghiệp, tên cha mẹ, sinh quán ở đâu… Ai khai gian sẽ bị đem ra bắn… Tôi thấy một số người bị trói vào gốc cây bồ đề và bị đem ra bắn chôn ngay trong sân chùa, trong đó có anh Hoàng Sự (Cảnh Sát) mà tôi biết tên. Họ cho một vài người về nhắn với gia đình tiếp thế lương thực và quần áo, thuốc men cho những người đang bị giam giữ… Khi trời sẩm tối, họ bắt chúng tôi ra ngồi xếp hàng giữa sân chùa. Một anh cán bộ tuyên bố:
– Anh em yên tâm, Cách Mạng sẽ đưa anh em đi học tập trong 3 ngày rồi sẽ cho về với gia đình! Bây giờ chúng ta lên đường!.
Rồi họ dùng dây điện thoại trói tay chúng tôi ra phía sau lưng từng người một, rồi dùng dây kẽm gai nối 20 người làm một toán. Tôi đếm được trên 25 toán như thế (tất cả 500 người). Một người địa phương đi nhìn mặt anh em chúng tôi và nói với nhau:
– Không thấy Trọng Hê và Phú Rỗ trong số giáo dân Phủ Cam ở đây.
(Anh Trọng con ông Hê và anh Phú là hai thanh niên ở Phủ Cam có võ nghệ mà giới du đãng ở Huế biết tiếng. Hai anh đã chạy theo lính Nghĩa Quân xã rút lui khi Việt Cộng vào nhà thờ! Những người bị bắt đến đây đều là dân lành vô tội).
Họ dẫn chúng tôi đi vào đường bên trái Đàn Nam Giao, vòng qua Dòng Thiên An, đến lăng Khải Định, vòng phía sau trụ sở Quận Nam Hòa, ra đến bờ sông Tả Trạch (Thượng nguồn sông Hương)… Đến bờ sông, Việt Cộng cho chặt cây lồ ô (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua sông (khu vực lăng Gia Long), thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc (vùng núi tranh). Từ đó, chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, ban đêm, trời lạnh lắm, khi lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe… Khoảng 30 bộ đội miền Bắc dẫn chúng tôi đi, họ dùng đèn pin hay đuốc để soi đường, chúng tôi đi trong rừng tre nứa và cây cổ thụ dày đặc… Khoảng nửa đêm, chúng tôi được dừng lại để nghỉ và mỗi người nhận được một vắt cơm. Chúng tôi đoán đã đi được trên 10 cây số rồi! Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng ngủ một chút để lấy sức còn phải đi tiếp… Bỗng như có linh tính báo trước, người tôi run lên bần bật… Tôi nghe hai tên bộ đội nói nhỏ với nhau:
– Trong vòng 15-20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn nầy!
Tôi liền ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt:
– Tụi mình ráng mở dây trốn đi! Mười lăm phút nữa là bị bắn chết hết đó!
Trời mưa, dây điện trơn trợt, lát sau, chúng tôi mở được giây nhưng vẫn ngồi yên sợ chúng biết. Tôi nói nhỏ:
– Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe!
Bọn Việt Cộng đánh thức chúng tôi dậy, một tên nói lớn cho mọi người nghe:
– Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Ai có vàng, tiền, đồng hồ, bật lửa… thì đem nộp, không được giữ trong người… Học tập xong sẽ được trả lại…”
Thế là bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải. Tên bộ đội đứng gần chúng tôi còn mang trên vai cả chục cái radio mà chúng đã cướp được của dân ở thành phố… Một tay mang súng, một tay mang các thứ vừa cướp được, hắn đi chậm lại cách xa mấy tên kia một quãng… Chúng tôi bắt đầu xuống dốc, nghe tiếng nước chảy róc rách… Tôi vỗ nhẹ vai thằng bạn và cả hai chúng tôi vung tay và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Tôi đá mạnh và tên bộ đội mang nhiều radio… Hắn ngã nhào! Hai chúng tôi lao vào rừng…
Trời tối, rừng già chúng không giám đuổi theo… Khi nghe tiếng đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi chỗ ẩn núp và đi ngược trở lại… Chừng 15-20 phút sau, chúng tôi bỗng nghe từ phía dưới vọng lên tiếng súng AK, rồi lựu đạn nổ vang rền… Một góc rừng rực sáng! Chen vào đó tiếng khóc la khủng khiếp… không hiểu sao lúc đó, tai tôi nghe rất rõ ràng… Lúc đó khoảng 12-12 giờ 30 khuya… đầu ngày 8 Tết(6/2/1968). Về sau tôi mới biết chỗ đó là Khe Đá Mài…” (Bài thuyết trình của cựu Dân biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng tại cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008).
NHÂN CHỨNG CỦA SỰ THẬT
Ông Võ Văn Bằng, Trưởng Ban Cải táng Nạn nhân Cộng sản Tết Mậu Thân nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạc trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…”
Vẫn theio RFA thì Nhà báo Vũ Ánh (đã qúa cố), nguyên phóng viên mặt trận hệ thống Truyền thanh quốc gia VNCH, đã có mặt tại Huế từ ngày 5 đến 29 Mậu Thân và đi theo nhiều nhóm tìm hầm chôn tập thể kể lại cảm giác của ông: “Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng có nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác của tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó…
“Ngay ở hầm Phú Thứ, chắc khoảng gần 1.000 người. Khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống”. (RFA online ngày 1-2-2008)
Trong bài nói chuyện tại buổi 40 năm Tưởng niệm Tết Mậu Thân, Việt Báo Gallery, thứ Bảy 29-3-2008, Nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô Cho Huế” nói:
“Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Đông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát. Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân-không hề có người lính Cộng Hòa nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm.. Nắng. Máu. Ròi bọ…
“Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống. Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Túy cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn…Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống”.
“Huế Tết Mậu Thân. Hàng ngàn người đã bị chôn sống như thế”. (Việt Báo ngày 31-3-2008)
Cư sĩ Trí Lực, người đã chôn cất những xác chết nằm lại sau biến cố Mậu Thân kể lại với RFA về nỗi kinh hoàng của ông:
“Hai mươi sáu ngày sau, sau khi Cố đô Huế bình định trở lại thì tôi tận mắt chứng kiến những hầm chôn tập thể được khai quật lên từ vùng Bãi Dâu Gia Hội, những người xấu số đã bị trói quật lại sau lưng và có những mảnh xương sọ bị vỡ nát.Cảnh kinh hoàng là cộng sản đã chon sống bao nhiêu người dân vô tội.”
“Nhà văn Đinh Lâm Thanh, hiện sống ở Pháp, cũng là chứng nhân của biến cố Mậu Thân kể:
“Gia đình của tôi vùng Phủ Cam là một, vùng An Vân Thượng là hai, Gia Hội là ba. Bà con xa bà con gần của bên họ ngoại của tôi gồm cả thảy 12 người. Trong 12 người đó, có người bị chôn sống, có người bị bắn tại chỗ, có người bị chặt đầu, có người bị mổ bụng”. (RFA online ngày 7-2-2012)
Ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên Huế kể lại trong“cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008”: “Mồ chôn tập thể: Các nạn nhân bị thảm sát tại Huế và Thừa Thiên được tìm thấy tại trường tiểu học Gia Hội, chùa Therevada, Bãi dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng Viện, khu vực phía Tây Huế gần lăng Tự Đức và lăng Đồng Khánh, cầu An Ninh Thượng, cửa Đông Ba, trường An Ninh Hạ, trường Văn Chí, Chợ Thông, Lang Xá Cồn, gần lăng Gia Long, gần chùa Tường Vân, Đông Gi (Di), Vinh Thái, Thủy Thanh, Lương Viện, Phù Lương, Phú Xuân (Phú Thứ), Thượng Hòa, Vinh Hưng, Khe Đá Mài… tất cả 23 địa điểm tại tổng cộng 2326 xác chết (sọ người). Còn khoảng trên 3,000 nạn nhân thuộc tỉnh Thừa Thiên và Huế đã được thân nhân xác nhận là chết hoặc bị bắt đi thủ tiêu, mất tích… không biết họ đã bị giết chết và chôn xác ở đâu?!
Dã man nhất là tại Khe Đá Mài (thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên) Việt Cộng đã dùng súng trung liên, đại liên, lựu đạn và mìn giết tập thể các nạn nhân, vất xác xuống dưới khe, lâu ngày thịt thối rữa bị nước cuốn đi, chỉ còn 428 sọ người, xương người dồn lại một đống. Người ta đã dựa vào các dấu vết còn lại của nạn nhân như áo len, tượng ảnh, giấy căn cước bọc nhựa(ID)… để biết được thân nhân của mình đã chết ở trong đống sọ và xương lẫn lộn đó. Đa số những nạn nhân nầy là giáo dân bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam vào đêm mùng 5 Tết (3 tháng 2/1968) Người ta cũng tìm thấy vết tích của hai ông Lê Hữu Bôi (chủ tịch sinh viên Phật tử năm 1963) và Lê Hữu Bá (sĩ quan Quân Cảnh) tại Khe Đá Mài. Các em học sinh như Bùi Kha (16 tuổi), Phan Minh (16 tuổi), Nguyễn Duyệt(17 tuổi) và nhiều bạn trẻ khác thuộc giáo xứ Phủ Cam cũng bị VC giết hại tại đây…”
LÊ PHONG LAN CÓ NÓI THẬT?
Trái với những lời kể này, nhà làm phim tuyên truyền cho đảng, Bà Lê Phong Lan cho biết bà đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư đảng khoá VIII – người từng là chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế; lãnh đạo Thanh niên phật tử tranh đấu ở Huế theo Cộng sản nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân; nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux; GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía.
Bà nói: “Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là “cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.”
Nhưng, theo ông Trương Như Tảng (cựu Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa miền Nam Việt Nam, về sau ly khai chính phủ và vượt biên sang sống lưu vong ở Pháp), thì: “ Trong cuộc chiếm đóng Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (viên chức, cảnh sát, sĩ quan, chính trị gia, địa phương quân…) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận.” Ông dẫn lời một người bạn rằng: “ Do kỷ luật kém ở một số đơn vị, một số thường dân cũng nhân dịp hỗn loạn để trả thù nhau nên đã có những vụ giết hại vô cớ. Một bản báo cáo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi nhận, họ đã “diệt 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại uý, 1 trung uý, 20 thiếu uý và nhiều sĩ quan trừ bị…” trong cuộc chiếm đóng Huế.” (Tài liệu trích theo Hồi ký của ông Trương Như Tảng trên Internet)
Ngòai ra, báo cáo chính thức sau Mậu Thân ở Huế còn cho biết : “Một vụ thảm sát gây phẫn nộ dư luận quốc tế là vụ giết 4 bác sĩ người Đức sang giảng dạy và làm việc tại trường Đại Học Y Khoa Huế. Trong bài viết “The Vietcong Massacre at Hue,” xuất bản năm 1976, một bác sĩ có tên Elje Vannema, kể rằng ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick và hai bác sĩ Raymund Discher cùng Alterkoster đã bị giết trong tháng Hai năm 1968 tại chùa Tường Vân hoặc một vùng đất nhiều cây cối cách chùa chừng nửa dặm, nơi người ta tìm thấy thi hài của các nạn nhân. Bác sĩ người Pháp, có tên Le Hir khám nghiệm tử thi các nạn nhân cho biết có dấu vết đạn xuyên qua đầu và ót..”
GIẾT NGƯỜI GIỮA ĐÊM GIAO THỪA

Hồi tưởng lại biến cố Mậu Thân đẫm máu do người Cộng sản gây ta cho nhân dân miền Nam 50 năm trước, không một người Việt Nam nào có thể quên ngày ấy. Giữa đêm Giao thừa thiêng liêng của dân tộc Tết Mậu Thân (1968), Quân đội Cộng sàn miền Bắc và lực lượng võ tranh tay sai Việt Cộng (của MTGPMN) đã tung quân tấn công 41 thành phố, thị xã và 72 Quận lỵ, kể cả Thủ đô Sài Gòn và cố đô Huế của Việt Nam Cộng hòa.
Ít người Việt nào muốn gợi lại những đau thương, đổ vỡ của chiến tranh, nhất là cuộc thảm sát trên 3,000 trong số gần 6000 thường dân bị thiệt mạng trong 25 ngày Cộng sản chiếm đóng thành phố Huế của binh lính Cộng sản. (có tài liệu nói 26 ngày).
Nhưng đảng và nhà nước CSVN lại coi biến cố đau thương này là một “chiến công” phải ăn mừng và tổ chức lễ hội như đã diễn ra trừ dạo kỷ niệm 40 năm.
Bằng chứng như ta thấy báo Công an Thành phố Sài Gòn loan tin ngày 13-11-2007: “Ban Bí thư TW Đảng có thông báo về việc tổ chức kỷ niệm trọng thể 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968. Bộ Quốc phòng được giao nhiệm vụ phối hợp với Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế tổ chức hội thảo khoa học cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân-1968. Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức mít tinh trọng thể cấp Nhà nước tại thành phố. Các tỉnh từ Quảng Trị trở vào tổ chức gặp mặt truyền thống, tọa đàm về chiến thắng này. Tổ chức các hoạt động văn hóa, du lịch, giúp đỡ cá nhân có thành tích trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân hiện còn khó khăn.”
Nguyễn Đình Ước, Trung tướng Cộng sản viết trên báo Nhân Dân ngày 8-1- (2008): “Cuộc tiến công Tết Mậu Thân đi vào lịch sử là một sáng tạo độc đáo của cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam thể hiện một đỉnh cao ý chí và trí tuệ của Việt Nam trong cuộc chiến tranh nhỏ thắng lớn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân ta đã đánh thắng oanh liệt một cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất của một tên đế quốc lớn nhất trong thế kỷ thứ 20”.
Có “độc đáo”, “oanh liệt” hay không thì Ước cần đọc lại những lời tuyên bố nhìn nhận Bộ chỉ huy Cộng sản đã tính tóan sai lầm trong vụ tấn công quâns ự Mậu Thân của Trần Văn Trà, Trung tướng.
Ước cũng nên tự vấn lương tâm tại sao đảng CSVN đã lên án, tuyền truyền rùm beng vụ Quân đội Mỹ can tội thảm sát người dân vô tội tại ấp Mỹ Lai mà không dám nhìn nhận cuộc tàn sát đẫm máu dân thường và các viên chức VNCH của lính Cộng sản ở Huế.
Ông Douglas Pike, một chuyên viên về Cộng sản Việt Nam nổi tiếng của Mỹ viết: “Một cách tự nhiên, những điều xảy ra ở Huế là vài sự thống kê mau lẹ và nhạy cảm. Cuối cùng, lực lượng quân sự Cộng sản lên tới 12 ngàn người đã tấn công Huế ngay đêm mồng một tết (30 tháng 1 năm 1968), chiếm thành phố 25 ngày và cuối cùng bằng hành động quân sự họ bị đánh bật ra khỏi nơi họ chiếm đóng..”
 “Trong trận tấn công nầy, 5 ngàn 8 trăm người dân thường bị giết và mất tích. Đến bây giờ tất cả họ coi như đã chết. Từ đó, thi hài họ được tìm thấy lẻ tẻ hay trong những ngôi mộ tập thể ở những vùng chung quanh Huế – Trung tâm văn hóa Việt Nam – thuộc tỉnh Thừa Thiên.”
Đó chỉ là những dữ kiện chính yếu, những thống kê quan trọng, chẳng vui gì khi nói về Huế, là điều được viết xuống bằng thứ ngôn ngữ bình thường của báo chí, rõ ràng chẳng gây được ấn tượng gì cho tinh thần và lương tâm của nhân loại. Chẳng có tiếng thét đầy uất hận nào! Và các tòa đại sứ của Cộng sản Bắc Việt Nam trên thế giới đều im hơi lặng tiếng.” (Tuệ Chương dịch).
Như vậy, dù muốn che cho bằng được để lãng quên, nhưng lịch sử và sự thật của máu đổ thịt rơi ở Thành phố Huế 50 năm trước vẫn còn tươi rói. Lời kể của các nhân chứng đã nói lê sự thật không thể chối cãi.
Vì vậy, dù có mồm loa mép giải đến đâu thì 50 năm sau thảm họa Mậu Thân, người Cộng sản vẫn không thể xóa đi tội ác họ đã gây ra cho nhân dân miền Nam, vì những dòng máu oan khiên của hàng ngàn đồng bào vẫn chưa khô trên thành phố Huế.
Source: https://baotiengdan.co m/2017/12/31/50-nam-mau-van-ch ua-kho-tren-thanh-pho-hue-1968 -2018/

Sunday, December 10, 2017

CÂY THÁNH GIÁ Ở LONG TÂN VIỆT NAM

VNCH-Ngoc Truong (Danlambao) - Sau một thời gian thương lượng với Úc, Hà Nội bí mật giao trả thánh giá Long Tân cho chính phủ Úc trong tháng 11, 2017, trước thềm hội nghị APEC. Hà Nội cũng muốn mọi việc tiến hành trong im lặng và không thông báo trên truyền thông.
Ngày 5 tháng 12, 2017 chính phủ Úc chính thức công bố - biểu tượng này được trưng bày tại Viện bảo tàng tưởng niệm chiến tranh Reg Saunders, thủ đô Canberra.
Từ lâu CS Việt Nam rất lấy làm khó chịu sự hiện diện của thánh giá tại Long Tân, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa) Nam Việt Nam.
Thập tự giá đúc bằng bê tông, được các quân nhân Úc chiến đấu tại Việt Nam dựng lên năm 1966, để tưởng niệm các đồng đội ngã xuống trong trận đánh với quân đội CS Bắc Việt và các đơn vị CS địa phương.
Năm 2016, CS Việt Nam không cho phép các cựu chiến binh Úc và gia đình, thân nhân những quân nhân tử trận tới thăm Long Tân nhân ngày chiến sĩ trận vong của Úc (ANZAC day). Nhiều cựu chiến binh rất bất mãn khi bị CS ngăn cản không cho vào khu rừng có thánh giá và bia đồng tưởng nhớ các chiến sĩ Úc tử trận. Bộ Ngoại giao Úc trong năm 2016, cũng báo trước rằng các chuyến viếng thăm có thể bị giới chức CS Việt Nam hủy bỏ bất cứ lúc nào.
Phía CS nói rằng không muốn có sinh hoạt rần rộ trong khu vực vì vấn đề "nhạy cảm", nhưng chính quyền địa phương vẫn thu tiền $12 mỗi đầu người khi vào vòng ngoài khu vực, một số cựu quân nhân Úc than phiền: "Chúng lấy tiền nhưng lại không cho ai vào!"
Lý do CS "nhạy cảm" với trận chiến Long Tân 1966:
Lính Úc tuần tiểu.
Ngày 18 tháng 8 năm 1966, Đại đội D thuộc Tiểu Đoàn 6 RAR (Royal Australian Regiment) với 105 quân nhân Úc, cùng với 3 quân nhân pháo binh New Zealand, tiến vào đồn điền cao su Long Tân. Họ thay Đại đội B truy kích lực lượng địch, trước đó một ngày đã tấn công căn cứ hành quân của Úc tại Núi Đất, tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa).
Khoảng 3 giờ 30 chiều, lính Úc tuần tiểu nổ súng vào một nhóm VC lọt vào vòng dây khiến một tên VC bị thương, những tên còn lại tháo chạy.
Lính Úc tiếp tục tiến quân, ba trung đội 10, 11, 12 thuộc Đại đội D chiếm các vị trí xung quanh rừng cao su.
Ngay sau 4 giờ chiều, 28 người của Trung đội 11 bị tấn công nặng nề từ nhiều hướng khác nhau, một số tử thương, số còn lại bị hỏa lực địch kềm chặt.
Khi trời đổ mưa lớn, pháo binh yểm trợ từ căn cứ Núi Đất rót tới, quân Úc đối mặt với lực lượng địch trang bị mạnh hơn và quân số cũng đông hơn.
Về sau tin tình báo cho biết quân Úc phải đối đầu với lực lượng hỗn hợp của Trung đoàn 275 và Tiểu đoàn lưu động D445 địa phương, cùng một tiểu đoàn của Bắc Việt tăng cường - tổng cộng từ 1.500 đến 2.500 cộng quân.
Tù binh Bắc Việt với đầy đủ quân phục.
Trung đội 10 cố tiến tới điểm hẹn với các chiến hữu đang bị kẹt dưới hỏa lực địch - họ đánh chận và triệt hạ một nhóm trước khi chính họ cũng bị tấn công từ ba phía và máy truyền tin bị hư hại.
Hiệu thính viên bất chấp nguy hiểm trước hỏa lực của đối phương, đã khôi phục lại máy truyền tin, sau đó Trung đội 10 được lệnh rút lui dưới sự yểm trợ của pháo binh bạn.
Trong khi đó, các lực lượng CS xông tới Trung đội 11 thật gần để vô hiệu tầm yểm trợ của pháo binh. Có lúc đạn trọng pháo nổ cách quân Úc dưới 100m.
Hai trực thăng của Phi đoàn 9 RAAF (Royal Australian Airforce) bay qua cơn mưa xối xả, gần như không thấy đường, thả xuống các thùng đạn dược tiếp tế cho Trung đội 11 đang chịu áp lực địch rất nặng.
Trung đội 11, vừa được tiếp tế xong, bắt đầu rút lui, gặp lại một số binh sĩ Trung đội 12 vừa chạm địch gần đó, rồi tập hợp chung với phần còn lại của Đại đội D.
Lực lượng Úc khai triển vị trí phòng thủ khi cộng quân địch tiến tới gần, chúng tung những đợt tấn công biển người khắp đồn điền cao su.
Sau vài giờ quyết chiến dữ dội, Đại đội B tiếp viện kéo tới, có Đại đội A hộ tống trên các thiết quân vận (Armoured personnel carrier) từ căn cứ Núi đất đến.
Lính Úc tháp tùng M113 thiết quân vận (cũng gọi là thiết vận xa.)
Ba tiếng rưỡi sau khi cuộc tấn công bắt đầu, cộng quân thình lình ngưng chiến và trận đánh dừng lại cũng nhanh như khi bắt đầu.
Hai ngày tiếp theo là hành quân truy kích và thu dọn chiến trường, số cộng quân tử trận rất cao, cấp cứu người bị thương và thu hồi xác các chiến binh tử trận.
Mười tám quân nhân Úc thiệt mạng - 17 của Đại đội D và 1 thuộc Thiết đội 1 quân vận. Hai mươi mốt người bị thương.
Hai trăm bốn mươi lăm cộng quân bị bắn hạ ngay chiến trường, các tài liệu tịch thu sau này cho thấy hàng trăm cộng quân bị giết hoặc bị thương.
Tổng kết trận đánh, quân số của Úc kém 20 lần so với quân số cộng quân, nhưng chống trả mãnh liệt, đồng thời yểm trợ hùng hậu của pháo binh và tiếp tế đạn dược bằng trực thăng, đã đánh bại cuộc tấn công của lực lượng hỗn hợp CS.
Căn cứ Núi đất giữ vững phòng tuyến, giúp chương trình bình định của chính phủ khôi phục lại chính quyền địa phương, đồng thời giữ an ninh khu vực Phước Tuy (Bà Rịa) không để cộng quân quấy nhiễu.
Thất bại trong cuộc tấn công quy mô nói trên là điều Hà Nội không muốn nhìn nhận. 
Tuyên truyền của CS trên wikipedia tiếng Việt, vẫn rêu rao chiến thắng Long Tân và sửa đổi số lượng cán binh tử thương, bị thương. Đồng thời cũng nói là tổng số quân CS tấn công thấp hơn con số thực sự được Úc, hoặc phái đoàn quân sự Hoa Kỳ, hay phái đoàn quân sự VNCH kiểm nhận qua tài liệu tịch thu trong các cuộc hành quân khác trong vùng, hoặc do cung khai tù binh CS bị bắt trong các trận đánh khác.
Thánh giá Long Tân trưng bày tại Bảo tàng Reg Saunders.
Sau 50 năm, thánh giá Long Tân vẫn tồn tại, Hà Nội dù ghét vẫn không dám triệt hạ, chúng biết có ngày chúng phải nhờ vả đến Úc, hay các quốc gia Tây phương.
Quả thật, Hà Nội bây giờ hòa dịu hơn với Tây phương để giao thương dễ dàng, cũng như muốn vay mượn, xin xỏ viện trợ của Úc và các quốc gia tự do, chúng phải nhún nhường yêu cầu Úc nhận lại biểu tượng của trận đánh, tiêu diệt gần 300 thanh niên Việt Nam vì bị tuyên truyền, mù quáng tin theo chủ nghĩa CS và vùi thân giữa rừng cao su xa xôi một cách vô nghĩa. 
Nghèo đói, tham nhũng vẫn tiếp diễn. CS ngày nay thản nhiên bán nước cho Trung cộng, ra tay bóc lột dân Việt rồi ôm tiền bỏ trốn sang Mỹ, Anh, Canada, Pháp, Úc.
Cuộc chiến 20 năm vừa rồi, có ích lợi gì cho ai, dân chúng được gì?
Triệu người đã chết để làm gì? 
Chẳng qua là sự lừa dối cả một dân tộc, do tập đoàn tay sai vô thần CS nham hiểm dựng nên qua bộ máy tuyên truyền theo kiểu Nga, kiểu Trung cộng, áp đặt độc tài, tiêu diệt dân chủ, tự do và tàn bạo dã man đối với toàn dân.
2017-12-07

__________________________________________
Ghi chú:
Bạn đọc tra cứu Wikipedia tiếng Việt cẩn thận các thông tin bị xuyên tạc, nói không đúng sự thật, hay chỉ nói một phần sự việc - các đề tài: chính trị VN, cũng như đề tài quân sự, chiến tranh Việt Nam. 
Tôi có thử vài lần, bọn bồi bút ăn lương của CS VN liên tục canh chừng wiki tiếng Việt, đưa lập luận theo kiểu tuyên truyền, chỉ cho người tra cứu hiểu và nhìn theo cái nhìn của CS.

Tham khảo:

Friday, October 27, 2017

TẠI SAO TƯỞNG NIỆM ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM ?

  • 2 tháng 11 2013
Ngày 02/11/2013 là ngày tròn 50 năm ngày ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu, bị sát hại trong cuộc đảo chính năm 1963.
Và trong những ngày này tại Mỹ, Pháp và một số nước khác, cộng đồng người Việt Nam – trong đó có không ít người Công giáo – đã và sẽ tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho họ.
Riêng ở Việt Nam vào trưa ngày hôm nay (01/11), các Cha Dòng Cứu Thế cũng đã dâng lễ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ở Lái Thiêu, để cầu nguyện cho hai ông. Và có thể, trong các Thánh lễ ngày mai ở Việt Nam và như nhiều nơi khác, cũng có nhiều người nhắc tên và cầu nguyện họ.
Trong 50 năm qua đã có vô số tài liệu, bài viết bằng tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Pháp (của người Việt cũng như người nước ngoài, thuộc nhiều chính kiến khác nhau) về ông Ngô Đình Diệm, về cuộc đời, sự nghiệp hay về gia đình của ông. Trong số đó, có không ít ý kiến cho rằng ông là một vị tổng thống độc tài, bất lực và chế độ tổng thống của ông là chế độ gia đình trị.
Dư luận chung cũng không có ấn tượng tốt về ông, sự nghiệp của ông và gia đình ông, đặc biệt kể từ khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa thành phố Sài gòn vào tháng 6 năm 1963. Biến cố ấy làm cho dư luận thế giới và người Miền Nam lúc ấy nói riêng có thêm ác cảm với ông và nó cũng là một lý do quan trọng dẫn đến sự thất bại của Đệ nhất Cộng hòa do ông thiết lập.
Việc ông bị ám sát hụt hai lần trước đó và bị đảo chính rồi bị ám sát năm tháng sau vụ tự thiêu ấy cũng chứng tỏ rằng ông có không ít kẻ thù, trong đó có những người từng là thuộc hạ, gần gũi với ông.
Hơn nữa, ông và gia đình ông bị nhiều người – trong đó có những ‘người thắng cuộc’, những người không cùng chung chuyến tiến với ông – ghét và bôi nhọ một phần vì ông và gia đình là những người chống Cộng, là những người ‘bại trận’.
Nhưng điều đó không có nghĩa là ông bị tất cả mọi người ghét bỏ hay không ai nhìn nhận, tôn trọng ông và những đóng góp của ông. Việc hàng năm và đặc biệt năm nay có nhiều người, nhiều nơi tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho ông chứng minh điều đó.
Câu hỏi đặt ra là tại sao vẫn có người yêu mến và tôn trọng ông?

Một người liêm khiết

Dù có thể có nhiều học giả, các nhà nghiên cứu không đánh giá cao về ông, nhưng đa số đều nhận định rằng ông là một người trung thực, đạo đức, liêm khiết. 

Trong cuốn ‘Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War in Vietnam: 1950-1963’, xuất bản năm 2006, Seth Jacobs – một trong những học giả nước ngoài viết khá nhiều về ông Ngô Đình Diệm và cũng có cái nhìn không mấy thiện cảm về ông – vẫn thừa nhận rằng ông là một người trong sạch, vô vị lợi. Vì theo tác giả này, thậm chí sau khi trở thành tổng thống, ông vẫn sống một cuộc sống khổ hạnh.

Một bài viết của James MCAllister và Ian Schulte có tựa đề ‘The Limits of Influence in Vietnam: Britain, the United States and the Diem Regime, 1959–63’, được đăng trong tạp chí Small Wars and Insurgencies, năm 2006, cũng cho rằng ông Diệm là một người liêm khiết, đức hạnh.
Theo cựu Ðại tá Lý Trọng Song – nay là Phó tế vĩnh viễn (thường được gọi là Thấy Sáu Song), hiện đang giúp tại Cộng đoàn Công giáo London và người đã từng làm cận vệ cho ông Ngô Đình Diệm trong Phủ Thủ tướng và Phủ Tổng thống từ năm 1954 đến 1956 – ông là một người có lối sống rất đơn sơ, nghèo khó. Chẳng hạn, giường ngủ của ông chỉ là một cái divan (một tấm ván) trải bằng chiếu, không có nệm.
Có thể ngày hôm nay có không ít người cảm phục ông Diệm vì họ tìm ở nơi ông những đức tính đó – đặc biệt khi họ đọc và biết được tham nhũng đang trở thành quốc nạn tại Việt Nam.
Cũng theo cựu Đại tá Song, ông Diệm là một người có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín vì ông xuất thân từ một gia đình hiếu học, làm quan và chịu nhiều ảnh hưởng của cả Công giáo và Nho giáo.
Ông có đời sống khổ hạnh một phần cũng vì trong những năm 1940 và 1950, ông đã từng sống trong các đan viện tại Bỉ và Pháp. Một chi tiết được Thầy Sáu Song nêu ra để giải thích tại sao ông Diệm không lập gia đình – một điều nhiều người đặt câu hỏi về ông – là vì ông Diệm đã đi tu trong dòng Ba của dòng Benedicto, một dòng khổ tu ở Bỉ. Và vì đã khấn trong dòng này, ông không nghĩ tới chuyện lập gia đình và chỉ biết ‘thờ phượng, kính mến Thiên Chúa và lo cho quốc gia, dân tộc’.
Các tài liệu viết về ông, đặc biệt sách vở, báo chí nước ngoài, đều nhấn mạnh rằng ông là một người Công giáo đạo hạnh, thánh thiện. Đây cũng là một lý do tại sao trong những ngày này người Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho linh hồn ông – người có Tên Thánh là Gioan Baotixita (hay John Baptist theo tiếng Anh).
Hơn nữa, ông và ông Nhu bị ám sát vào ngày 02/11 – đúng ngày Giáo hội Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã qua đời. Vì vậy, đâu đó có những Thánh lễ cho ông cũng là chuyện bình thường và là việc nên làm.

Một người yêu nước

Hàng năm vẫn có người đến viếng mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm trong nước
Một điểm khác về ông đều được nhiều người công nhận đó là ông là một người yêu nước, yêu dân tộc. Chẳng hạn, trong cuốn ‘Patriots and Tyrants: Ten Asian Leaders’ xuất bản năm 1999, Ross Marlay và Clark Neher, nhận định rằng cả ông và Hồ Chí Minh đều là những người yêu nước nồng nàn. Có điều định mệnh, thời cuộc và chính kiến đã biến họ thành kẻ thù của nhau.
Một chi tiết được các tài liệu đề cập đến khi viết về ông đó là việc ông từ chức Thượng thư Bộ lại (gần tương đương với chức Thủ tướng) trong chính phủ Bảo Đại năm 1933 để phản đối việc Pháp không tiến hành những cải cách cần thiết để trao thêm quyền tự trị cho Việt Nam.
Trong bài ‘Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945-54’ – được coi là một trong những nghiên cứu quan trọng, trung thực về ông Ngô Đình Diệm – được đăng trên Journal of Southeast Asian Studies, Edward Miller nêu rằng trong thời gian ông Diệm nắm quyền (1954-63), có nhiều người ở Việt Nam và những nơi khác mô tả ông như là một con rối của Mỹ được Washington đưa lên nắm quyền và giúp đỡ nhằm thực hiện những mục đích của Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh.
Nhưng theo tác giả này, các tài liệu được viết từ những năm 1960 trở về sau đều nhấn mạnh việc ông nhất quyết từ chối những lời khuyên của Mỹ và không muốn chịu sự chỉ đạo của Mỹ. Việc ông và chính quyền Mỹ cuối cùng chia tay nhau là một ví dụ.
Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng nhấn mạnh rằng Tổng thống Diệm chỉ muốn nhận viện trợ của Mỹ chứ không chịu sự áp đặt, can thiệp của Mỹ và nhất quyết từ chối cho lính Mỹ vào Miền Nam Việt Nam vì ông cho rằng cho quân đội nước ngoài chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam làm cho chính phủ của ông mất chính nghĩa.
Cũng theo người cựu cận vệ này, ông Diệm là một người yêu dân, yêu nước, yêu dân tộc vì nếu không ông có thể chọn ra nước ngoài và tránh bị ám sát. Ông nhắc lại rằng trước những ngày diễn ra cuộc đảo chính, Đại sứ Mỹ ở Sài gòn lúc đó là Henry Cabot Lodge gọi điện thoại cho ông Diệm và ‘nói rằng nếu ngài muốn an toàn thì tới Tòa đại sứ’ và ông Diệm đã trả lời ‘đây là đất nước của tôi, tôi không đi đâu hết’.
Hơn nữa, cũng như Edward Miller nêu lên trong bài báo của mình, trong những giai đoạn 1945-54 ông bôn ba ở ngoại cũng chỉ vì muốn tìm con đường giúp đất nước thoát khỏi ách đô hộ của Pháp và giành tự do, độc lập. Trong cuốn sách của mình, Seth Jacobs cũng nêu lên rằng có thể người dân Miền Nam không thích ông như họ tôn trọng ông và khâm phục tinh thần dân tộc mạnh mẽ nơi ông.

Giai đoạn khó khăn

Ngoài ra, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng ông là một người có tầm nhìn, có tài. Nếu không ông chẳng bao giờ có thể trở thành Thủ tướng, Tổng thống và lập nên nền Đệ nhất Cộng hòa.

Nhưng trong thời năm nắm quyền của ông, miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung, cũng như bất cứ quốc gia nào trong thời đầu hậu thuộc địa, phải đối diện nhiều khó khăn.
Những khó khăn đó một phần do tích cách, quan điểm hay chính con người ông tạo nên. Chẳng hạn Ross Marlay và Clark Neher nêu rằng ông ‘là người không thực cho một hoàn cảnh không thể’. Theo hai tác giả này là một người Công giáo nhiệt thành ông lại lãnh đạo một đất nước đa phần Phật giáo và những đức tính của ông lại trở thành những nhược điểm hủy hoại ông.
Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng cho rằng vì ông quá thánh thiện, nhân từ ông bị nhiều người khác lợi dụng, ám hại.
Rồi bối cảnh miền Nam Việt Nam, Việt Nam và thế giới nói chung lúc ấy cũng không dễ dàng gì để có thể xây dựng một thể chế vững mạnh, hiệu quả, một xã hội dân chủ, tự do và một đất nước hòa bình, phát triển trong một thời gian ngắn.
Nhưng chỉ trong một thời ngắn ít hay nhiều ông đã làm được một số việc quan trọng. Chẳng hạn, như Đại tá Lý Trọng Song nêu lên, ông đã giúp dẹp được các phe nhóm, đảng phái gây bất ổn cho Miền Nam lúc đó. Theo Seth Jacobs đây cũng là một thành công của ông được người Miền Nam ghi nhận.
Và trên hết, như Edward Miller nhận định, việc anh em ông bị lật đổ không thể chứng minh được rằng những ý tưởng, dự định của họ là luôn xấu, vô hiệu. Sau biến cố 1963, Miền Nam Việt Nam thay đổi tổng thống, chính phủ liên miên và mọi chuyện càng tệ hơn.
Đâu đó có nhiều ý kiến cho rằng ông là một người độc tài. Nhưng nếu so sánh ông, chính phủ ông với những chế độ cầm quyền ở Đông Á, Đông Nam Á hay ở Miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn ấy, chưa chắc ông đã độc tài hơn những chế độ đó.
Đặt ông trong bối cảnh như vậy, ít hay nhiều để thấy rằng cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ nhất Cộng hòa ông thiết lập không tệ như mọi người nhận định, mô tả hay được nghe.
Đó cũng là một lý do đâu đó có nhiều người Việt hải ngoại tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện và công nhận đóng góp của ông trong những ngày này.
Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả, một trí thức Công giáo hiện làm nghiên cứu tại Viện Global Policy, London.

Thursday, September 28, 2017

SỰ DỐI TRÁ TRẮNG TRỢN CỦA TRUYỀN THÔNG MỸ VỀ CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

*Chelsea Schilling/Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược dịch


                                   Cảnh trại tù CS trong phim “Ride the Thunder.”

 
Nào là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1960. Nào là hình chụp giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm… Ðó là những hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.
Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em. Ðồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.

Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhản khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu trước thảm họa này?
Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu với tựa đề: “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là “Lội ngược dòng oan nghiệt: Sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,”trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 Tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.
Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh!
Botkin cho tạp trí mạng Worldnetdaily (www.WND.com) biết như sau: “Những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến.” Botkin còn cho biết thêm: “Có cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào ngày 16 Tháng Ba năm 1968.”
Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng, không thể thiên lệch như vậy.” Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, Tổng Thống Nixson đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: “Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch.”
Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: “Apocalypse Now,” “The Deer Hunter,” “Good Morning, Vietnam,” “Rambo,”… hay “Full Metal Jacket” cũng chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối đầu trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa Cộng Sản.
Nhà làm phim Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người lính Mỹ tham chiến tại VN đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng, độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp.”
Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, cũng là người viết cuốn sách “Lội ngược dòng oan nghiệt” (“Ride the Thunder”) để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu này được dựng lên, sau khi đích thân ông đi điều nghiên tại những nơi xảy ra giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, đều khẳng định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai! Botkin giải thích như sau: “Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của chúng tôi nhằm xóa đi những lầm lạc về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông(Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng.”
Vào thập niên 1970, theo chương trình “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” của Tổng Thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên và chẳng còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân theo kế hoạch tổng tấn công vào mùa Hè năm 1972, nhằm cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé này thoát khỏi tình thế nguy ngập.
Người thật việc thật – cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại Ðông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố vấn quân sự của Mỹ. Sự kiện anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng Sản Việt Nam như bị bỏ đói và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư tòa án xét xử)gọi là trại “học tập cải tạo.”
Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông Bình là diễn viên Joseph Hiếu. “Chúng tôi mở đầu bằng hình ảnh ông Bình trong trại tù tập trung “học tập cải tạo” rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau Ðệ Nhị Thế Chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”
Trung Tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American Silver Star. Botkin giải thích thêm: “Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối. Thông qua cuộc đời của Trung Tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết.” Khi cuộc chiến đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng Sản. Bao nhiêu người bị bỏ tù hoặc bị tử hình.
Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản, cựu chiến binh, thuyền nhân; trong ấy có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.
Botkin tâm sự thêm: “Ðối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải chỉ là để kiếm tiền mà là thể hiện lên nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy có trách nhiệm phải nói lên sư thật. Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã bị buộc phải nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ.” Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim theo Botkin, đã giúp toàn khối Ðông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản vốn lúc ấy đang lây lan mạnh, cũng như để họ có hòa bình ổn định và phát triển.
Botkin nói: “Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonesia và Thái Lan. Bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền thông như đã nghe đã thấy, sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ chấn hưng và phát triển để có thể đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, nếu không có nỗ lực của người Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như ngày nay.” “Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay,” Botkin bàn thêm, “Chúng ta đang loay hoay tìm lại chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn (cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân bản tốt đẹp cho thế giới.”
Rồi ông Botkin khẳng định: “Chúng ta đã cứu thế giới vào thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”
(26.5.2017)
(Nguồn: danlambaovn.blogspot.com; http://www.wnd.com/2015/03/medias-vicious-lies-on-vietnam-finally-exploded/)

Sunday, September 10, 2017

CỜ MANG HỒN ....VC.

Bảo Giang (danlambao)

10/Sep/2017

Cờ 6 sao xuất hiện chính thức lần thứ ba tại Hà Nội. (2011 - ngay tại phủ chủ tịch VC! ảnh: Vietnamnet)

Viết nhân ngày lưu ký Việt cộng cướp chính quyền 2/9/1945.

 

Qụa là một loài ác điểu. Xem ra, nó cũng có một vài loại là những con tương cận, nhưng không có bạn bè và cũng chẳng có loại nào muốn sống gần bên nó. Nó không thể gần gũi được với những loại chim trời vì những lý do cơ bản sau:

a. Loài phản trắc, không biết làm tổ, chỉ đi đẻ nhờ. Khi nó vào đẻ nhờ nhà người khác thì thường ăn thịt chim non hay đập phá, mổ hết trứng của loài chim gốc.

b. Loài ác thú. Nó chỉ rình mò kiếm ăn trên những xác chết thối, hay ăn thịt các con chim non, chim gìa yếu đuối hoặc nhỏ hơn nó.

c. Hình dạng. Nó có một màu đen tối tăm, dơ bẩn, từ đầu đến cuối.

Đời nó thế, nhưng thật khó để trách chúng. Bởi lẽ, chúng là loài vô tri chỉ sống theo bản năng. Hơn thế, khéo mà Trời cũng không cho nó cái bản năng biết nuôi dưỡng con cái của mình, nên phải đi đẻ nhờ và nhờ kẻ khác nuôi nấng chủng loại của mình. Tuy thế, cái khốn nạn nhất của chủng loại này là những đứa con được nuôi nhờ từ tổ ấm không cùng giống loài kia, khi lớn lên, chúng trở thành kẻ săn đuổi, ăn thịt thay vì báo dưỡng kẻ đã ấp ủ, nuôi dưỡng mình! Nó giống như hoàn cảnh người Việt Nam nuôi dưỡng VC để hôm nay rước lấy họa cho dân tộc mình.

Khi tôi viết đến bản chất của loài qụa này, hẳn nhiên, bạn đã thấy có câu chuyện của một loài cũng thuộc giống người, nhưng nó có những đặc thù như loài qụa đen trong giống chim trời sống ở trên phần đất gọi là Việt Nam. Ở đó, trước kia thì không! Nhưng từ khoảng 02-9-1945, đúng ra là từ 3-2-1930 đến nay, nó ẩn hiện ngay trước mắt, đôi khi lấn cả vào trong từng gia đình rồi để lại những dấu búa, nhát dao tàn bạo trong đời sống của người Việt Nam! Những hình ảnh của chúng được lưu ký như sau:

I. Ghi nhận từ bên ngoài.

Trong cuốn “Why Vietnam?, Prelude to America’s Albatross” của Archimedes L.A. Patti (1913 – 1998) cho biết: Parti một Trung Tá trong quân đội Hoa Kỳ, là người chỉ huy các cuộc hành quân của tổ chức Office of Strategic Services (OSS), tiền thân của CIA, chống Nhật ở Côn Minh (Vân Nam) và Bắc Việt trong những năm 1944 và 1945 với những hoạt động như sau:

Năm 1944, với trợ giúp của Mỹ, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng giới Thạch, qua Trương phát Khuê đã yêu cầu Việt Cách ( Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội) tổ chức một hội nghị nhằm đưa người trở về Việt Nam hoạt động chống Nhật. Kết qủa, trong cuộc họp tại Liễu Châu vào ngày họp 19-3-1944, hâu hết những người hoạt động trong Việt Cách đều không muốn xung phong trở về. Tuy nhiên, có một người được chính Trương phát Khuê ra lệnh thả ra khỏi tù, và cũng do TPK xắp xếp là Hồ Chí Minh giơ tay xung phong trở về Việt Nam. Từ việc tình nguyện này, Hồ được cấp một giấy thông hành dài hạn do THQG ký, một bản đồ quân sự, một số tiền bạc và 20 cán bộ do Y lựa chọn. Đa số những người được lựa chọn là đảng viên đảng CS. Trong đó có Nguyễn thị Lạc, người về sau được cho là đã có một con gái với HCM, nhưng đã bị Y thủ tiêu cả hai mẹ con. Và vào khoảng tháng 7 năm 1944, khi đến Bắc Giang, có hai cán bộ trong đoàn bị Y giết vì không chịu theo Đảng Cộng Sản.

II. Tình hình tại Việt Nam.

Trong khi đó tình hình tại Việt Nam diễn ra như sau: Ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 10.3.1945 Tổng Tư Lệnh Nhật tại Đông Dương tuyên bố: “Chánh phủ Đông Kinh long trọng trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng lập khối thịnh vượng chung Đông Nam Á”.

Trong tình hình này, Bảo Đại tuyên bố nền Độc Lập của Việt Nam:

Tuyên cáo Việt Nam Độc lập là tên gọi một đạo dụ được hoàng đế Bảo Đại ký ban hành ngày 11 tháng 3 năm 1945. Đạo dụ này tuyên bố hủy bỏ mọi ràng buộc chính trị giữa An Nam và Đế quốc Thực dân Pháp, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác đã ký với Pháp, công nhận vai trò lãnh đạo vùng Đông Á cũng như quyền trưng dụng mọi tài sản tại Việt Nam của Đế quốc Nhật Bản, đồng thời tiên khởi cho những biến động mới trên lãnh thổ Việt Nam. Nó đưa đến sự thành lập chính phủ Việt Nam vào ngày 7 tháng 4 năm 1945…. Cứ theo tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.(vikipedia)

Ngày 12.3.1945 Cao Miên cũng tuyên bố độc lập. Trong vùng đông dương, Lào tuyên bố độc lập chậm nhất, vào ngày 15.4.1945. Riêng tại Việt Nam, ngày 17.4.1945 chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Thành phần chỉnh phủ gồm 10 bộ trưởng và ông là Tổng Lý Nội Các (Thủ Tướng).

Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Thủ tướng Trần Trọng Kim vào ngày 16/8/1945 khẳng định sẽ bảo vệ nội các Đế quốc Việt Nam. Ngày 18/8/1945, vua Bảo Đại đã gửi thư cho cho các cường quốc Đồng Minh (Anh, Pháp, Mỹ và Trung Quốc) đề nghị công nhận Đế quốc Việt Nam là chính phủ đại diện của Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả các bức thư đều không được trả lời. Lý do, theo Tuyên bố Cairo, các nước khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế quốc Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ bị chiếm đóng.

Trong khi đó, sau khi Nhật đầu hàng, vào sáng 19.8.1945, khi quân Nhật vẫn còn đứng gác trên các đường ở Hà Nội, Việt Minh và các tỏ chức hô hào dân chúng đến biểu tình trước Nhà Hát Lớn. Đoàn người biểu tình sau đó đã chiếm Nhà Hát Lớn và lá cờ đỏ có một sao ở giữa của Phúc Kiến lần đầu tiên xuất hiện ở đây. Nhìn cờ, nhiều ngưòi ngỡ ngàng vì nó không phải là hình ảnh lá cờ Vàng quen thuộc của Việt Nam trước kia.

Ngày 23.8.1945 Việt Minh kéo về công bố chính phủ lâm thời. Vào ngày 25.8.1945, tại lầu Ngọ Môn, Huế, Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị. Sau đó Bảo Đại trao quốc ấn và bảo kiếm cho đại diện của Việt Minh là Trần Huy Liệu, và Củ huy Cận. Tưởng cũng nên nhắc lại, Trần huy Liệu là kẻ đã gian trá tạo nên câu chuyện thiếu niên Lê văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng của địch cách đó cả trăm mét. Xem ra trên thế gian này thật khó kiếm ra những kẻ lưu manh, gian trá lừa đảo người ta tài tình như thế. Tuy nhiên, Với cộng sản thì đây lại là thành tích lẫy lừng, góp công sức lớn cho đảng! Đó là lý do, bài học và công viên Lê văn Tám đến nay vẫn là một mốc điểm quan trọng để Việt cộng tôn thờ, học tập và nó trở thành chủ đề thách thức sự hiểu biết của người Việt Nam.

Trước đó, từ ngày 22.8.1945, Archimedes L.A. Patti cùng với Carleton B. Swift Jr (OSS) và một viên chức Pháp đã đến Hà Nội lo về các tù binh. Ngày 26.8.1945, Patti đã gặp lại Hồ Chí Minh và Patti chính là người đã giúp soạn bản tuyên ngôn độc lập phỏng theo bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

III. Cờ tổ quạ và chuyện đất nước tôi.

Gần một triệu người Việt Nam đã xanh máu mặt chạy trốn nó từ sau ngày 20-7-1954. Tưởng rằng thoát nợ. Hỡi ơi, trong lúc đàn chim về tổ ấm thì bày qụa đen cũng đuổi theo. Nó cắn, nó xé xác người, xác chim non, không trừ một thứ gì. Đến ngày 30-4-1975, người miền nam mặt không còn một chút máu khi nhìn thấy chúng phe phẩy cái mũ cối ngay trên thành phố của mình. Một lần nữa, người dân lại chạy thục mạng. Từ Trung vào Nam. Rồi từ Nam ra hải ngoại.

Hỏi xem, con tàu nào, máy bay nào có thể chở, đón hết được đoàn người muốn ra đi? Kết qủa là họ phải ở lại, phải quay về với đôi mắt trắng nhìn đàn qụa đen chồm hổm trên sân. Từ đây, sự chết đã đổ xuống cho người dân Việt trong tiếng cười, tiếng quang quang của loài qụa hoang này. Cửa Chùa với lòng từ bi muôn thuở như khép lại và thay thế vào đó là một đoàn xát tăng gỉa hình? Chuông giáo đường không còn ngân vang mỗi khi chiều xuống để đem an bình đến cho lòng người, nhưng phải im tiếng. Gác chuông rêu mốc. Nhiều ngưòi cai quản được mời vào nhà tù không có ngày về. Rồi trên gác cao kia có loài qụa đen tuyền đứng nhìn xuống, chúng rình rập, chờ mồi.

Ngày nay, chuyện cờ đỏ và con qụa đen xem ra không còn là câu chuyện, nhưng nó là sự hiện diện nghiệt ngã trên quê hương Việt Nam. Ở đó, dưới lá cờ đỏ sao vàng, cộng sản không ngừng gian trá truyền đi sự ảo tưởng cho người dân về một đất nước độc lập, một đất nước tự do đang phát triển dưới cờ đỏ. Ở đó, không còn cảnh người bóc lột người. Kết qủa, ở đó không còn cảnh người bóc lột người. Chỉ có cảnh cán cộng, qụa đen ngày đêm thi nhau gầm rú, rỉa rói trên thân xác của người Việt Nam mà thôi.

Phần nhân dân, cả một đời lam lũ không hề biết đến chữ nước có độc lập, dân có tự do, có hạnh phúc dù có cái bảng thật to ngay trên đường. Trái lại, dưới chân những tấm bảng hiệu lớn nhất ấy là một đoàn người thống khổ, trên mình mang đầy thương tích, khổ đau. Và nằm ngay trên đường đi kia là những thân xác rã rời, hay ngã xuống trong đau thương, uất nghẹn. Mà la! Khi người VN ngã xuống lại trở thành miếng mồi hạnh phúc cho đàn quạ đen VC đánh chén. Chúng vui mừng như trong ngày hội với lá cờ đỏ sao vàng phe phẩy trên tay.

Xã hội là thế. Phần tổ chức thì cho đến nay, người ta vẫn không có thể lý giải được rõ ràng về nguồn gốc lá cờ màu đỏ có một sao vàng ở giữa, mà Việt cộng gọi là cờ của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, là cờ mang đến đau thương tang tóc cho người Việt Nam, là cờ trước kia gọi là cờ của Việt Minh, có nguồn gốc ra sao. Họ cứ mãi quanh co, ù ơ. Kẻ bảo tự phát xuất ở trong nam, kẻ cho là từ Trung cộng. Kết qủa, khi nhìn lại tài liệu, người ta có thể nhìn thấy dẫn chứng sau:

Theo Võ nguyên Giáp, hiệu kỳ này lần đầu do Hồ chí Minh sử dụng tại buổi mở lớp "Con đường giải phóng" huấn luyện cán bộ chuẩn bị thành lập mặt trận đại đoàn kết dân tộc vào cuối năm 1940, và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày "19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” ( tên gọi tắt là Việt Minh). Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến Quân Ca, tuy trong ca khúc có những câu như "...Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,... " nhưng lúc đó Văn Cao cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra “ cờ chiến thắng” theo tinh thần của nghệ sỹ.

Rồi ngày 22/12/1944, lá cờ đỏ sao vàng được Hồ Chí Minh trao cho Võ nguyên Giáp làm lễ khai sinh đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. (wikipedia) Ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trong buổi lễ gọi là tuyên bố độc lập tại quảng trường Ba Đình. Ngày 5 tháng 9 Hồ chí Minh, ký sắc lệnh quyết định cờ đỏ sao vàng là cờ của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, gọi tắt là Việt cộng. Lá cờ này có những chỉ dẫn về nguồn gốc như sau:

a. Nguồn gốc.

Ngày nay thấy có vài chứng liệu cho rằng nó phát xuất từ trong Nam trong khoảng 1940. Tuy nhiên cũng có nhiều bài viết của chính họ phản bác về lập luận này. Theo đó, những hình ảnh dưới đây được xác nhận là nguồn gốc của lá cờ này:



Đây chính là lá cờ được chính quyền tỉnh Phúc Kiến dùng năm xưa (1933-1934). Đây có thể cũng là nơi Hồ chí Minh đã tuyên thệ gia nhập làm đảng viên đảng cộng sản Trung cộng khi hoạt động ở đây? Tuy thế, nó có điểm khác biệt là, sau khi chỉnh sửa thì ngôi sao đã ngay hàng, cánh không còn mang hình bầu như trong hình của cờ gốc ở Phúc Kiến!

Đến nay, cuộc chỉnh sửa này xem ra cũng không còn mang nhiều ý nghĩa nữa. Bởi vì, chính Hà Nội trong những dịp đón rước các quan chức Trung cộng, đặc biệt là trường hợp Tập cẩm Bình đến Việt Nam đã có một chủ kiến khác. Ở đó, trước phủ gọi là chủ tịch nước, và trên đường đón rước Y là đoàn trẻ Việt Nam được mặc áo đỏ, tay cầm cờ đỏ với 6 ngôi sao (một lớn 5 nhỏ) để đón Binh. Trong thực tế cờ của Trung cộng hiện nay chỉ có 1 Sao lớn và 4 sao nhỏ mà thôi. Sau cuộc đón rước Bình, có nhiều nguồn dư luận trong nước xôn sao, nhà nước VC cười trừ bảo là… lầm lẫn. Tuy thế, sự lầm lẫn này không chỉ một lần. Như thế, hỏi xem những công hàm bán nước chúng ký trước đây đều là lầm lẫn cả ư? Hoặc gỉa, nếu biết là lầm lẫn tại sao còn tiếp tục nối đuôi nhau đi chầu TC để có Hiệp Ước Thành Đô, Ở đó Việt Nam sẽ được coi như một phiên quốc của TC vào năm 2020?

Cờ 6 sao xuất hiện chính thức lần thứ ba tại Hà Nội. (2011 - ngay tại phủ chủ tịch VC! ảnh: Vietnamnet)

b. Nhập cư, tang thương và rách nát.

Gần đây xuất hiện trên Internet hiệu kỳ của nhà nưóc Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Cộng với hình dáng bạn thấy ở trên. Thân cờ xem ra đã tan nát, nhưng cái ngôi sao là của Trung cộng vẫn còn Y nguyên. Đó là một điều để chúng ta chú ý. Khi cái mảnh màu đò nát như bươm buớm không còn gía trị thì cái ngôi sao ấy có khi lại được khiêng đi, nối kết vào một lá cờ có đến bốn năm sao có sẵn? Thế là ta mất nước và Hồ chí Minh lại quay về Tàu? Bạn hỏi tại sao ư?

Rõ ràng nó là hình ảnh đi vay mượn. Tự nó không có tự chủ. Và hình như nhà cầm quyền của chế độ này cũng biết chuyện đó nên muốn được di dời cái ngôi sao lẻ bóng ấy vào chung với lá cờ của Trung cộng, như họ đã vờ làm như thế trong ngày đón rước Tập cẩm Bình? Nếu ngày ấy đến, hỏi xem, bạn, tôi và toàn dân ta sẽ là tang thương hay hạnh phúc? Rồi vinh quang rực rỡ có đến với tập đoàn Việt cộng bán nước chăng? Hay là, khi ấy dòng giống Việt Nam chúng ta chỉ có một con đường duy nhất không phải chọn lựa là chờ chết. Chết trong đau đớn tủi nhục như Tây Tạng, Mông Cổ! Chết trong một lịch sử bị nhấn chìm?

IV. Là người Việt Nam, bạn nghĩ gì cho Việt Nam ngày mai?

- Theo Việt cộng, làm nô lệ cho Tàu cộng để kiếm ăn?

- Là người Việt Nam, ta đứng dậy, sống đời Quang Trung?

Tôi cho rằng, chúng ta chỉ có một trong hai con đường ấy để đi. Đường làm Nô Lệ cho cộng sản và đường làm người dân của một nước Độc Lập. Bạn chọn con đường nào?

Đường làm Nô Lệ ư? Tôi vĩnh viễn cho rằng lá cờ đỏ sao vàng ấy sẽ dẫn bạn đến đích. Bởi vì, nó không thuộc về chúng ta và của chúng ta. Nó thuộc về bất nhân và bất lương. Bạn nhớ đấy, ngay từ khi nó xuất hiện, hơn 172000 ngàn ngươi đã bị nó cướp đi mạng sống, gia sản và gia đình của họ. Rồi hàng trăm ngàn gia đình khác phải tan nát. Ấy là chưa kể đến con số hơn 4 triệu người đã chết tang thương trong chiến tranh. Tuy thế, tất cả những khốn khổ đau thương ấy không thấm vào đâu, nếu đem so với việc nó làm suy đồi nền văn hóa của dân tộc ta như hôm nay. Đã tồi tệ như thế, nhưng ngay mảnh sơn hà của cha ông ta để lại cũng sẽ không còn là nơi cho dân ta ở. Bởi, Việt cộng còn, Trung cộng sẽ tràn sang. Những kẻ Nô lệ sẽ được đổi tên và khoác lên mình một manh áo chư hầu.

Là con cháu của Lý Trần Lê Nguyễn… đường Nộ lệ cho Tàu như Việt cộng không phải là con đường của chúng ta. Trái lại phải là con đường vượt qua Đống Đa, ra Chi Lăng chém kẻ cướp nước mà giữ nước. Như thế, hỏi anh, hỏi em, hỏi chị… là người Việt Nam, nếu còn nghĩ đến dân tộc và tương lai của đất nước này mà đành quên đi tiền đồ của cha ông ta ư? Hay hỏi xem, khi thân xác ta tan hòa cùng sông núi, nhưng đất nước này vĩnh viễn thuộc về giòng giống Việt Nam, không thể rơi vào tay bắc phương, điều ấy có đáng làm hay không?

Hỡi nhân dân Việt Nam anh hùng, còn chờ gì nữa, hãy đứng dậy mà đi. Hãy chung nhau một vòng tay. Hãy cùng nhau một lời quyết chiến. Thề đạp tan sự thống trị độc ác của tập đoàn CS mà viết lại trang sử Nhân Bản cho nhà Việt Nam. Để ở đó, không phải là nơi cho lá cờ máu của CS trú ản để chúng mang oan khiên, độc ác đến cho người dân. Ở đó không còn là nơi để cho các đoàn đảng viên Tàu cộng, Việt cộng nhớn nhỏ đấu tố cuộc sống an bình của con dân Việt Nam. Trái lại:

Ở đó là một Việt Nam mến yêu, nơi đem yêu thương và sức sống nhân bản đến cho mọi người dân Việt Nam. Ở đó là nơi mở ra, đong đầy khát vọng của Tiên Long. Là tổ ấm, là nhà Việt Nam cho mọi người Việt Nam cùng chung sống Hòa Minh bên nhau trong tự tình Dân Tộc. Cùng chung tay xây dựng Hoà Bình, Công Lý. Cùng chung tay xây dựng đời sống Dân Sinh trong Tự Do, Dân Chủ và bảo vệ nền Độc Lập trường cửu của Tổ Quốc Việt Nam.

Bảo Giang.

9-9- 2017