Sunday, September 3, 2017

02 THÁNG 9 NĂM 1945, NGÀY VIỆT MINH CƯỚP CHÍNH QUYỀN ?


“Việt Minh lập hội tiêu Công Lý,
Cộng sản kết bè hết Tự Do.”

Bảo Giang (Danlambao) - Tại sao người Việt Nam gọi ngày 2-9-1945 là ngày Việt Minh cướp chính quyền?

Câu trả lời xem ra khá đơn giản. Một năm có 365 ngày, ngoại trừ những ngày được coi là linh thiêng đầu năm mới ra, theo nguyên tắc, mọi ngày đều giống nhau. Mọi ngày đều tốt lành để cho con người được chung hưởng, sinh sống và thăng hóa. Tuy nhiên, vào một ngày có những biến cố, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của nhân sinh, người ta thường đặt cho nó một cái tên để lưu ký và nhắc nhở những người có liên quan cùng nhau chia sẻ niềm vui hay cái nỗi bất hạnh đã xảy ra trong ngày đặc biệt này.

Thí dụ như: Ngày Giáng Sinh, Ngày Phật Đản, ngày Lễ Tạ Ơn. Ngày sụp đổ bức tường Bá Linh v.v… là những ngày vui mừng đáng cho mọi người ghi nhớ. Việt Nam cũng không có ngoại lệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 20 lại có đến 4 ngày được lưu ký trong mốc của lịch sử. Những ngày này có Ý nghĩa, tầm mức ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân khác nhau. Có ngày đáng vui mừng có ngày gây ra tủi nhục và bất hạnh cho cả dân tộc. Tuy thế, ba trong số đó được gọi là ngày “quốc khánh” (dù chỉ là ở Nam hay Bắc). Liệu có đúng hay không? Những ngày đó là:

1. Ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại ký Đạo Dụ “Tuyên cáo Việt Nam Độc Lập”, tuyên bố hủy hòa ước Patenôtre ký với Pháp vào năm 1884, cũng như xóa bỏ các hiệp ước chịu nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, đồng thời khôi phục nền Độc Lập của đất nước, và thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ lại thành một quốc gia với một chính phủ.

2. Ngày 2/9/1945, ngày Việt Minh dưới sự bảo trợ của Tàu cộng đã cướp công kháng chiến chống Pháp của toàn dân và cướp chính quyền hợp pháp của Việt Nam do thủ tướng Trần Trọng Kim lãnh đạo. Ngày này được gọi là ngày quốc khánh của Việt cộng

3. Ngày 26-10-1956, Ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm công bố thành lập nền Cộng Hòa theo thể chế Tự Do Dân Chủ, bãi bỏ nền quân chủ chuyên chế tại Việt Nam. Đây là ngày Quốc Khánh của Việt Nam Cộng Hòa.

4. Ngày 1-11-1963, ngày một nhóm tướng phản loạn đã dùng binh lực của Việt Nam làm cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền và giết vị Tổng Thống hợp pháp hợp hiến của Việt Nam. Cũng được gọi là ngày Quốc Khánh!

I. Ngày 11-3-1945

Khi xét về quan điểm lịch sử chính dòng và vị thế của người công bố thì ngày 11/3/1945 có lẽ đáng được trân trọng là ngày Quốc Khánh của Việt Nam hơn cả. Lý do, người công bố là vua Bảo Đại, người lãnh đạo đương nhiệm thuộc chính dòng tộc mà cha ông của ông đã phải ký nhận chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp cách dây gần một trăm năm. Nay về danh nghĩa, chính người nối dòng của triều đại này đang ở trên cùng một cương vị ra Tuyên Cáo Việt Nam Độc Lập, hủy bỏ các văn kiện nhận bảo hộ. Khôi phục, thống nhất ba miền Bắc Trung Nam thì phải kể là một văn bản có giá trị thi hành. Tuy nhiên, cái vị thế ấy là không đủ. Chính sự vô năng lực của người ký Đạo Dụ đã làm cho bản văn chỉ có ý nghĩa trên giấy mà thiếu hẳn phần thi hành. Ấy là chưa kể đến việc, chính bản thân Bảo Đại đã đầu hàng kẻ cướp chính quyền của Việt Nam sau đó mấy tháng mà không có lấy một lời phản kháng nào. Từ đó, ngày 11/3/1945 bị rơi vào quên lãng, chẳng có mấy người biết đến.

II. Ngày 26-10-1956.

Ngày này đã một thời được coi là ngày Quốc Khánh của Việt Nam. Được coi trọng là ngày Quốc Khánh theo cả hai nghĩa. Ngày vui mừng, ngày đổi mới của đất nước, vì từ đây đất nước theo thể chế Cộng Hòa, loại trừ vĩnh viễn đế chế quân chủ ra khỏi đất nước. Về sinh hoạt, từ đây đất nước bước vào cuộc sinh hoạt trong Dân Chủ và Tự Do. Không còn cảnh con vua thì lại làm vua để trị vì đất nước dù vô cùng ngu muội, bệnh hoạn.

Về đối ngoại thì sau ngày này, lá cờ của thực dân Pháp đã bị kéo xuống khỏi kỷ đài trên phủ toàn quyền và thay vào đó là Quốc Kỳ của Tổ Quốc Việt Nam. Đây là biểu hiệu chấm dứt hoàn toàn sự lệ thuộc vào chủ nghĩa bảo hộ của ngoại bang. Đây là một việc làm đầy ý nghĩa và chính danh mà Bảo Đại sau biết bao nhiêu năm cố gắng, hoặc giả, cả chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim, hơn bốn tháng cầm quyền từ sau ngày vua Bảo Đại tuyên bố Độc Lập cho tổ quốc đã không thể hạ nổi lá cờ này xuống khỏi cái cột ngạo nghễ kia. Nhưng chỉ một ngày sau khi công bố thành lập nền Cộng Hòa cho Việt Nam, TT Ngô Đình Diệm và nội các của ông đã hoàn thành nhiệm vụ giải thể chế độ bảo hộ của Pháp tại Việt Nam.

Về mặt nhân dân và đời sống. Ai muốn nói gì thì nói. Ai muốn lên án vị lãnh đạo của thời gian này là Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì cứ việc lên án theo ý riêng của họ. Nhưng có một điều không ai có thể chối cãi, kể cả chính những kẻ lên án ông, chỉ trích ông, phê bình ông, cũng như tập đoàn CS đang tìm cách phá hoại nền Cộng Hòa do ông vun trồng, đều phải công nhận những điểm son trong thời đệ nhất cộng hòa, và xác định là không có bất kỳ một người Việt Nam nào khác, kể cả lãnh đạo CS tại miền bắc đạt được thành tích vì dân vì nước như ông.

Thứ nhất, ông là một vị Tổng Thống mẫu mực, đạo hạnh và liêm chính và sống vì dân vì nước. Rồi, dưới thời của ông người dân được hưởng một cuộc sống thái hòa an lạc, những phường trộm cướp đầu đường xó núi (VC) thì lo trốn chui trốn nhủi trong hang chờ chết. Kế đến, về phương diện ngoại giao, ông là một người duy nhất đã làm cho tổ quốc Việt Nam bừng sáng trên trường quốc tế, làm cho các lân bang và đồng minh kính nể, ngưỡng mộ. Bởi vì ông là một vị lãnh đạo duy nhất ở Đông Nam Á, chỉ sau mấy năm lãnh đạo đất nước, đã đến thăm Hoa Kỳ theo lời mời của TT Eisenhower.

Ông đã được chính vị anh hùng giải phóng Âu Châu là Tổng thống đương nhiệm ra tận chân máy bay để đón tiếp. Sau đó cả hai cùng ngồi chung trong một chiếc xe mui trần chạy dọc theo những đại lộ chính để về dinh Quốc Khách hội họp, nghỉ ngơi và đến đọc diễn văn tại Quốc Hội lưỡng viện Hoa kỳ. Chính trong bài diễn văn ngắn gọn này, một lần nữa ông đã chứng tỏ bản lãnh và ý thức Độc Lập của Dân tộc Việt Nam ra trước công luận của thế giới khi công bố: "Chúng tôi khẳng định mục đích chính đáng duy nhất của nhà nước là bảo vệ quyền trường tồn, quyền phát triển tự do, trí tuệ, đạo đức và tinh thần căn bản của con người trong đời sống” Ngô Đình Diệm .

Ai đó đừng “chạm giây” cho rằng, tại vì Mỹ là đồng minh là bảo hộ cho miền Nam nên mới đón tiếp ông Diệm như thế, chứ hay ho gì? Nếu ai dại dột nghĩ như thế thì hãy nhìn lại thân phận Hồ Chí Minh xem sao? Y sang Trung quốc mười lần thì lén lút đi bộ, lên xe lửa đến tám lần. Hỏi xem có lần nào lãnh đạo Nga, Trung cộng ra đến tận sân bay đón Y chăng? Xem thế, phận nô lệ không thể đem so với tình bằng hữu!

III. Ngày 1-11-1963 thì thế nào?

Thật là chẳng may cho người Việt Nam khi ở miền Nam có nhóm tướng phản loạn, nay thì đã được công khai hóa là nhận tiền của Mỹ để giết hại vị Tổng Thống hợp pháp hợp hiến của miền Nam trong cuộc đảo chánh. Sau đó, lại còn tròng vào cổ người miền Nam cái ngày phản loạn ấy là ngày Quốc Khánh! Sát nhân lại có thể sính với anh hùng ư? Thật chả còn ra một một cái thể thống và ý nghĩa gì. Ngày của những kẻ phản bội dân tộc lại được nhóm phản loạn này khoác cho một cái áo choàng là ngày mừng cho cả nước! Nhìn lại, mọi người như đều đồng ý rằng, đây chính là ngày khởi đầu cho cuộc bi thảm ở miền nam. Rồi từ bi thảm này được kết thúc bằng một tai họa đem đến bất hạnh lớn cho cả dân tộc từ sau ngày 30-4-1975. Nó lẽ ra là ngày không đáng nhắc đến nữa.

IV. Ngày 2-9-1945 ra sao, có là ngày quốc khánh?

Có lẽ không chỉ riêng tôi, gia đình tôi, bạn bè thân hữu của tôi, nhưng là tuyệt đại đa số lên đến trên 90% người dân Việt Nam, nếu được hỏi ý kiến thì tất cả sẽ trả lời một cách dứt khoát là Không. Nó không bao giờ nó xứng với cái danh vị ấy. Trái lại, nó rất xứng hợp với cái tên gọi là ngày Việt Minh cướp chính quyền. Lúc trước nó đơn giản được hiểu là ngày Hồ Chí Minh dùng bạo lực như bọn trộm cướp, để cướp chính quyền từ tay của một chính phủ hợp pháp của một nước đã thu hồi Độc Lập. Ngày nay, khi lý lịch cá nhân là người Tầu, hoặc là đảng viên đảng cộng sản TC của Hồ Chí Minh từng bước thành sáng tỏ, nó còn mang thêm một cái nghĩa đau đớn khác nữa là, Hồ Quang và tập đoàn cộng sản theo Tàu đã cướp chính quyền của Việt Nam, đẩy Việt Nam vào vòng nô lệ bành trướng của phương bắc. Nếu đúng như thế thì không còn gì bất hạnh hơn. Sự việc này có diễn tiến như sau:

1. Những sự kiện trước ngày cướp chính quyền 2-9-1945.

- Ngày 3-2-1930, một nhóm gồm 7, 8 người đã tập họp lại với nhau và thành lập đảng cộng sản Đông Dương tại Hồng Kông, dưới sự chỉ đạo của cộng sản quốc tế, trực tiếp là Nga và Tàu lãnh đạo, trách nhiệm.


- Một trong 8 người này vào năm 1938, xuất hiện trong vai thiếu tá tình báo, phụ trách ngành điện báo thuộc Bát Lộ Quân trong quân đội nhân dân giải phóng Trung cộng với lý lịch như sau: “Sơ yếu lý lịch của Huguang (tức c/t Hồ Chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi - Phụ trách điện đài – Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam - Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员—38岁—-广东—-少校 —-毕业于岭南大学——中学教师。会外语和国语 .

- Thiếu tá Huguang vào địa giới Việt Nam lần đầu tiên vào ngày 28 tháng 01 năm 1941. (Y mang về đây lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Phúc Kiến, nơi y tuyên thệ vào đảng cộng sản TC)? Đến tháng 8-1942 ông ta trở lại Trung quốc, bị bắt vì giấy tờ đã hết hạn. Khi bị bắt Y khai tên là Hồ Chí Minh. Đến tháng 9-1944 HCM trở lại Việt Nam và cuối năm 1944 trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945 quay lại VN (Wikipedia).

- Nhân cuộc tổng đình công tại Hà Nội đưa đến việc sụp đổ chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim, Việt Minh đã cướp lấy chính quyền vào ngày 2-9-1945. Ngày này đã đóng một dấu ấn sâu sắc trong dòng lịch sử Việt Nam. Nó đã làm thay đổi, đảo lộn dòng văn hóa nhân bản và đạo đức của xã hội Việt Nam. Nó đã đưa dân tộc Việt Nam vừa thoát ách thực dân và phong kiến lại vội vàng chìm vào ách nô lệ và thống trị toàn trị của cộng sản theo chân Tàu cộng. Nó chính là ngày Việt Minh đã tiêu diệt toàn bộ di sản nhân quyền và nhân bản của dân tộc Việt Nam.

2. Những thành tích sau ngày Hồ Chí Minh cướp được chính quyền của Việt Nam ở miền bắc vào 2-9-1945 và sau 30-4-1975 ở miền Nam...

Trước hết là cuộc thảm sát đồng bào Việt Nam trong mùa đấu tố với hơn 172 ngàn người bị chặt đầu, bị chôn sống, bị sử từ và toàn bộ tài sản của họ bị cưỡng đoạt. Vào những ngày gần đây, người người kinh hoàng, rợn tóc gáy khi nhìn thấy những hình ảnh của chiến tranh và của khủng bố được lưu truyền trên mạng. Từ đó đã khơi nguồn cho việc người người lên án những hành vi gây tội ác man rợ này. Tuy nhiên, nếu nhìn lại, những hình ảnh ấy thấm vào đâu, chẳng đáng là gì nếu đem so sánh nó với những cảnh Hồ chí Minh chặt đầu, chôn sống, giết chết hơn 172 ngàn đồng bào vô tội Việt Nam trong khoảng 1953-56. Ấy là chưa kể đến những cuộc chém lén trước đó và trong chiến tranh.

Nó không thể so sánh vì tội ác phạm đến con người bằng cách này hay cách khác thì đều không được tha thứ. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, tội ác của khủng bố còn có chỗ để bào chữa là vì trong hoàn cảnh chiến tranh, hai bên đang tranh dành chiến thắng nên không từ bỏ bất cứ những hành vi man rợ nào có thể trấn áp đối phương. Nhưng trường hợp của Hồ Chí Minh thì tuyệt đối không có bất cứ một khe hở nào, dù nhỏ, để bào chữa cho cái hành vi man rợ, không nhân tính của Y. Bởi vì, những người bị giết chết kia chỉ là dân thường, áo vải, không phải là những người đối đầu với Y. Họ không hề tham gia bất cứ một công tác nào chống lại Y. Hơn thế; còn có rất nhiều ngươi đã đích thân, hay cho con cái theo Việt Minh, theo kháng chiến từ buổi đầu, giúp cho Y có chỗ đứng như ngày hôm nay.

Với đất nước, họ không phạm bất cứ một lỗi nào để phải bị chặt đầu, bị chôn sống bị xử tử, treo ngược. Kết qủa, họ bị giết, bị phanh thây chỉ vì cái lòng man rợ và độc ác của HCM. Bởi chính Hồ Chí Minh, sau những vụ giết người này đã khoa tay múa chân, tự mãn tuyên bố “Đây là một chiến thắng long trời lở đất”.

Hỡi ơi! Giết dân, cướp của một cách man rợ, độc ác như thế mà có thể bảo là một chiến thắng long trời lở đất được ư? Đây là tiếng người hay tiếng ma? Có phải vì Y không có trong người dòng máu Việt Nam, nên y không thể thương tiếc người Việt Nam? Có phải vì Y mang trong người dòng máu của Hán, Tống, Nguyên… nên Y đã lợi dụng thời cuộc gọi là cải cách này để trả hận cho những gò Đống Đa hay ải Chi Lăng xưa? Đến nay, chưa ai tìm ra câu trả lời khẳng định. Tuy nhiên, cũng không thể tìm ra một lời tuyên bố nào bạc ác, bất nhân, bất nghĩa đến như thế nữa. Ấy là chưa kể đến chuyện HCM còn là kẻ thâm độc ngoài sức tưởng tượng của con người khi y bắt chính thân nhân, kể cả vợ con trong nhà cho đến họ hàng, lối xóm của nạn nhân, phải đứng ra chỉ mặt, kể vu khống cho nạn nhân những cái tội mà họ chưa bao giờ biết đến! Nghe chưa xong thì nạn nhân đã phải chết và người còn sống thì phải theo gương Y nói dối nhau mà sống!

Rồi ngày nay, cái họa Tàu đã tràn khắp trên giang sơn Việt Nam bắt nguồn từ đâu? Tại ông Tổng thống Diệm chăng? Hay do từ văn bản của Đặng Xuân Khu viết lời kêu gọi Việt Nam xin được làm chư hầu cho Trung Cộng vào năm 1951? Hay từ công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958. Hoặc giả, từ những lời khẳng định của Lê Duẩn công bố khi sang chầu Trung cộng là: "Cuộc chiến đáu này (tại miền nam) là đánh cho Trung Công Liên Sô…” “Chúng tôi còn kiên cường chiến đấu, là vì phụ thuộc vào Mao chủ tịch!(1969)” Ai hãnh diện, ai tự hào về những hành vi man rợ của Hồ Chí Minh, vì những lời tuyên bố của Đồng, Chinh, Duẩn đây? Người Việt Nam ư? Không, không bao giờ! Như thế, tự nó đã trả lời, ngày 2-9-1945 là ngày Hồ Chí Minh cướp chính quyền của Việt Nam..

Bên cạnh đó, hãy hỏi xem, với người hỗ trợ công việc kháng chiến thì bị Hồ đấu tố. Nhưng với quan thày Trung cộng, Hồ Chí Minh bái lạy thế nào?

Theo tài liệu, Hồ Chí Minh đã nói và được loan truyền rộng rãi trong dân chúng về việc Y đã hứa dâng đất của Việt Nam cho Trung cộng một khi được Trung cộng cứu giúp như trường hợp của Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc xưa kia. Chính Hồ Chí Minh đã khẳng định với Tổng Lý Chu Ân Lai là: "Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa...." Và khởi đầu cho lời hứa này là Hoàng Sa và Trường Sa, dù lúc đó hai quần đảo này còn nằm trong quyền hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó cho thấy, Y chỉ vì mộng công hầu mà đi theo bước chân của Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tác. Kẻ bán cước cầu vinh.

VI. Việt Nam rồi ra sao?

Đến đây, chúng ta, người Việt Nam yêu nước, không muốn mất quê cha đất tổ, có lẽ chỉ còn duy nhất một con đường để đi là: Hãy đứng dậy, nắm lấy tay nhau, đi theo bước chân của tiền nhân ta. Trảm kẻ nội thù diệt xâm lăng. Mở lại một trang sử mới cho đất nước, tạo nên một ngày mới cho Dân Tộc. Ở đó Việt Nam là một Quốc gia trường tồn trong Độc Lập. Ở đó người dân có Tự Do, có sinh hoạt Dân Chủ.

Dân chủ không phải là một hạnh phúc vật chất, nhưng là một phương tiện để đưa đất nước và con người thăng tiến trong những sinh hoạt chính trị, xã hội với mục đích đem lại phúc lợi cho người dân. Ở đó mọi giá trị về đạo đức, luân lý của xã hội, nhân phẩm của con người và tôn nghiêm linh thánh của Tôn giáo phải được tôn trọng. Quyền bình đẳng của con người, Quyền tư hữu của tư nhân, của tập thể, của tư cách pháp nhân được luật pháp bảo trợ. Ở đó có Công Lý ngự trị. Đó mới thật là một ngày vui mừng, một ngày mới, một ngày Quốc Khánh của Dân Tộc.

3/9/2017

Monday, August 14, 2017

ĐỖ VĂN PHÚC : GIẢI ĐỘC VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Đây là thành phố Richmond, thủ phủ của Tiểu bang Virgina nằm ở miền Đông bắc Hoa Kỳ, nơi ngày 10 tháng 8, 2017 đã diễn ra buổi tọa đàm về Chiến tranh Việt Nam do Đài truyền hình WCVE và dài truyền thanh WHTJ thuộc hệ thống đài chính PBS tổ chức.

Chúng tôi từ Austin, mang sứ mạng đem tiếng nói trung thực của một người lính Việt Nam Cộng Hoà đóng góp vào công tác giải toả những thắc mắc mà người dân Hoa Kỳ còn mơ hồ về một sự thật sau hơn 42 năm bị các truyền thông khuynh tả Mỹ bóp méo, xuyên tạc.
Sau hơn 10 năm vừa chuẩn bị, vừa thực hiện, ông Ken Burns và bà Lynn Novick sẽ trình chiếu trên hệ thống PBS một bộ phim 10 tập, dài 18 tiếng về Chiến Tranh Việt Nam, với nhiều tài liệu mà theo nhà làm phim cho hay là các khám phá mới từ những nguồn tin khác nhau; trong đó có cả những phần phỏng vấn khoảng 100 người chứng mà đa số là cựu chiến binh của các bên tham chiến. Bộ phim này sẽ được chiếu bắt đầu từ giữa tháng 9 trên đài PBS và các đài chi nhánh ở địa phương. Xin nhắc lại là hai vị làm phim đều thuộc khuynh hướng phản chiến.

 Cử toạ trong thính phòng VMI

Đài truyền hình WCVE tại Richmond đã phối hợp cùng Phân Khoa Báo Chí thuộc trường Đại học Richmond tổ chức một buổi toạ đàm gọi là “Vietnam, Virginia Remember” tại thính phòng của Trung Tâm Paul and Phyllis Galanti Education Center trong quần thể Virginia War Memorial lúc 6:30 chiều ngày 10 tháng 8, 2017.
Buổi toạ đàm có 4 nhân vật có liên quan đến chiến tranh Việt Nam, mở cho một số cử toạ giới hạn, đuợc thu hình, thu thanh để phát trên đài truyền hình WCVE và đài phát thanh WHTJ. Chương trình có 30 phút dành cho 4 tham luận viên và 30 phút sau dành cho cử tọa đặt câu hỏi. Mục đích của chương trình là nhằm giáo dục quần chúng về chiến tranh Việt Nam do những đóng góp của những người từng có kinh nghiệm về cuộc chiến ớ các góc độ khác nhau.


Ông Đỗ Văn Phúc, cựu Đại Úy William Haneke, Giáo Sư Robert Hodierne, bà Mary Tonia Golden và ông Paul Fleisher

Người tổ chức là bà Katherine Mitchell, Phó Chủ Tịch của Community Engagement của đài WCVE. Người điều hợp buổi toạ đàm là Giáo Sư William Hodierne, một phóng viên từng có mặt ở chiến trường trên 2 năm và đang là Khoa Trưởng Khoa Báo Chí thuộc Đại học Richmond. Bốn vị được mời vào buổi toạ đàm là cựu Đại úy William Haneke, tốt nghiệp trường Võ bị West Point năm 1966, phục vụ tại Việt Nam và đã bị cụt mất hai chân trong một trận chiến ác liệt; bà Mary Tonia Golden, một nữ y tá Lục quân, phục vụ tại các bệnh viện quân đội Mỹ ở ở Việt Nam trong 1 năm; cựu Đại úy Đỗ Văn Phúc, một sĩ quan Bộ binh VNCH; cuối cùng là ông Paul Fleisher, một người thuộc nhóm phản chiến.

Ông Châu Chương Thành, cựu Đại Úy William Haneke và ông Đỗ Văn Phúc
Chương trình đã được sự đóng góp tích cực của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Richmond do ông Châu Chương Thành làm Chủ tịch. Bản thân ông Thành cũng là một cựu sinh viên sĩ quan từ trường võ bị nổi tiếng Virginia Military Institute (VMI), là nơi đã đào tạo Chuẩn Tướng Châu LậpThế, một trong hai Tướng Lãnh đầu tiên người Mỹ gốc Việt trong quân đội Hoa Kỳ.
Trong 30 phút của phần đầu, Giáo sư Hodierne lần lượt đặt các câu hỏi để các tham dự viên trình bày quan điểm và kinh nghiệm của mình trong chiến tranh. Ông Phúc, ngoài việc trình bày sự khủng bố của Việt Cộng là lý do ông tình nguyện vào quân đội, kinh nghiệm chiến đấu, còn có dịp nói lên thực trạng trong nhà tù Cộng Sản mà thế giới nghe qua với mỹ danh trại Cải tạo. Bà Golden cũng nói thêm về tình cảm mà dân chúng Việt Nam đã dành cho bà khi bà trở lại Việt Nam gần đây. Ông Haneke thì nói về kinh nghiệm chiến đấu của mình và những người lính Địa Phương Quân mà ông là cố vấn đã chiến đấu can trường, gian khổ ra sao. Về phía ông Paul Fleisher, là người cổ động phản chiến thì cho rằng ông ta chống lại việc Hoa Kỳ tham chiến là vì ông không muốn một nước lớn này đem áp đặt chủ nghĩa của mình lên một nước nhỏ xa cách nửa vòng trái đất.
Khi bắt đầu phần 30 phút dành cho cử tọa, ông Nguyễn Văn Tần, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, đã chất vấn ông Fleisher tại sao ông yêu thương nuớc Việt Nam Cộng Sản đến độ mang chiếc cà vạt có in cờ đỏ sao vàng. Fleisher cho biết ông đuợc người ta tặng cà vạt và không biết nó biểu tượng nền đỏ sao vàng đó là cờ của Việt Cộng (ông ta nói “I have no idea!”). Lời giải thích này đã bị ông Châu Chương Thành bẻ ngay rằng ông Fleisher đã tự mâu thuẫn với chính mình, và việc ông mang cà vạt màu cờ VC là sự xúc phạm đối với những người chống Cộng cũng như đó là sự phản bội đối với anh linh 58 ngàn quân nhân Mỹ đã hy sinh trên chiến trường Việt Nam. Ông Thành mỉa mai ông Fleisher tự nhận mình là một nhà giáo dục, nhưng lại nói ông ta không biết về lá cờ VC. Sau lời phân tích cứng cáp của ông Thành, ông Fleisher đã tự tháo chiếc cà vạt trước mặt cử tọa!
Cũng trong dịp này, ông Thành nói lên chính nghĩa của phiá Việt Nam Cộng Hoà. Chúng tôi cũng đã có vài lời giải thích cho ông Fleisher rằng dân chúng Hoa Kỳ được an toàn, sống cuộc đời hạnh là nhờ sự hy sinh của các chiến sĩ chặn đánh kẻ thù từ bên ngoài biên giới không để cho chúng có cơ hội đến gần. Một cựu chiến binh Mỹ, ông David Preston cũng đồng ý và lên tiếng yêu cầu phải ủng hộ những người lính khi họ chiến đấu cho chúng ta được an toàn, và tận hưởng tự do.

Ông Đỗ văn Phúc, bà Katherine Mitchell và giáo Sư Robert Hodierne

Một trong những câu hỏi của cử toạ là tâm trạng các gia đình chiến sĩ ra sao trong khi có người thân ra chiến trường. Trong câu hỏi cuối cùng dành cho ông Phúc: Nói trong 1, 2 chữ thôi, về nhận thức chiến tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ; ông Phúc đã dùng chữ Misunderstanding, misinformation, và misrepresentation. Đó là do các hành pháp Mỹ không hiểu biết về dân tộc, văn hoá Việt Nam, không có chiến lược lâu dài, nhất quán; rồi sự bóp méo thông tin và đầu dộc dư luận Mỹ mà thủ phạm là truyền thông Hoa Kỳ mà đã làm hỏng cuộc chiến Việt Nam.
Quan Chau, Một cháu thanh niên Mỹ gốc Việt 18 tuổi, mới rời Trung Học cũng hỏi ông phản chiến Fleisher câu hỏi hóc búa rằng ông có những thân nhân nào phục vụ trong quân đội không, và ông cảm nhận thế nào? Ông ta lúng túng trả lời vòng vo để né tránh.
Sau hơn một giờ sôi nổi hào hứng với nhiều cảm xúc trong cử toạ khi hiểu biết thêm từ những nhân chứng, tiếp theo buổi tọa đàm là phần tiếp xúc riêng tại phòng bên ngoài để những vị nào còn muốn hỏi thêm các tham luận viên. Chúng tôi nhận được nhiều lời khen ngợi và cảm ơn nồng nhiệt.

 Ông Đỗ Văn Phúc và ông Nguyễn Văn Tần

Đặc biệt, chúng tôi gặp gỡ trò chuyện cùng ông Paul Galanti, là người phi công Hoa Kỳ từng bị bắn rơi trên vùng trời Hà Nội và bị giam giữ ở Hoả Lò trong gần 6 năm. Tên ông và bà vợ đã được dùng đặt cho toà nhà chính của Trung Tâm Giáo Dục tại Virginia War Memorial, nơi đang diễn ra cuộc toạ đàm. Bà vợ ông, Phyllis có công lớn nhất trong việc vận động chính phủ Hoa Kỳ để đòi Bắc Việt thả các tù binh Hoa Kỳ.
Chúng tôi quan niệm rằng hể có dịp nào đem được tiếng nói của người Việt Quốc Gia đến quần chúng Hoa Kỳ, chúng tôi phải tích cực tham gia vì không thể để sân chơi độc quyền cho những người khuynh tả, phản chiến. Trong những năm gần đây, chúng tôi đã có mặt nhiều nơi bất luận các cuộc hội thảo, sinh hoạt do từ phía nào tổ chức.
Lần này, ở Richmond, có thể nói chúng ta đã thành công trong việc tranh thủ dư luận. Chương trình buổi toạ đàm sẽ được chiếu ngay kèm theo cuốn phim của Ken Burns sẽ là một đòn phản công nếu như trong cuốn phim 10 tập của ông ta còn những hiểu lầm sai trái về cuộc chiến tranh.

Đỗ Văn Phúc tường trình đặc biệt từ Richmond, Virginia

TRẬN ĐÁNH BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA, HAY LÀ 'CHIẾN CÔNG TRÊN GIẤY. . . BÁO?'


Tạp ghi Huy Phương


Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH trước năm 1975. (Hình: dongsongcu.wordpress.com)
Ðại Tá VNCH Chu Văn Hồ, nguyên chỉ huy trưởng Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên, Phòng Tổng Quản Trị, Bộ TTM-QLVNCH, hiện cư ngụ tại New Jersey là sĩ quan cao cấp duy nhất có mặt tại Bộ TTM-VNCH vào trưa ngày 30 Tháng Tư, 1975. Ông được Bảy Vĩnh, đại diện quân Bắc Việt, vào tiếp thu Bộ TTM, cấp cho tờ giấy giới thiệu, “tạm thời có nhiệm vụ bảo quản của công!” trong khi chờ đợi các lực lượng Việt Cộng vào.
Theo lời Ðại Tá Hồ, sáng hôm đó, sau khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì Bộ TTM là một ngôi nhà không chủ, bỏ trống, không còn binh sĩ, chỉ có một số đơn vị trưởng ở lại để “chờ bàn giao” theo lệnh.
Vào khoảng 10 giờ 30 sáng, có một cán bộ Bắc Việt tên Bảy Vĩnh (trên giấy tờ ghi là Quân Ðoàn Trưởng QÐ 2 giải phóng thủ đô) đi trên xe Jeep do một tài xế tên Suốt (phục vụ tại Phòng 7 Bộ TTM làm nội tuyến) đến gặp Ðại Tá Chu Văn Hồ ở Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên, mượn thang lên treo cờ ở tòa nhà chính, rồi ra về, đến tối mới dẫn một toán quân đi từ cổng số 1 vào. Khi đó, quân phòng thủ Bộ TTM không còn ai nữa.
Bảy Vĩnh đóng quân tại Trung Tâm Ðiện Toán của Ðại Tá Chu Văn Hồ, mấy ngày sau mới bàn giao cho chuyên viên ở Bắc Việt vào.
Theo một bài báo của Tướng Cộng Sản Trần Văn Trà đăng trên tạp chí Ngày Nay, số đề ngày 1 Tháng Năm, 1990, xác nhận người vào Bộ TTM đi bằng xe Jeep, gặp Ðại Tá Hồ, sau đó lên tòa nhà chính cắm cờ với sự trợ giúp của một hạ sĩ là nội tuyến! Không một tiếng súng!
Chấm hết!
Nhưng theo sách vở và sự tuyên truyền của Bắc Việt, 55 ngày đêm chiến đấu của Việt Cộng là thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, vũ bão, sáng tạo, và ca tụng kiểu Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng!”
Nếu với chỉ một chiếc xe Jeep, chiến lợi phẩm lượm dọc đường và một tên lính nằm vùng, Bảy Vĩnh vào Bộ TTM-QLVNCH treo cờ mà không cần bắn một phát súng, đổ một giọt máu, thì trận đánh chiếm miền Nam có còn chi là hào hùng, vũ bão!
Ðể lừa bịp hậu sinh và dân chúng miền Bắc, 10 năm sau, trận chiến này được vẽ lại trên mặt báo:
  • Trong cuốn “Tự Ðiển Bách Khoa Quân Sử” của Bộ Quốc Phòng CSVN xuất bản năm 2004 tại Hà Nội, do hơn 100 tướng lãnh và hơn 1,000 đại tá viết, trong trang 1023, trong bài “Trận Bộ Tổng Tham Mưu,” đã viết ra những dòng trên giấy, vẽ ra một trận tiến công tưởng tượng như sau:
“Lực lượng địch tại Bộ TTM khoảng 4,400 quân (gồm cơ quan văn phòng, 1 tiểu đoàn tổng hành dinh, 1 tiểu đoàn truyền tin, 1 đại đội quân cảnh, 1 chi đoàn xe tăng thiết giáp, 2 đại đội pháo và súng cối…) Ngoài ra, còn có lực lượng bảo vệ vòng ngoài của hệ thống phòng thủ Sài Gòn. Với sức mạnh áp đảo, sáng 30 Tháng Tư, ta tiếp tục tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng và lực lượng phản kích của địch, hình thành nhiều mũi đột phá cổng chính và cổng 1, 2, 3, đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu trong Bộ TTM, làm chủ và kết thúc trận đánh lúc 11 giờ 30 phút. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch:
-Thu và phá hủy gần 200 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và xe bọc thép),
-Sáu khẩu pháo,
-Bắn cháy hai máy bay trực thăng,
-Thu hơn 3,500 súng bộ binh và nhiều tài liệu quan trọng…”
  • Trong “Những trận đánh làm nên lịch sử” do nhà xuất bản Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, xuất bản, bài “Ðánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu:”
“Ðến cổng số 3, Ðại Ðội 6 gặp địch ngăn chặn, súng máy, súng tiểu liên của chúng quét như vãi đạn từ các ô cửa xuống mặt đường, năm chiến sĩ của ta bị thương nặng phải đưa về phía sau. Phải chia cắt để tiêu diệt địch ta mới có thể vào sâu bên trong, chính trị viên Trần Hạng trao đổi với đại đội phó Nguyễn Ðức Dương và lập tức Ðại Ðội 6 tách thành hai mũi. Chính trị viên Hạng chỉ huy mũi thứ nhất vượt qua làn đạn, nhằm hướng Bộ Tổng Tham Mưu tiến vào. Mũi thứ hai do đại đội phó Dương chỉ huy sử dụng M48 bao vây địch ở khu tiếp liệu, tới tấp nã đạn về phía quân ngụy. Chỉ 10 phút sau, tiếng súng địch im bặt.
“Ở ngoài cổng số 6, Ðại Ðội 5 cùng Trung Ðội 2, Ðại Ðội 7 dùng pháo cối chế áp cùng hai chiếc K63, bốn chiếc M48, đột kích thẳng vào khu nhà hai tầng. Nhưng bọn địch đã lập tức di chuyển về phía sân vận động và bắn như điên cuồng về phía quân giải phóng.
“Lúc này, binh lính địch quăng súng, lột áo chạy tháo thân, tiểu đoàn biệt kích dù, tiểu đoàn bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu tan rã nhanh chóng.
“Chỉ một lát sau, lá cờ giải phóng đã tung bay tên nóc nhà Bộ Tổng Tham Mưu ngụy, trong tiếng reo hò của quân ta và nhân dân vùng phụ cận !!!”
Thông Tấn Xã Việt Nam, Tháng Tư, 2015, có bài “Cắm cờ trên nóc Bộ Tổng Tham Mưu:”
“Qua 40 năm nhưng ông Ðông vẫn nhớ như in từng chi tiết với nỗi niềm tự hào của người lính cụ Hồ. Ông kể vào khoảng 11 giờ kém 20 ngày 30 Tháng Tư, 1975 theo đường Trần Xuân Soạn tiến về đường Hàm Nghi, Tiểu Ðoàn 2 đánh thẳng vào cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu ngụy quyền Sài Gòn. Lúc này cuộc chiến đấu vô cùng ác, Tiểu Ðoàn 2 không thể thọc sâu tấn công được.
“Theo lệnh của chỉ huy trưởng Thiều Quang Nông xe bọc thép tiến vào cổng số 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Hai lô cốt bị tiêu diệt, thừa thắng xe bọc thép húc tung cánh cửa Bộ Tổng Tham Mưu tiến vào nội tâm. Lúc này xe tăng của ta và quân giải phóng đồng thời tiến vào đánh chiếm các mục tiêu quan trọng của giặc. Ông Ðông hồi tưởng lại.
“Trong đó, xe bọc thép chờ đội trinh sát của ông Ðông lao thẳng vào tòa nhà ba tầng cao nhất. Ông Ðông nhẩy xuống trước, các đồng đội theo sau hỗ trợ. Phía trong nhà Bộ Tổng Tham Mưu còn rất nhiều giặc. Nhanh trí, ông Ðông đã khống chế một tên địch và bắt dẫn lên lối gần nhất nóc nhà ba tầng.
“Sau khi cả đội lên đủ năm người,mỗi người một nhiệm vụ, phối hợp nhanh chóng cắm được lá cờ của lực lượng giải phóng. Ông Ðông mở ba lô lấy cờ, ông Lại Ðức Lưu tung cờ, ông Ðỗ Xuân Hương lồng cờ vào cán.”
Từ câu chuyện ông Bảy Vĩnh với sự trợ giúp của một anh lính nằm vùng trong Bộ TTM, mượn thang treo cờ, biến thành câu chuyện có đến ba anh chàng trong “toán treo cờ,” anh mở ba lô lấy cờ, một anh tung cờ, một anh lồng cờ vào cán, thật là rắc rối!
Ngoài ra, còn nhiều báo và phim bịa đặt nói về trận đánh Bộ TTM và cắm cờ ngày 30 Tháng Tư, 1975, trong phim có nhiều anh bộ đội chạy lúp xúp, nấp sau gốc cây, nhưng lúc quay phim thì toàn bộ các tòa nhà Bộ TTM đã sơn màu khác rồi!
Trận đánh vào Bộ TTM, lúc thì Cộng Sản cho là do công của Trung Ðoàn 48, khi thì nói là của Biệt Ðộng Sài Gòn.
Phỏng vấn những nhân vật tưởng tượng không tham gia gì trận đánh như Ðại Tá Nguyễn Văn Tàu và Ðại Úy Lương Hoài Nam, và những nhân vật tự nhận là người cắm cờ đầu tiên ngày 30 Tháng Tư, 1975 ở Bộ TTM.
Ðể tìm hiểu sự thật của lịch sử, xin đọc “Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,” xuất bản năm 2011 (trang 849-854) của các tác giả Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, và Lê Ðình Thụy, đã in thủ bút của Bảy Vĩnh khi vào gặp Ðại Tá Chu Văn Hồ, chứng nhận Ðại Tá Hồ “đã bàn giao cho cách mạng.” Không có đơn vị Cộng Sản nào đánh chiếm Bộ TTM ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì làm gì có việc Bắc Việt đã tiến công bắn hạ hai trực thăng, phá hai khẩu pháo, hàng trăm xe bọc thép, và tịch thu hàng nhìn khẩu súng.
Ðây là những chiến công tưởng tượng chỉ có trên mặt giấy… báo.
Nhất là đoạn văn “cờ được treo trong tiếng reo hò của quân ta và nhân dân vùng phụ cận!” thì quả là phét lác quá sức. Lúc đó có một mình ông Bảy Vĩnh thì “quân ta” ở đâu mà reo, và trong khu vực Bộ TTM rộng lớn ở xa phố xá thì lấy đâu ra dân mà hò?
Cuối cùng thì vẫn là: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói…” Bệnh mãn tính Cộng Sản là sự dối trá. Viết sử giả tạo không đúng sự thật, cũng giống như người làm chứng gian, để cho đời sau rơi vào sự lầm lạc.
“Chủ nghĩa Cộng Sản và sự dối trá là một; và để chúng ta thấy rằng dối trá là hiện tượng thuộc về bản chất của các xã hội Cộng Sản trên toàn thế giới.

 (Bauxit online).

 https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/tap-ghi-huy-phuong-tran-danh-bo-ttm-qlvnch-hay-la-chien-cong-tren-giay-bao/

Friday, July 7, 2017

CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI CHẠY TRỐN CỘNG SẢN

  1954-1955


Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau: 

Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:
- Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.
- Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài  lưới.  
- Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc. 
- Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.  
- Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …
 
        Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ. 
Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
Đây là một thành công lớn về mặt xã hội của chính quyền VNCH.
Trong những năm 1955–1956. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:
- Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.
- Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.
- Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.
- Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.
- Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.
Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.
 
Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada. 
 
Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.
 
Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát.  Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư".  Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.
 
Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.
 
 
Tiến trình
Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.
 
Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư.  Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế. 
Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập.  Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.
 
            Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.  Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.
 
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.
 
         Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ.  Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam. 
Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.

Ngô Đình Châu



Saturday, May 27, 2017

VIỆT NAM CỘNG HÒA : CHÍNH THỂ HAY " NGỤY QUYỀN" ?


Lê Vĩnh  
 
Hai mươi năm trước, trong một bài viết về tranh chấp ở Biển Đông đăng trên báo Far Eastern Economic Review ngày 10/2/1994 (1), ký giả Frank Ching đã thuật lại lời khẳng định của nhiều quan chức cao cấp Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vào thập niên 50 của thế kỷ trước rằng: “Hoàng Sa – Trường Sa, theo quan điểm lịch sử, là thuộc về Trung Quốc”, cùng với dẫn chứng bức công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Frank Ching cũng nhận xét: “Trong những ngày đó, chế độ Hà Nội rất hăng hái trong việc lên án chính quyền miền Nam, cho họ là những con rối của Mỹ, là những kẻ đã bán đứng quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngay cả lúc đó, một điều rõ ràng là những lời cáo buộc này đã không có căn cứ. Bây giờ, 20 năm sau -1994-, cũng lại một điều rõ ràng là đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thật sự đứng lên cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn xa chính quyền tại Hà Nội.”

Ký giả Frank Ching kết luận bài viết đó như sau: “Những gì xảy ra ngày hôm nay liên hệ đến hai quần đảo này (HS-TS) chỉ là hậu quả của sự trí trá của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ. Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã muốn chơi đểu để lừa dối Trung Quốc. Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào tránh được Trung Quốc trong khi họ phải bắt chước theo chính sách ’đổi mới’ của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.”
 
Trở về hiện tại, năm 2014, với biến cố giàn khoan HD981 của Trung Cộng vẫn còn đang nóng hổi, tất cả những gì Frank Ching đã viết từ 20 năm trước lại đang được lập lại. Điều khác biệt duy nhất lần này là: 20 năm trước, với sự bưng bít thông tin vô cùng chặt chẽ của nhà nước CSVN rất ít người biết đến những bằng chứng như bức công hàm Phạm Văn Đồng dù những điều này đã được truyền thông bên ngoài Việt Nam đề cập đến nhiều lần; nhưng với thời đại Internet ngày nay, CSVN không thể nào che giấu được nữa nên đã phải chính thức công bố công hàm Phạm Văn Đồng. Từ đó, họ cũng phải đưa ra luận điểm HS-TS không thuộc quyền quản lý của Miền Bắc. Và vì thế bắt buộc phải nhìn nhận Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) — một chính thể mà suốt 60 năm qua Hà Nội đã không ngớt mạ lỵ bằng đủ mọi ngôn từ hạ cấp. Những người lãnh đạo VNCH bị Hà Nội gọi là “thằng này thằng nọ”, “tên này tên kia”.
 
Nhân diễn biến mới này cùng với nhiều dữ kiện lịch sử khác đã lộ ra ánh sáng, thiết tưởng đã đến lúc cần đặt câu hỏi toàn diện cho các thế hệ mai sau.
 
VNCH: chính thể hay ngụy quyền?
 
Trước hết, nhìn từ mắt thế giới bên ngoài, khó ai có thể phủ nhận một thực tế lịch sử là đã từng có một chính thể đại diện cho một nửa nhân dân và tổ quốc Việt Nam ở phía Nam vĩ tuyến 17. Chính thể này được phần lớn các quốc gia không cộng sản trên thế giới công nhận. Thật vậy, tính đến năm 1975 chính thể này đã được 87 quốc gia trên thế giới công nhận và lập bang giao chính thức (2), 6 quốc gia ở cấp bán chính thức (3). Trong khi đó, chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tại miền Bắc, tính đến năm 1972 chỉ được 49 quốc gia thừa nhận (4) và không thay đổi gì tính đến 1975.
 
Ngay cả nếu xét theo chính định nghĩa của đảng CSVN về một chính thể thì càng vô cùng khó phủ nhận vai trò của VNCH. Một trong những tài liệu học tập lâu năm cho cán bộ cấp cao CSVN là quyển giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật của nhà xuất bản Công An Nhân Dân (5). Theo họ các điều kiện đủ để gọi một quốc gia, một chính thể là: 1/ Có lãnh thổ, quản lý trên một vùng lãnh thổ; 2/ có dân cư; 3/ có pháp luật; 4/ Thu thuế; 5/ Có bộ máy, chính quyền, tổ chức quân đội….; 6/ Có chủ quyền quốc gia (tham gia đàm phán quốc tế, và được quốc tế công nhận). Cả 5 điều kiện đầu đã quá rõ. Riêng điều kiện thứ 6 thì VNCH còn vượt xa VNDCCH. Lúc đó chính quyền ở miền bắc chỉ là thành viên của các cơ chế thuộc phe xã hội chủ nghĩa gồm 11 quốc gia, mà đến nay gần như tất cả đều đã biến mất; còn VNCH đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (6) Chỉ sau khi chiếm được miền Nam nhiều năm, chính quyền cộng sản mới gia nhập những tổ chức quốc tế đó thay chân VNCH.
 

Còn câu hỏi về bản chất “ngụy quyền” thì sao? Hiển nhiên khi dùng từ ngữ mang tính phỉ báng này, giới lãnh đạo CSVN muốn nói rằng VNCH chỉ là một chính phủ bình phong, tay sai, hay ngay cả bán nước cho “đế quốc Mỹ” hay thế giới tư bản. Nhưng thực tế đã ngày càng rõ. Rất nhiều người trong nhiều năm lục lọi khắp nơi, kể cả các văn khố buộc phải giải mật theo đúng qui định của luật Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Act) tại Mỹ, đều không có chứng cớ phản quốc nào. Khi thế giới Internet nở rộ, mấy năm trước đây một diễn đàn nổi tiếng là X-Càphê đã mở một chiến dịch khá lâu để tìm kiếm những bằng chứng xem VNCH có một văn bản “bán nước” nào tương tự như công hàm Phạm Văn Đồng không. Sau nhiều tháng cố gắng, không ai tìm được văn bản nào cả. Và trong suốt 20 năm hiện hữu, một dữ kiện lịch sử hiển nhiên là VNCH đã không để mất bất kỳ phần lãnh thổ nào của đất nước ngoại trừ quần đảo Hoàng Sa sau khi chống cự mãnh liệt. Trong thời VNCH không hề có chuyện dâng nhượng đất biên giới trên bộ, dâng nhượng hải phận ngoài khơi, cho “mướn” các khu rừng biên giới 50 năm, v.v…
 

Nhưng những điểm nêu trên chỉ mang tính định nghĩa. Điều còn quan trọng hơn nữa là chính thể VNCH đã làm được gì cho đất nước và xã hội.

VNCH: có làm đúng trách nhiệm của một chính phủ không?
 
Trách nhiệm lớn nhất của một chính quyền là phải bảo vệ đất nước và người dân. Trong suốt thời gian hiện hữu, chính phủ VNCH đã xem trách nhiệm này như thế nào? Hiển nhiên một bài viết ngắn ngủi loại này không thể liệt kê các nỗ lực suốt 20 năm, dù chỉ viết tổng quát, nhưng có lẽ một thí dụ sau đây có thể minh họa phần nào ý thức của chính thể VNCH về nhiệm vụ bảo vệ đất nước:

Với sức mạnh quân đội dồn hầu hết vào không quân và bộ binh, Hải quân VNCH chỉ có một số chiến hạm chiến đỉnh khiêm tốn, nhưng tất cả đã được trưng dụng vào mục tiêu bảo vệ từ sông đến biển của tổ quốc ngày đêm, chứ không “bám bờ” hay thỉnh thoảng khoe đã đi “tuần tiễu chung” với hải quân (kẻ thù) Trung Cộng như ngày nay. Trong số những vòng canh từ biển khơi vào bờ, chỉ có vòng viễn dương do đệ thất hạm đội Hoa Kỳ phụ trách; còn các vòng khác từ viễn duyên, cận duyên, đến sông lạch chằng chịt đều do Hải quân VNCH trách nhiệm. Hệ thống radar của các vòng canh trên kèm với các đài kiểm báo, không tuần (của Hải quân VNCH) đan chen nhau chặt chẽ nên rất hiếm có trường hợp tàu lạ xâm nhập qua được mạng lưới này. Việc bảo vệ chủ quyền cũng vượt trên mọi lý do khác. Các tàu đánh cá Thái Lan vi phạm hải phận Việt Nam đều bị bắt đưa về Phú Quốc hay Kiên Giang (7) bất kể Thái Lan đang là một đồng minh quan trọng.
 
Về trách nhiệm phát triển đất nước, mặc dù chính phủ VNCH hàng ngày phải đối diện với cuộc chiến tranh tàn khốc suốt 15 năm (từ 1960 đến 1975), nhưng các nỗ lực phát triển đã khá thành công trong mọi phương diện, từ giáo dục đến kinh tế, nông-lâm-ngư nghiệp, công kỹ nghệ, thương mại, v.v.. Những điều này đã được các học giả cả Việt Nam lẫn quốc tế thu thập để so sánh sức phát triển giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam khi họ làm các khảo sát tương tự để so Tây Đức và Đông Đức, Nam Hàn và Bắc Hàn, Đài Loan và Trung Cộng. Trong bài viết ngắn ngủi này, tác giả chỉ xin nhắc lại một vài lãnh vực đặc sắc nhất.

Với định hướng “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, nền giáo dục VNCH cho đến nay vẫn tiếp tục là niềm nuối tiếc của nhiều người, đặc biệt khi nhớ lại những chiến dịch tập trung đốt sách của nhà cầm quyền CSVN trong thời gian ngay sau tháng 4/1975. Ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt đã kể lại rằng: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi.”
 
Kỷ luật học đường, vai trò của thầy cô, tinh thần ham học của cả nước, trình độ của sách giáo khoa, và giá trị của các bằng cấp thời VNCH đều được cả xã hội duy trì và đòi hỏi chính phủ phải duy trì. Tuy là nước nhỏ, nghèo và chiến tranh triền miên, các bằng cấp của trường lớp Việt Nam được các đại học lớn trên thế giới công nhận. Những sinh viên được tuyển chọn đi du học thời đó thực sự là những tinh hoa tương lai của đất nước.
 
Và cũng trong những ngày tháng liên tục khói lửa đó, chính thể VNCH đã ra sức xây dựng nền tảng pháp quyền. Dù có bị hạn chế ít nhiều bởi chiến tranh nhưng các quyền căn bản của con người đều có, từ tự do báo chí, tự do tôn giáo, đến tự do lập hội. Ngay cả quyền của các cá nhân và đảng phái đối lập cũng được luật pháp bảo vệ. Trong thời gian gần đây, ông Lê Hiếu Đằng kể lại việc ông được học luyện thi tú tài trong tù và được cảnh sát chở từ phòng tù đến phòng thi như thế nào. Bức hình chụp cảnh bà Ngô Bá Thành tuyệt thực sau đây cũng giúp mọi người hình dung được những người đối lập với chính quyền VNCH vẫn được luật pháp bảo vệ như thế nào.
 

Các cuộc bầu cử ở mọi cấp, từ tổng thống đến xã trưởng, đã được liên tục thực hiện khá tự do, trong sáng, và công bằng bất kể “quân giải phóng” luôn cố gắng gài mìn các phòng phiếu để răn đe người đi bầu. Đặc biệt sự độc lập giữa 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp là một thực tế chứ không phải bánh vẽ trong các bộ luật. Tác giả Hạ Đình Nguyên trong một bài viết cách đây khoảng một năm đã thuật lại một chuyện có thật và có nhiều người biết. Đó là chính tổng thống VNCH đến trụ sở Tối Cao Pháp Viện yêu cầu toà án kết án những nghi can “thân cộng” (mà sau 1975 các nghi can đó đều lộ dạng là cộng sản thật) nhưng đã bị từ chối. Hơn thế nữa, cơ chế Tối Cao Pháp Viện của thể chế VNCH còn có thẩm quyền truất phế Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, v.v. khi chứng minh được các nhân sự đó phạm tội phản quốc, tức tương đương với những vụ như ký công hàm Phạm Văn Đồng hay đi dự Hội nghị Thành Đô, v.v.
 
Về mặt xã hội, dù nay đã bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21 nhưng nhà cầm quyền Hà Nội vẫn sợ hãi sinh hoạt xã hội dân sự. Trong khi đó thì 60 năm trước, dưới thời VNCH các đoàn thể xã hội dân sự đã phát triển rất đa dạng (một cách tổng quát, xã hội dân sự bao gồm các đoàn thể không thuộc chính phủ mà cũng không thuộc giới kinh doanh). Những đoàn thể xã hội dân sự này đã đóng góp rất lớn cho xã hội từ văn hoá đến giáo dục, y tế, tương trợ, giúp đỡ nạn nhân thiên tai, nạn nhân chiến cuộc. Nhiều người còn nhớ những đoàn thể có tên tuổi trong ngành công tác xã hội như Cô nhi viện Dục Anh, Cô nhi viện Quách Thị Trang, Trại giáo hóa thanh thiếu niên phạm pháp Thủ Đức, Viện dưỡng lão Thị Nghè, Trung tâm hướng nghiệp Vườn Lài, Quán cơm xã hội Anh Vũ (phát cơm cho người nghèo). Những đoàn thể tiêu biểu khác là Hội Hồng Thập Tự, Hướng đạo Việt Nam, Trường Bách khoa Bình dân, nhóm Thanh niên Phụng sự Xã hội và Gia đình Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Thiếu nhi Thánh thể và Thanh Sinh Công của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Phong trào Du ca Việt Nam, Hội Thanh niên Thiện chí, v.v.
 
Trước các vấn nạn lớn của đất nước, người dân tự động tham gia góp phần cùng lo lắng, cùng báo động, cùng góp ý giải quyết chứ không chờ xin phép ai. Một trường hợp điển hình là Tập San Sử Địa thời đó. Đây là một tập san sưu tầm, khảo cứu chuyên ngành do nhóm giáo sư, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn tự đứng ra thực hiện, phát hành mỗi 3 tháng. Toàn bộ Tập San Sử Địa gồm 29 số, được phát hành từ năm 1966 cho tới tháng 4 năm 1975 thì bị cấm (8). Số cuối cùng “Đặc Khảo về Trường Sa và Hoàng Sa”, thu thập và trình bày nhiều tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này mà hiện nay nhà nước CSVN đang phải dùng tới.
 

VNCH: Thêm một tiến thoái lưỡng nan cho lãnh đạo đảng CSVN
 
Đối diện với các bước xâm lấn ngày một trắng trợn của Bắc Kinh và trước các chứng tích bảo vệ đất nước không thể chối cãi của các chiến sĩ VNCH, lãnh đạo đảng CSVN đã thấy quá khó để tiếp tục gọi họ là “ngụy quyền bán nước”, đặc biệt sau khi mấy đời lãnh đạo CSVN liên tục ký nhượng đủ loại chủ quyền cho Bắc Kinh suốt từ Hội Nghị Thành Đô 1990 đến nay. Loại bài bản “ngụy quyền bán nước” nay cũng trơ trẽn và tác dụng ngược như việc nhà cầm quyền này tống người biểu tình phản đối Trung Cộng vào trại phục hồi nhân phẩm để “giáo dục họ về lòng yêu nước”.
 
Hơn thế nữa, khi quá kẹt vụ công hàm Phạm Văn Đồng, không còn cách chối tội nào khác, lãnh đạo Đảng đành dùng luận điểm chống chế: 2 quần đảo HS -TS lúc đó thuộc quyền cai quản của “chính thể VNCH”. Đây là điều mà đảng CSVN đã cố tránh suốt gần 4 thập niên qua vì những hệ lụy sau đây:
 
Khi đã công nhận VNCH là một chính thể với đầy đủ thẩm quyền trước thế giới và lại xử dụng cả những chứng tích bảo vệ chủ quyền đất nước bằng xương máu của họ thì nhà cầm quyền CSVN cũng đương nhiên đã thừa nhận những luận điệu bôi nhọ VNCH “tay sai bán nước” là hoàn toàn dối trá. Và nếu VNCH không “bán nước” thì Hoa Kỳ cũng không thể là “đế quốc” tại Việt Nam.
 
Khi đã công nhận VNCH là một chính thể thì không thể tiếp tục phủ nhận cơ chế, sinh hoạt cũng như mức phát triển của xã hội bên dưới thể chế này. Và với những chi tiết đó, ai cũng có thể thấy đời sống của người dân tại miền Nam trong mọi lãnh vực từ nhân phẩm, nhân quyền đến các lợi ích giáo dục, kinh tế đều diễm phúc hơn đồng bào của họ tại miền Bắc. Do đó luận điệu “giải phóng miền Nam” cũng đương nhiên được thừa nhận là hoàn toàn dối trá.
 
Với 2 sự thừa nhận nêu trên thì lý do duy nhất còn lại của lãnh đạo CSVN khi nhất định đốt cả dãy Trường Sơn để “giải phóng” miền Nam chỉ có thể là: dùng máu người Việt cùng với súng Nga và đạn Tàu để mở rộng thế giới đỏ. Đúng như lời Tổng Bí Thư Lê Duẫn buột miệng nói ra trong một phút quá cao hứng sau ngày chiến thắng: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc!”

Cái công trạng “lãnh đạo toàn dân đánh Mỹ cứu nước” không những lập tức biến mất mà còn hiện ra một món nợ máu kinh hồn của hàng triệu sinh mạng người Việt Nam chỉ vì vài lãnh đạo Đảng thích cầm cờ đầu cho Mátxcơva và Bắc Kinh.

Chính từ sự giằng co giữa nhu cầu phải công nhận chính thể VNCH để thoát vụ công hàm Phạm Văn Đồng và nỗi sợ các hệ lụy của sự công nhận đó mà người ta thấy trong lúc báo chí công cụ nhắc đến “chính thể VNCH” và trận chiến Hoàng Sa nhưng công an lại được tung ra để phá hoại những buổi lễ của dân tưởng nhớ những người con anh dũng đó của đất nước. Công an sẵn sàng giở cả những trò hèn kém như đóng kịch cắt đá hay xông vào giật nhang, giật hoa, và gây sự để bắt bớ tại các buổi lễ tưởng niệm. Lãnh đạo đảng còn sợ đến độ tìm đủ loại lý cớ để bắt giam những người như blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm) để không chỉ đóng trang tổng hợp tin tức của anh mà còn để đóng cả trang Viết Sử Việt do anh chủ trương.
 
Nhưng có lẽ nhà cầm quyền CSVN đã quá chậm và quá trễ trong thời đại Internet hiện nay. Một xã hội nhân bản, một chính phủ có khả năng, và một thể chế yêu nước như thời VNCH đang là ước vọng của rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ mọi lứa tuổi và thành phần. Chính vì vậy mà trong mấy năm qua đã có những buổi biết ơn thương phế binh VNCH tại chùa Liên Trì, tại dòng Chúa Cứu Thế, và buổi lễ thành kính tưởng niệm những lãnh tụ và tướng lãnh VNCH đã hy sinh vì nước vì dân.
 
Với tình hình hiện nay, dù tìm đủ cách vặn vẹo, thoái thác, và trấn áp đảng CSVN vẫn ngày càng nhích gần tới lằn mức phải thừa nhận những hành động phản lại đất nước và những núi nợ xương máu dân tộc mà các thế hệ lãnh đạo đảng đã gây ra từ ngày thành lập cho đến nay — giống như tất cả các đảng cộng sản khác trên thế giới mà nhân loại đã ghi chi tiết trong cuốn Sách Đen Cộng Sản: Tội ác, Khủng bố, Đàn áp (The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression).
 
Liệu hàng ngũ đảng viên và thế hệ lãnh đạo đảng CSVN kế tiếp có muốn thừa kế cái di sản tội lỗi và các món nợ đó không? Nếu không thì phải làm gì?
--------------------------------------------------
Ghi chú:
 
(1) Paracels Islands Dispute By Frank Ching, Far Eastern Economic Review, Feb 10, 1994.
(6) Viet Nam Cộng hòa là thành viên trong một số tổ chức quốc tế như Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957); Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954); Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA; Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950); Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956)[25]; Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951); Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951); Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951); Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950); Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955),[26] Ngân hàng Thế giới (1956),[27] và Ngân hàng Phát triển châu Á (1966).
Năm 1957, Việt Nam Cộng hòa đứng đơn gia nhập Liên hiệp quốc do Hoa Kỳ đề cử. Đại Hội đồng (General Assembly) bỏ phiếu 40 thuận, 8 chống. Việc này chuyển lên Hội đồng Bảo an chung quyết. Liên Xô thì muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng gia nhập nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ việc này nên cuối cùng Liên Xô phủ quyết đơn của Việt Nam Cộng hòa
(7) Một thì dụ điển hình về việc bảo vệ tài nguyên quốc gia của Hải Quân VNCH là một tin đồn lan rộng vào khoảng mùa hè năm 1974. Tin đồn này cho rằng có một ngư trường (đàn cá) dài 30 cây số ở ngoài khơi Phan Thiết bị tàu đánh cá nước ngoài chặn bắt và báo chí (tương đối có tự do) đã thống trách chính phủ và hải quân VNCH rất nhiều. Cho đến khi có những nguồn tin độc lập xác nhận đó chỉ là tin đồn vô căn cứ thì sự thống trách này mới chấm dứt.

NGUỒN :  https://hon-viet.co.uk/LeVinh_VietNamCongHoaChinhTheHayNguyQuyen.htm