Friday, October 27, 2017

TẠI SAO TƯỞNG NIỆM ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM ?

  • 2 tháng 11 2013
Ngày 02/11/2013 là ngày tròn 50 năm ngày ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu, bị sát hại trong cuộc đảo chính năm 1963.
Và trong những ngày này tại Mỹ, Pháp và một số nước khác, cộng đồng người Việt Nam – trong đó có không ít người Công giáo – đã và sẽ tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho họ.
Riêng ở Việt Nam vào trưa ngày hôm nay (01/11), các Cha Dòng Cứu Thế cũng đã dâng lễ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ở Lái Thiêu, để cầu nguyện cho hai ông. Và có thể, trong các Thánh lễ ngày mai ở Việt Nam và như nhiều nơi khác, cũng có nhiều người nhắc tên và cầu nguyện họ.
Trong 50 năm qua đã có vô số tài liệu, bài viết bằng tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Pháp (của người Việt cũng như người nước ngoài, thuộc nhiều chính kiến khác nhau) về ông Ngô Đình Diệm, về cuộc đời, sự nghiệp hay về gia đình của ông. Trong số đó, có không ít ý kiến cho rằng ông là một vị tổng thống độc tài, bất lực và chế độ tổng thống của ông là chế độ gia đình trị.
Dư luận chung cũng không có ấn tượng tốt về ông, sự nghiệp của ông và gia đình ông, đặc biệt kể từ khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa thành phố Sài gòn vào tháng 6 năm 1963. Biến cố ấy làm cho dư luận thế giới và người Miền Nam lúc ấy nói riêng có thêm ác cảm với ông và nó cũng là một lý do quan trọng dẫn đến sự thất bại của Đệ nhất Cộng hòa do ông thiết lập.
Việc ông bị ám sát hụt hai lần trước đó và bị đảo chính rồi bị ám sát năm tháng sau vụ tự thiêu ấy cũng chứng tỏ rằng ông có không ít kẻ thù, trong đó có những người từng là thuộc hạ, gần gũi với ông.
Hơn nữa, ông và gia đình ông bị nhiều người – trong đó có những ‘người thắng cuộc’, những người không cùng chung chuyến tiến với ông – ghét và bôi nhọ một phần vì ông và gia đình là những người chống Cộng, là những người ‘bại trận’.
Nhưng điều đó không có nghĩa là ông bị tất cả mọi người ghét bỏ hay không ai nhìn nhận, tôn trọng ông và những đóng góp của ông. Việc hàng năm và đặc biệt năm nay có nhiều người, nhiều nơi tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho ông chứng minh điều đó.
Câu hỏi đặt ra là tại sao vẫn có người yêu mến và tôn trọng ông?

Một người liêm khiết

Dù có thể có nhiều học giả, các nhà nghiên cứu không đánh giá cao về ông, nhưng đa số đều nhận định rằng ông là một người trung thực, đạo đức, liêm khiết. 

Trong cuốn ‘Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War in Vietnam: 1950-1963’, xuất bản năm 2006, Seth Jacobs – một trong những học giả nước ngoài viết khá nhiều về ông Ngô Đình Diệm và cũng có cái nhìn không mấy thiện cảm về ông – vẫn thừa nhận rằng ông là một người trong sạch, vô vị lợi. Vì theo tác giả này, thậm chí sau khi trở thành tổng thống, ông vẫn sống một cuộc sống khổ hạnh.

Một bài viết của James MCAllister và Ian Schulte có tựa đề ‘The Limits of Influence in Vietnam: Britain, the United States and the Diem Regime, 1959–63’, được đăng trong tạp chí Small Wars and Insurgencies, năm 2006, cũng cho rằng ông Diệm là một người liêm khiết, đức hạnh.
Theo cựu Ðại tá Lý Trọng Song – nay là Phó tế vĩnh viễn (thường được gọi là Thấy Sáu Song), hiện đang giúp tại Cộng đoàn Công giáo London và người đã từng làm cận vệ cho ông Ngô Đình Diệm trong Phủ Thủ tướng và Phủ Tổng thống từ năm 1954 đến 1956 – ông là một người có lối sống rất đơn sơ, nghèo khó. Chẳng hạn, giường ngủ của ông chỉ là một cái divan (một tấm ván) trải bằng chiếu, không có nệm.
Có thể ngày hôm nay có không ít người cảm phục ông Diệm vì họ tìm ở nơi ông những đức tính đó – đặc biệt khi họ đọc và biết được tham nhũng đang trở thành quốc nạn tại Việt Nam.
Cũng theo cựu Đại tá Song, ông Diệm là một người có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín vì ông xuất thân từ một gia đình hiếu học, làm quan và chịu nhiều ảnh hưởng của cả Công giáo và Nho giáo.
Ông có đời sống khổ hạnh một phần cũng vì trong những năm 1940 và 1950, ông đã từng sống trong các đan viện tại Bỉ và Pháp. Một chi tiết được Thầy Sáu Song nêu ra để giải thích tại sao ông Diệm không lập gia đình – một điều nhiều người đặt câu hỏi về ông – là vì ông Diệm đã đi tu trong dòng Ba của dòng Benedicto, một dòng khổ tu ở Bỉ. Và vì đã khấn trong dòng này, ông không nghĩ tới chuyện lập gia đình và chỉ biết ‘thờ phượng, kính mến Thiên Chúa và lo cho quốc gia, dân tộc’.
Các tài liệu viết về ông, đặc biệt sách vở, báo chí nước ngoài, đều nhấn mạnh rằng ông là một người Công giáo đạo hạnh, thánh thiện. Đây cũng là một lý do tại sao trong những ngày này người Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho linh hồn ông – người có Tên Thánh là Gioan Baotixita (hay John Baptist theo tiếng Anh).
Hơn nữa, ông và ông Nhu bị ám sát vào ngày 02/11 – đúng ngày Giáo hội Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã qua đời. Vì vậy, đâu đó có những Thánh lễ cho ông cũng là chuyện bình thường và là việc nên làm.

Một người yêu nước

Hàng năm vẫn có người đến viếng mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm trong nước
Một điểm khác về ông đều được nhiều người công nhận đó là ông là một người yêu nước, yêu dân tộc. Chẳng hạn, trong cuốn ‘Patriots and Tyrants: Ten Asian Leaders’ xuất bản năm 1999, Ross Marlay và Clark Neher, nhận định rằng cả ông và Hồ Chí Minh đều là những người yêu nước nồng nàn. Có điều định mệnh, thời cuộc và chính kiến đã biến họ thành kẻ thù của nhau.
Một chi tiết được các tài liệu đề cập đến khi viết về ông đó là việc ông từ chức Thượng thư Bộ lại (gần tương đương với chức Thủ tướng) trong chính phủ Bảo Đại năm 1933 để phản đối việc Pháp không tiến hành những cải cách cần thiết để trao thêm quyền tự trị cho Việt Nam.
Trong bài ‘Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Ðình Diệm, 1945-54’ – được coi là một trong những nghiên cứu quan trọng, trung thực về ông Ngô Đình Diệm – được đăng trên Journal of Southeast Asian Studies, Edward Miller nêu rằng trong thời gian ông Diệm nắm quyền (1954-63), có nhiều người ở Việt Nam và những nơi khác mô tả ông như là một con rối của Mỹ được Washington đưa lên nắm quyền và giúp đỡ nhằm thực hiện những mục đích của Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh.
Nhưng theo tác giả này, các tài liệu được viết từ những năm 1960 trở về sau đều nhấn mạnh việc ông nhất quyết từ chối những lời khuyên của Mỹ và không muốn chịu sự chỉ đạo của Mỹ. Việc ông và chính quyền Mỹ cuối cùng chia tay nhau là một ví dụ.
Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng nhấn mạnh rằng Tổng thống Diệm chỉ muốn nhận viện trợ của Mỹ chứ không chịu sự áp đặt, can thiệp của Mỹ và nhất quyết từ chối cho lính Mỹ vào Miền Nam Việt Nam vì ông cho rằng cho quân đội nước ngoài chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam làm cho chính phủ của ông mất chính nghĩa.
Cũng theo người cựu cận vệ này, ông Diệm là một người yêu dân, yêu nước, yêu dân tộc vì nếu không ông có thể chọn ra nước ngoài và tránh bị ám sát. Ông nhắc lại rằng trước những ngày diễn ra cuộc đảo chính, Đại sứ Mỹ ở Sài gòn lúc đó là Henry Cabot Lodge gọi điện thoại cho ông Diệm và ‘nói rằng nếu ngài muốn an toàn thì tới Tòa đại sứ’ và ông Diệm đã trả lời ‘đây là đất nước của tôi, tôi không đi đâu hết’.
Hơn nữa, cũng như Edward Miller nêu lên trong bài báo của mình, trong những giai đoạn 1945-54 ông bôn ba ở ngoại cũng chỉ vì muốn tìm con đường giúp đất nước thoát khỏi ách đô hộ của Pháp và giành tự do, độc lập. Trong cuốn sách của mình, Seth Jacobs cũng nêu lên rằng có thể người dân Miền Nam không thích ông như họ tôn trọng ông và khâm phục tinh thần dân tộc mạnh mẽ nơi ông.

Giai đoạn khó khăn

Ngoài ra, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng ông là một người có tầm nhìn, có tài. Nếu không ông chẳng bao giờ có thể trở thành Thủ tướng, Tổng thống và lập nên nền Đệ nhất Cộng hòa.

Nhưng trong thời năm nắm quyền của ông, miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung, cũng như bất cứ quốc gia nào trong thời đầu hậu thuộc địa, phải đối diện nhiều khó khăn.
Những khó khăn đó một phần do tích cách, quan điểm hay chính con người ông tạo nên. Chẳng hạn Ross Marlay và Clark Neher nêu rằng ông ‘là người không thực cho một hoàn cảnh không thể’. Theo hai tác giả này là một người Công giáo nhiệt thành ông lại lãnh đạo một đất nước đa phần Phật giáo và những đức tính của ông lại trở thành những nhược điểm hủy hoại ông.
Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng cho rằng vì ông quá thánh thiện, nhân từ ông bị nhiều người khác lợi dụng, ám hại.
Rồi bối cảnh miền Nam Việt Nam, Việt Nam và thế giới nói chung lúc ấy cũng không dễ dàng gì để có thể xây dựng một thể chế vững mạnh, hiệu quả, một xã hội dân chủ, tự do và một đất nước hòa bình, phát triển trong một thời gian ngắn.
Nhưng chỉ trong một thời ngắn ít hay nhiều ông đã làm được một số việc quan trọng. Chẳng hạn, như Đại tá Lý Trọng Song nêu lên, ông đã giúp dẹp được các phe nhóm, đảng phái gây bất ổn cho Miền Nam lúc đó. Theo Seth Jacobs đây cũng là một thành công của ông được người Miền Nam ghi nhận.
Và trên hết, như Edward Miller nhận định, việc anh em ông bị lật đổ không thể chứng minh được rằng những ý tưởng, dự định của họ là luôn xấu, vô hiệu. Sau biến cố 1963, Miền Nam Việt Nam thay đổi tổng thống, chính phủ liên miên và mọi chuyện càng tệ hơn.
Đâu đó có nhiều ý kiến cho rằng ông là một người độc tài. Nhưng nếu so sánh ông, chính phủ ông với những chế độ cầm quyền ở Đông Á, Đông Nam Á hay ở Miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn ấy, chưa chắc ông đã độc tài hơn những chế độ đó.
Đặt ông trong bối cảnh như vậy, ít hay nhiều để thấy rằng cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ nhất Cộng hòa ông thiết lập không tệ như mọi người nhận định, mô tả hay được nghe.
Đó cũng là một lý do đâu đó có nhiều người Việt hải ngoại tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện và công nhận đóng góp của ông trong những ngày này.
Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả, một trí thức Công giáo hiện làm nghiên cứu tại Viện Global Policy, London.

Thursday, September 28, 2017

SỰ DỐI TRÁ TRẮNG TRỢN CỦA TRUYỀN THÔNG MỸ VỀ CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

*Chelsea Schilling/Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược dịch


                                   Cảnh trại tù CS trong phim “Ride the Thunder.”

 
Nào là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1960. Nào là hình chụp giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm… Ðó là những hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.
Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em. Ðồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.

Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhản khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu trước thảm họa này?
Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu với tựa đề: “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là “Lội ngược dòng oan nghiệt: Sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,”trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 Tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.
Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh!
Botkin cho tạp trí mạng Worldnetdaily (www.WND.com) biết như sau: “Những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến.” Botkin còn cho biết thêm: “Có cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào ngày 16 Tháng Ba năm 1968.”
Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng, không thể thiên lệch như vậy.” Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, Tổng Thống Nixson đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: “Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch.”
Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: “Apocalypse Now,” “The Deer Hunter,” “Good Morning, Vietnam,” “Rambo,”… hay “Full Metal Jacket” cũng chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối đầu trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa Cộng Sản.
Nhà làm phim Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người lính Mỹ tham chiến tại VN đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng, độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp.”
Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, cũng là người viết cuốn sách “Lội ngược dòng oan nghiệt” (“Ride the Thunder”) để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu này được dựng lên, sau khi đích thân ông đi điều nghiên tại những nơi xảy ra giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, đều khẳng định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai! Botkin giải thích như sau: “Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của chúng tôi nhằm xóa đi những lầm lạc về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông(Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng.”
Vào thập niên 1970, theo chương trình “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” của Tổng Thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên và chẳng còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân theo kế hoạch tổng tấn công vào mùa Hè năm 1972, nhằm cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé này thoát khỏi tình thế nguy ngập.
Người thật việc thật – cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại Ðông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố vấn quân sự của Mỹ. Sự kiện anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng Sản Việt Nam như bị bỏ đói và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư tòa án xét xử)gọi là trại “học tập cải tạo.”
Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông Bình là diễn viên Joseph Hiếu. “Chúng tôi mở đầu bằng hình ảnh ông Bình trong trại tù tập trung “học tập cải tạo” rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau Ðệ Nhị Thế Chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”
Trung Tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American Silver Star. Botkin giải thích thêm: “Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối. Thông qua cuộc đời của Trung Tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết.” Khi cuộc chiến đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng Sản. Bao nhiêu người bị bỏ tù hoặc bị tử hình.
Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản, cựu chiến binh, thuyền nhân; trong ấy có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.
Botkin tâm sự thêm: “Ðối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải chỉ là để kiếm tiền mà là thể hiện lên nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy có trách nhiệm phải nói lên sư thật. Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã bị buộc phải nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ.” Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim theo Botkin, đã giúp toàn khối Ðông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản vốn lúc ấy đang lây lan mạnh, cũng như để họ có hòa bình ổn định và phát triển.
Botkin nói: “Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonesia và Thái Lan. Bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền thông như đã nghe đã thấy, sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ chấn hưng và phát triển để có thể đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, nếu không có nỗ lực của người Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như ngày nay.” “Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay,” Botkin bàn thêm, “Chúng ta đang loay hoay tìm lại chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn (cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân bản tốt đẹp cho thế giới.”
Rồi ông Botkin khẳng định: “Chúng ta đã cứu thế giới vào thời Ðệ Nhị Thế Chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”
(26.5.2017)
(Nguồn: danlambaovn.blogspot.com; http://www.wnd.com/2015/03/medias-vicious-lies-on-vietnam-finally-exploded/)

Sunday, September 10, 2017

CỜ MANG HỒN ....VC.

Bảo Giang (danlambao)

10/Sep/2017

Cờ 6 sao xuất hiện chính thức lần thứ ba tại Hà Nội. (2011 - ngay tại phủ chủ tịch VC! ảnh: Vietnamnet)

Viết nhân ngày lưu ký Việt cộng cướp chính quyền 2/9/1945.

 

Qụa là một loài ác điểu. Xem ra, nó cũng có một vài loại là những con tương cận, nhưng không có bạn bè và cũng chẳng có loại nào muốn sống gần bên nó. Nó không thể gần gũi được với những loại chim trời vì những lý do cơ bản sau:

a. Loài phản trắc, không biết làm tổ, chỉ đi đẻ nhờ. Khi nó vào đẻ nhờ nhà người khác thì thường ăn thịt chim non hay đập phá, mổ hết trứng của loài chim gốc.

b. Loài ác thú. Nó chỉ rình mò kiếm ăn trên những xác chết thối, hay ăn thịt các con chim non, chim gìa yếu đuối hoặc nhỏ hơn nó.

c. Hình dạng. Nó có một màu đen tối tăm, dơ bẩn, từ đầu đến cuối.

Đời nó thế, nhưng thật khó để trách chúng. Bởi lẽ, chúng là loài vô tri chỉ sống theo bản năng. Hơn thế, khéo mà Trời cũng không cho nó cái bản năng biết nuôi dưỡng con cái của mình, nên phải đi đẻ nhờ và nhờ kẻ khác nuôi nấng chủng loại của mình. Tuy thế, cái khốn nạn nhất của chủng loại này là những đứa con được nuôi nhờ từ tổ ấm không cùng giống loài kia, khi lớn lên, chúng trở thành kẻ săn đuổi, ăn thịt thay vì báo dưỡng kẻ đã ấp ủ, nuôi dưỡng mình! Nó giống như hoàn cảnh người Việt Nam nuôi dưỡng VC để hôm nay rước lấy họa cho dân tộc mình.

Khi tôi viết đến bản chất của loài qụa này, hẳn nhiên, bạn đã thấy có câu chuyện của một loài cũng thuộc giống người, nhưng nó có những đặc thù như loài qụa đen trong giống chim trời sống ở trên phần đất gọi là Việt Nam. Ở đó, trước kia thì không! Nhưng từ khoảng 02-9-1945, đúng ra là từ 3-2-1930 đến nay, nó ẩn hiện ngay trước mắt, đôi khi lấn cả vào trong từng gia đình rồi để lại những dấu búa, nhát dao tàn bạo trong đời sống của người Việt Nam! Những hình ảnh của chúng được lưu ký như sau:

I. Ghi nhận từ bên ngoài.

Trong cuốn “Why Vietnam?, Prelude to America’s Albatross” của Archimedes L.A. Patti (1913 – 1998) cho biết: Parti một Trung Tá trong quân đội Hoa Kỳ, là người chỉ huy các cuộc hành quân của tổ chức Office of Strategic Services (OSS), tiền thân của CIA, chống Nhật ở Côn Minh (Vân Nam) và Bắc Việt trong những năm 1944 và 1945 với những hoạt động như sau:

Năm 1944, với trợ giúp của Mỹ, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng giới Thạch, qua Trương phát Khuê đã yêu cầu Việt Cách ( Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội) tổ chức một hội nghị nhằm đưa người trở về Việt Nam hoạt động chống Nhật. Kết qủa, trong cuộc họp tại Liễu Châu vào ngày họp 19-3-1944, hâu hết những người hoạt động trong Việt Cách đều không muốn xung phong trở về. Tuy nhiên, có một người được chính Trương phát Khuê ra lệnh thả ra khỏi tù, và cũng do TPK xắp xếp là Hồ Chí Minh giơ tay xung phong trở về Việt Nam. Từ việc tình nguyện này, Hồ được cấp một giấy thông hành dài hạn do THQG ký, một bản đồ quân sự, một số tiền bạc và 20 cán bộ do Y lựa chọn. Đa số những người được lựa chọn là đảng viên đảng CS. Trong đó có Nguyễn thị Lạc, người về sau được cho là đã có một con gái với HCM, nhưng đã bị Y thủ tiêu cả hai mẹ con. Và vào khoảng tháng 7 năm 1944, khi đến Bắc Giang, có hai cán bộ trong đoàn bị Y giết vì không chịu theo Đảng Cộng Sản.

II. Tình hình tại Việt Nam.

Trong khi đó tình hình tại Việt Nam diễn ra như sau: Ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 10.3.1945 Tổng Tư Lệnh Nhật tại Đông Dương tuyên bố: “Chánh phủ Đông Kinh long trọng trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng lập khối thịnh vượng chung Đông Nam Á”.

Trong tình hình này, Bảo Đại tuyên bố nền Độc Lập của Việt Nam:

Tuyên cáo Việt Nam Độc lập là tên gọi một đạo dụ được hoàng đế Bảo Đại ký ban hành ngày 11 tháng 3 năm 1945. Đạo dụ này tuyên bố hủy bỏ mọi ràng buộc chính trị giữa An Nam và Đế quốc Thực dân Pháp, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác đã ký với Pháp, công nhận vai trò lãnh đạo vùng Đông Á cũng như quyền trưng dụng mọi tài sản tại Việt Nam của Đế quốc Nhật Bản, đồng thời tiên khởi cho những biến động mới trên lãnh thổ Việt Nam. Nó đưa đến sự thành lập chính phủ Việt Nam vào ngày 7 tháng 4 năm 1945…. Cứ theo tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.(vikipedia)

Ngày 12.3.1945 Cao Miên cũng tuyên bố độc lập. Trong vùng đông dương, Lào tuyên bố độc lập chậm nhất, vào ngày 15.4.1945. Riêng tại Việt Nam, ngày 17.4.1945 chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Thành phần chỉnh phủ gồm 10 bộ trưởng và ông là Tổng Lý Nội Các (Thủ Tướng).

Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Thủ tướng Trần Trọng Kim vào ngày 16/8/1945 khẳng định sẽ bảo vệ nội các Đế quốc Việt Nam. Ngày 18/8/1945, vua Bảo Đại đã gửi thư cho cho các cường quốc Đồng Minh (Anh, Pháp, Mỹ và Trung Quốc) đề nghị công nhận Đế quốc Việt Nam là chính phủ đại diện của Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả các bức thư đều không được trả lời. Lý do, theo Tuyên bố Cairo, các nước khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Đế quốc Nhật Bản thành lập tại các lãnh thổ bị chiếm đóng.

Trong khi đó, sau khi Nhật đầu hàng, vào sáng 19.8.1945, khi quân Nhật vẫn còn đứng gác trên các đường ở Hà Nội, Việt Minh và các tỏ chức hô hào dân chúng đến biểu tình trước Nhà Hát Lớn. Đoàn người biểu tình sau đó đã chiếm Nhà Hát Lớn và lá cờ đỏ có một sao ở giữa của Phúc Kiến lần đầu tiên xuất hiện ở đây. Nhìn cờ, nhiều ngưòi ngỡ ngàng vì nó không phải là hình ảnh lá cờ Vàng quen thuộc của Việt Nam trước kia.

Ngày 23.8.1945 Việt Minh kéo về công bố chính phủ lâm thời. Vào ngày 25.8.1945, tại lầu Ngọ Môn, Huế, Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị. Sau đó Bảo Đại trao quốc ấn và bảo kiếm cho đại diện của Việt Minh là Trần Huy Liệu, và Củ huy Cận. Tưởng cũng nên nhắc lại, Trần huy Liệu là kẻ đã gian trá tạo nên câu chuyện thiếu niên Lê văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng của địch cách đó cả trăm mét. Xem ra trên thế gian này thật khó kiếm ra những kẻ lưu manh, gian trá lừa đảo người ta tài tình như thế. Tuy nhiên, Với cộng sản thì đây lại là thành tích lẫy lừng, góp công sức lớn cho đảng! Đó là lý do, bài học và công viên Lê văn Tám đến nay vẫn là một mốc điểm quan trọng để Việt cộng tôn thờ, học tập và nó trở thành chủ đề thách thức sự hiểu biết của người Việt Nam.

Trước đó, từ ngày 22.8.1945, Archimedes L.A. Patti cùng với Carleton B. Swift Jr (OSS) và một viên chức Pháp đã đến Hà Nội lo về các tù binh. Ngày 26.8.1945, Patti đã gặp lại Hồ Chí Minh và Patti chính là người đã giúp soạn bản tuyên ngôn độc lập phỏng theo bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

III. Cờ tổ quạ và chuyện đất nước tôi.

Gần một triệu người Việt Nam đã xanh máu mặt chạy trốn nó từ sau ngày 20-7-1954. Tưởng rằng thoát nợ. Hỡi ơi, trong lúc đàn chim về tổ ấm thì bày qụa đen cũng đuổi theo. Nó cắn, nó xé xác người, xác chim non, không trừ một thứ gì. Đến ngày 30-4-1975, người miền nam mặt không còn một chút máu khi nhìn thấy chúng phe phẩy cái mũ cối ngay trên thành phố của mình. Một lần nữa, người dân lại chạy thục mạng. Từ Trung vào Nam. Rồi từ Nam ra hải ngoại.

Hỏi xem, con tàu nào, máy bay nào có thể chở, đón hết được đoàn người muốn ra đi? Kết qủa là họ phải ở lại, phải quay về với đôi mắt trắng nhìn đàn qụa đen chồm hổm trên sân. Từ đây, sự chết đã đổ xuống cho người dân Việt trong tiếng cười, tiếng quang quang của loài qụa hoang này. Cửa Chùa với lòng từ bi muôn thuở như khép lại và thay thế vào đó là một đoàn xát tăng gỉa hình? Chuông giáo đường không còn ngân vang mỗi khi chiều xuống để đem an bình đến cho lòng người, nhưng phải im tiếng. Gác chuông rêu mốc. Nhiều ngưòi cai quản được mời vào nhà tù không có ngày về. Rồi trên gác cao kia có loài qụa đen tuyền đứng nhìn xuống, chúng rình rập, chờ mồi.

Ngày nay, chuyện cờ đỏ và con qụa đen xem ra không còn là câu chuyện, nhưng nó là sự hiện diện nghiệt ngã trên quê hương Việt Nam. Ở đó, dưới lá cờ đỏ sao vàng, cộng sản không ngừng gian trá truyền đi sự ảo tưởng cho người dân về một đất nước độc lập, một đất nước tự do đang phát triển dưới cờ đỏ. Ở đó, không còn cảnh người bóc lột người. Kết qủa, ở đó không còn cảnh người bóc lột người. Chỉ có cảnh cán cộng, qụa đen ngày đêm thi nhau gầm rú, rỉa rói trên thân xác của người Việt Nam mà thôi.

Phần nhân dân, cả một đời lam lũ không hề biết đến chữ nước có độc lập, dân có tự do, có hạnh phúc dù có cái bảng thật to ngay trên đường. Trái lại, dưới chân những tấm bảng hiệu lớn nhất ấy là một đoàn người thống khổ, trên mình mang đầy thương tích, khổ đau. Và nằm ngay trên đường đi kia là những thân xác rã rời, hay ngã xuống trong đau thương, uất nghẹn. Mà la! Khi người VN ngã xuống lại trở thành miếng mồi hạnh phúc cho đàn quạ đen VC đánh chén. Chúng vui mừng như trong ngày hội với lá cờ đỏ sao vàng phe phẩy trên tay.

Xã hội là thế. Phần tổ chức thì cho đến nay, người ta vẫn không có thể lý giải được rõ ràng về nguồn gốc lá cờ màu đỏ có một sao vàng ở giữa, mà Việt cộng gọi là cờ của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, là cờ mang đến đau thương tang tóc cho người Việt Nam, là cờ trước kia gọi là cờ của Việt Minh, có nguồn gốc ra sao. Họ cứ mãi quanh co, ù ơ. Kẻ bảo tự phát xuất ở trong nam, kẻ cho là từ Trung cộng. Kết qủa, khi nhìn lại tài liệu, người ta có thể nhìn thấy dẫn chứng sau:

Theo Võ nguyên Giáp, hiệu kỳ này lần đầu do Hồ chí Minh sử dụng tại buổi mở lớp "Con đường giải phóng" huấn luyện cán bộ chuẩn bị thành lập mặt trận đại đoàn kết dân tộc vào cuối năm 1940, và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày "19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” ( tên gọi tắt là Việt Minh). Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến Quân Ca, tuy trong ca khúc có những câu như "...Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,... " nhưng lúc đó Văn Cao cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra “ cờ chiến thắng” theo tinh thần của nghệ sỹ.

Rồi ngày 22/12/1944, lá cờ đỏ sao vàng được Hồ Chí Minh trao cho Võ nguyên Giáp làm lễ khai sinh đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. (wikipedia) Ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trong buổi lễ gọi là tuyên bố độc lập tại quảng trường Ba Đình. Ngày 5 tháng 9 Hồ chí Minh, ký sắc lệnh quyết định cờ đỏ sao vàng là cờ của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, gọi tắt là Việt cộng. Lá cờ này có những chỉ dẫn về nguồn gốc như sau:

a. Nguồn gốc.

Ngày nay thấy có vài chứng liệu cho rằng nó phát xuất từ trong Nam trong khoảng 1940. Tuy nhiên cũng có nhiều bài viết của chính họ phản bác về lập luận này. Theo đó, những hình ảnh dưới đây được xác nhận là nguồn gốc của lá cờ này:



Đây chính là lá cờ được chính quyền tỉnh Phúc Kiến dùng năm xưa (1933-1934). Đây có thể cũng là nơi Hồ chí Minh đã tuyên thệ gia nhập làm đảng viên đảng cộng sản Trung cộng khi hoạt động ở đây? Tuy thế, nó có điểm khác biệt là, sau khi chỉnh sửa thì ngôi sao đã ngay hàng, cánh không còn mang hình bầu như trong hình của cờ gốc ở Phúc Kiến!

Đến nay, cuộc chỉnh sửa này xem ra cũng không còn mang nhiều ý nghĩa nữa. Bởi vì, chính Hà Nội trong những dịp đón rước các quan chức Trung cộng, đặc biệt là trường hợp Tập cẩm Bình đến Việt Nam đã có một chủ kiến khác. Ở đó, trước phủ gọi là chủ tịch nước, và trên đường đón rước Y là đoàn trẻ Việt Nam được mặc áo đỏ, tay cầm cờ đỏ với 6 ngôi sao (một lớn 5 nhỏ) để đón Binh. Trong thực tế cờ của Trung cộng hiện nay chỉ có 1 Sao lớn và 4 sao nhỏ mà thôi. Sau cuộc đón rước Bình, có nhiều nguồn dư luận trong nước xôn sao, nhà nước VC cười trừ bảo là… lầm lẫn. Tuy thế, sự lầm lẫn này không chỉ một lần. Như thế, hỏi xem những công hàm bán nước chúng ký trước đây đều là lầm lẫn cả ư? Hoặc gỉa, nếu biết là lầm lẫn tại sao còn tiếp tục nối đuôi nhau đi chầu TC để có Hiệp Ước Thành Đô, Ở đó Việt Nam sẽ được coi như một phiên quốc của TC vào năm 2020?

Cờ 6 sao xuất hiện chính thức lần thứ ba tại Hà Nội. (2011 - ngay tại phủ chủ tịch VC! ảnh: Vietnamnet)

b. Nhập cư, tang thương và rách nát.

Gần đây xuất hiện trên Internet hiệu kỳ của nhà nưóc Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Cộng với hình dáng bạn thấy ở trên. Thân cờ xem ra đã tan nát, nhưng cái ngôi sao là của Trung cộng vẫn còn Y nguyên. Đó là một điều để chúng ta chú ý. Khi cái mảnh màu đò nát như bươm buớm không còn gía trị thì cái ngôi sao ấy có khi lại được khiêng đi, nối kết vào một lá cờ có đến bốn năm sao có sẵn? Thế là ta mất nước và Hồ chí Minh lại quay về Tàu? Bạn hỏi tại sao ư?

Rõ ràng nó là hình ảnh đi vay mượn. Tự nó không có tự chủ. Và hình như nhà cầm quyền của chế độ này cũng biết chuyện đó nên muốn được di dời cái ngôi sao lẻ bóng ấy vào chung với lá cờ của Trung cộng, như họ đã vờ làm như thế trong ngày đón rước Tập cẩm Bình? Nếu ngày ấy đến, hỏi xem, bạn, tôi và toàn dân ta sẽ là tang thương hay hạnh phúc? Rồi vinh quang rực rỡ có đến với tập đoàn Việt cộng bán nước chăng? Hay là, khi ấy dòng giống Việt Nam chúng ta chỉ có một con đường duy nhất không phải chọn lựa là chờ chết. Chết trong đau đớn tủi nhục như Tây Tạng, Mông Cổ! Chết trong một lịch sử bị nhấn chìm?

IV. Là người Việt Nam, bạn nghĩ gì cho Việt Nam ngày mai?

- Theo Việt cộng, làm nô lệ cho Tàu cộng để kiếm ăn?

- Là người Việt Nam, ta đứng dậy, sống đời Quang Trung?

Tôi cho rằng, chúng ta chỉ có một trong hai con đường ấy để đi. Đường làm Nô Lệ cho cộng sản và đường làm người dân của một nước Độc Lập. Bạn chọn con đường nào?

Đường làm Nô Lệ ư? Tôi vĩnh viễn cho rằng lá cờ đỏ sao vàng ấy sẽ dẫn bạn đến đích. Bởi vì, nó không thuộc về chúng ta và của chúng ta. Nó thuộc về bất nhân và bất lương. Bạn nhớ đấy, ngay từ khi nó xuất hiện, hơn 172000 ngàn ngươi đã bị nó cướp đi mạng sống, gia sản và gia đình của họ. Rồi hàng trăm ngàn gia đình khác phải tan nát. Ấy là chưa kể đến con số hơn 4 triệu người đã chết tang thương trong chiến tranh. Tuy thế, tất cả những khốn khổ đau thương ấy không thấm vào đâu, nếu đem so với việc nó làm suy đồi nền văn hóa của dân tộc ta như hôm nay. Đã tồi tệ như thế, nhưng ngay mảnh sơn hà của cha ông ta để lại cũng sẽ không còn là nơi cho dân ta ở. Bởi, Việt cộng còn, Trung cộng sẽ tràn sang. Những kẻ Nô lệ sẽ được đổi tên và khoác lên mình một manh áo chư hầu.

Là con cháu của Lý Trần Lê Nguyễn… đường Nộ lệ cho Tàu như Việt cộng không phải là con đường của chúng ta. Trái lại phải là con đường vượt qua Đống Đa, ra Chi Lăng chém kẻ cướp nước mà giữ nước. Như thế, hỏi anh, hỏi em, hỏi chị… là người Việt Nam, nếu còn nghĩ đến dân tộc và tương lai của đất nước này mà đành quên đi tiền đồ của cha ông ta ư? Hay hỏi xem, khi thân xác ta tan hòa cùng sông núi, nhưng đất nước này vĩnh viễn thuộc về giòng giống Việt Nam, không thể rơi vào tay bắc phương, điều ấy có đáng làm hay không?

Hỡi nhân dân Việt Nam anh hùng, còn chờ gì nữa, hãy đứng dậy mà đi. Hãy chung nhau một vòng tay. Hãy cùng nhau một lời quyết chiến. Thề đạp tan sự thống trị độc ác của tập đoàn CS mà viết lại trang sử Nhân Bản cho nhà Việt Nam. Để ở đó, không phải là nơi cho lá cờ máu của CS trú ản để chúng mang oan khiên, độc ác đến cho người dân. Ở đó không còn là nơi để cho các đoàn đảng viên Tàu cộng, Việt cộng nhớn nhỏ đấu tố cuộc sống an bình của con dân Việt Nam. Trái lại:

Ở đó là một Việt Nam mến yêu, nơi đem yêu thương và sức sống nhân bản đến cho mọi người dân Việt Nam. Ở đó là nơi mở ra, đong đầy khát vọng của Tiên Long. Là tổ ấm, là nhà Việt Nam cho mọi người Việt Nam cùng chung sống Hòa Minh bên nhau trong tự tình Dân Tộc. Cùng chung tay xây dựng Hoà Bình, Công Lý. Cùng chung tay xây dựng đời sống Dân Sinh trong Tự Do, Dân Chủ và bảo vệ nền Độc Lập trường cửu của Tổ Quốc Việt Nam.

Bảo Giang.

9-9- 2017

Sunday, September 3, 2017

02 THÁNG 9 NĂM 1945, NGÀY VIỆT MINH CƯỚP CHÍNH QUYỀN ?


“Việt Minh lập hội tiêu Công Lý,
Cộng sản kết bè hết Tự Do.”

Bảo Giang (Danlambao) - Tại sao người Việt Nam gọi ngày 2-9-1945 là ngày Việt Minh cướp chính quyền?

Câu trả lời xem ra khá đơn giản. Một năm có 365 ngày, ngoại trừ những ngày được coi là linh thiêng đầu năm mới ra, theo nguyên tắc, mọi ngày đều giống nhau. Mọi ngày đều tốt lành để cho con người được chung hưởng, sinh sống và thăng hóa. Tuy nhiên, vào một ngày có những biến cố, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của nhân sinh, người ta thường đặt cho nó một cái tên để lưu ký và nhắc nhở những người có liên quan cùng nhau chia sẻ niềm vui hay cái nỗi bất hạnh đã xảy ra trong ngày đặc biệt này.

Thí dụ như: Ngày Giáng Sinh, Ngày Phật Đản, ngày Lễ Tạ Ơn. Ngày sụp đổ bức tường Bá Linh v.v… là những ngày vui mừng đáng cho mọi người ghi nhớ. Việt Nam cũng không có ngoại lệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 20 lại có đến 4 ngày được lưu ký trong mốc của lịch sử. Những ngày này có Ý nghĩa, tầm mức ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân khác nhau. Có ngày đáng vui mừng có ngày gây ra tủi nhục và bất hạnh cho cả dân tộc. Tuy thế, ba trong số đó được gọi là ngày “quốc khánh” (dù chỉ là ở Nam hay Bắc). Liệu có đúng hay không? Những ngày đó là:

1. Ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại ký Đạo Dụ “Tuyên cáo Việt Nam Độc Lập”, tuyên bố hủy hòa ước Patenôtre ký với Pháp vào năm 1884, cũng như xóa bỏ các hiệp ước chịu nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, đồng thời khôi phục nền Độc Lập của đất nước, và thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ lại thành một quốc gia với một chính phủ.

2. Ngày 2/9/1945, ngày Việt Minh dưới sự bảo trợ của Tàu cộng đã cướp công kháng chiến chống Pháp của toàn dân và cướp chính quyền hợp pháp của Việt Nam do thủ tướng Trần Trọng Kim lãnh đạo. Ngày này được gọi là ngày quốc khánh của Việt cộng

3. Ngày 26-10-1956, Ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm công bố thành lập nền Cộng Hòa theo thể chế Tự Do Dân Chủ, bãi bỏ nền quân chủ chuyên chế tại Việt Nam. Đây là ngày Quốc Khánh của Việt Nam Cộng Hòa.

4. Ngày 1-11-1963, ngày một nhóm tướng phản loạn đã dùng binh lực của Việt Nam làm cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền và giết vị Tổng Thống hợp pháp hợp hiến của Việt Nam. Cũng được gọi là ngày Quốc Khánh!

I. Ngày 11-3-1945

Khi xét về quan điểm lịch sử chính dòng và vị thế của người công bố thì ngày 11/3/1945 có lẽ đáng được trân trọng là ngày Quốc Khánh của Việt Nam hơn cả. Lý do, người công bố là vua Bảo Đại, người lãnh đạo đương nhiệm thuộc chính dòng tộc mà cha ông của ông đã phải ký nhận chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp cách dây gần một trăm năm. Nay về danh nghĩa, chính người nối dòng của triều đại này đang ở trên cùng một cương vị ra Tuyên Cáo Việt Nam Độc Lập, hủy bỏ các văn kiện nhận bảo hộ. Khôi phục, thống nhất ba miền Bắc Trung Nam thì phải kể là một văn bản có giá trị thi hành. Tuy nhiên, cái vị thế ấy là không đủ. Chính sự vô năng lực của người ký Đạo Dụ đã làm cho bản văn chỉ có ý nghĩa trên giấy mà thiếu hẳn phần thi hành. Ấy là chưa kể đến việc, chính bản thân Bảo Đại đã đầu hàng kẻ cướp chính quyền của Việt Nam sau đó mấy tháng mà không có lấy một lời phản kháng nào. Từ đó, ngày 11/3/1945 bị rơi vào quên lãng, chẳng có mấy người biết đến.

II. Ngày 26-10-1956.

Ngày này đã một thời được coi là ngày Quốc Khánh của Việt Nam. Được coi trọng là ngày Quốc Khánh theo cả hai nghĩa. Ngày vui mừng, ngày đổi mới của đất nước, vì từ đây đất nước theo thể chế Cộng Hòa, loại trừ vĩnh viễn đế chế quân chủ ra khỏi đất nước. Về sinh hoạt, từ đây đất nước bước vào cuộc sinh hoạt trong Dân Chủ và Tự Do. Không còn cảnh con vua thì lại làm vua để trị vì đất nước dù vô cùng ngu muội, bệnh hoạn.

Về đối ngoại thì sau ngày này, lá cờ của thực dân Pháp đã bị kéo xuống khỏi kỷ đài trên phủ toàn quyền và thay vào đó là Quốc Kỳ của Tổ Quốc Việt Nam. Đây là biểu hiệu chấm dứt hoàn toàn sự lệ thuộc vào chủ nghĩa bảo hộ của ngoại bang. Đây là một việc làm đầy ý nghĩa và chính danh mà Bảo Đại sau biết bao nhiêu năm cố gắng, hoặc giả, cả chính phủ của thủ tướng Trần Trọng Kim, hơn bốn tháng cầm quyền từ sau ngày vua Bảo Đại tuyên bố Độc Lập cho tổ quốc đã không thể hạ nổi lá cờ này xuống khỏi cái cột ngạo nghễ kia. Nhưng chỉ một ngày sau khi công bố thành lập nền Cộng Hòa cho Việt Nam, TT Ngô Đình Diệm và nội các của ông đã hoàn thành nhiệm vụ giải thể chế độ bảo hộ của Pháp tại Việt Nam.

Về mặt nhân dân và đời sống. Ai muốn nói gì thì nói. Ai muốn lên án vị lãnh đạo của thời gian này là Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì cứ việc lên án theo ý riêng của họ. Nhưng có một điều không ai có thể chối cãi, kể cả chính những kẻ lên án ông, chỉ trích ông, phê bình ông, cũng như tập đoàn CS đang tìm cách phá hoại nền Cộng Hòa do ông vun trồng, đều phải công nhận những điểm son trong thời đệ nhất cộng hòa, và xác định là không có bất kỳ một người Việt Nam nào khác, kể cả lãnh đạo CS tại miền bắc đạt được thành tích vì dân vì nước như ông.

Thứ nhất, ông là một vị Tổng Thống mẫu mực, đạo hạnh và liêm chính và sống vì dân vì nước. Rồi, dưới thời của ông người dân được hưởng một cuộc sống thái hòa an lạc, những phường trộm cướp đầu đường xó núi (VC) thì lo trốn chui trốn nhủi trong hang chờ chết. Kế đến, về phương diện ngoại giao, ông là một người duy nhất đã làm cho tổ quốc Việt Nam bừng sáng trên trường quốc tế, làm cho các lân bang và đồng minh kính nể, ngưỡng mộ. Bởi vì ông là một vị lãnh đạo duy nhất ở Đông Nam Á, chỉ sau mấy năm lãnh đạo đất nước, đã đến thăm Hoa Kỳ theo lời mời của TT Eisenhower.

Ông đã được chính vị anh hùng giải phóng Âu Châu là Tổng thống đương nhiệm ra tận chân máy bay để đón tiếp. Sau đó cả hai cùng ngồi chung trong một chiếc xe mui trần chạy dọc theo những đại lộ chính để về dinh Quốc Khách hội họp, nghỉ ngơi và đến đọc diễn văn tại Quốc Hội lưỡng viện Hoa kỳ. Chính trong bài diễn văn ngắn gọn này, một lần nữa ông đã chứng tỏ bản lãnh và ý thức Độc Lập của Dân tộc Việt Nam ra trước công luận của thế giới khi công bố: "Chúng tôi khẳng định mục đích chính đáng duy nhất của nhà nước là bảo vệ quyền trường tồn, quyền phát triển tự do, trí tuệ, đạo đức và tinh thần căn bản của con người trong đời sống” Ngô Đình Diệm .

Ai đó đừng “chạm giây” cho rằng, tại vì Mỹ là đồng minh là bảo hộ cho miền Nam nên mới đón tiếp ông Diệm như thế, chứ hay ho gì? Nếu ai dại dột nghĩ như thế thì hãy nhìn lại thân phận Hồ Chí Minh xem sao? Y sang Trung quốc mười lần thì lén lút đi bộ, lên xe lửa đến tám lần. Hỏi xem có lần nào lãnh đạo Nga, Trung cộng ra đến tận sân bay đón Y chăng? Xem thế, phận nô lệ không thể đem so với tình bằng hữu!

III. Ngày 1-11-1963 thì thế nào?

Thật là chẳng may cho người Việt Nam khi ở miền Nam có nhóm tướng phản loạn, nay thì đã được công khai hóa là nhận tiền của Mỹ để giết hại vị Tổng Thống hợp pháp hợp hiến của miền Nam trong cuộc đảo chánh. Sau đó, lại còn tròng vào cổ người miền Nam cái ngày phản loạn ấy là ngày Quốc Khánh! Sát nhân lại có thể sính với anh hùng ư? Thật chả còn ra một một cái thể thống và ý nghĩa gì. Ngày của những kẻ phản bội dân tộc lại được nhóm phản loạn này khoác cho một cái áo choàng là ngày mừng cho cả nước! Nhìn lại, mọi người như đều đồng ý rằng, đây chính là ngày khởi đầu cho cuộc bi thảm ở miền nam. Rồi từ bi thảm này được kết thúc bằng một tai họa đem đến bất hạnh lớn cho cả dân tộc từ sau ngày 30-4-1975. Nó lẽ ra là ngày không đáng nhắc đến nữa.

IV. Ngày 2-9-1945 ra sao, có là ngày quốc khánh?

Có lẽ không chỉ riêng tôi, gia đình tôi, bạn bè thân hữu của tôi, nhưng là tuyệt đại đa số lên đến trên 90% người dân Việt Nam, nếu được hỏi ý kiến thì tất cả sẽ trả lời một cách dứt khoát là Không. Nó không bao giờ nó xứng với cái danh vị ấy. Trái lại, nó rất xứng hợp với cái tên gọi là ngày Việt Minh cướp chính quyền. Lúc trước nó đơn giản được hiểu là ngày Hồ Chí Minh dùng bạo lực như bọn trộm cướp, để cướp chính quyền từ tay của một chính phủ hợp pháp của một nước đã thu hồi Độc Lập. Ngày nay, khi lý lịch cá nhân là người Tầu, hoặc là đảng viên đảng cộng sản TC của Hồ Chí Minh từng bước thành sáng tỏ, nó còn mang thêm một cái nghĩa đau đớn khác nữa là, Hồ Quang và tập đoàn cộng sản theo Tàu đã cướp chính quyền của Việt Nam, đẩy Việt Nam vào vòng nô lệ bành trướng của phương bắc. Nếu đúng như thế thì không còn gì bất hạnh hơn. Sự việc này có diễn tiến như sau:

1. Những sự kiện trước ngày cướp chính quyền 2-9-1945.

- Ngày 3-2-1930, một nhóm gồm 7, 8 người đã tập họp lại với nhau và thành lập đảng cộng sản Đông Dương tại Hồng Kông, dưới sự chỉ đạo của cộng sản quốc tế, trực tiếp là Nga và Tàu lãnh đạo, trách nhiệm.


- Một trong 8 người này vào năm 1938, xuất hiện trong vai thiếu tá tình báo, phụ trách ngành điện báo thuộc Bát Lộ Quân trong quân đội nhân dân giải phóng Trung cộng với lý lịch như sau: “Sơ yếu lý lịch của Huguang (tức c/t Hồ Chí Minh) tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi - Phụ trách điện đài – Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam - Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. (ảnh 1, ảnh 2) Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员—38岁—-广东—-少校 —-毕业于岭南大学——中学教师。会外语和国语 .

- Thiếu tá Huguang vào địa giới Việt Nam lần đầu tiên vào ngày 28 tháng 01 năm 1941. (Y mang về đây lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Phúc Kiến, nơi y tuyên thệ vào đảng cộng sản TC)? Đến tháng 8-1942 ông ta trở lại Trung quốc, bị bắt vì giấy tờ đã hết hạn. Khi bị bắt Y khai tên là Hồ Chí Minh. Đến tháng 9-1944 HCM trở lại Việt Nam và cuối năm 1944 trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945 quay lại VN (Wikipedia).

- Nhân cuộc tổng đình công tại Hà Nội đưa đến việc sụp đổ chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim, Việt Minh đã cướp lấy chính quyền vào ngày 2-9-1945. Ngày này đã đóng một dấu ấn sâu sắc trong dòng lịch sử Việt Nam. Nó đã làm thay đổi, đảo lộn dòng văn hóa nhân bản và đạo đức của xã hội Việt Nam. Nó đã đưa dân tộc Việt Nam vừa thoát ách thực dân và phong kiến lại vội vàng chìm vào ách nô lệ và thống trị toàn trị của cộng sản theo chân Tàu cộng. Nó chính là ngày Việt Minh đã tiêu diệt toàn bộ di sản nhân quyền và nhân bản của dân tộc Việt Nam.

2. Những thành tích sau ngày Hồ Chí Minh cướp được chính quyền của Việt Nam ở miền bắc vào 2-9-1945 và sau 30-4-1975 ở miền Nam...

Trước hết là cuộc thảm sát đồng bào Việt Nam trong mùa đấu tố với hơn 172 ngàn người bị chặt đầu, bị chôn sống, bị sử từ và toàn bộ tài sản của họ bị cưỡng đoạt. Vào những ngày gần đây, người người kinh hoàng, rợn tóc gáy khi nhìn thấy những hình ảnh của chiến tranh và của khủng bố được lưu truyền trên mạng. Từ đó đã khơi nguồn cho việc người người lên án những hành vi gây tội ác man rợ này. Tuy nhiên, nếu nhìn lại, những hình ảnh ấy thấm vào đâu, chẳng đáng là gì nếu đem so sánh nó với những cảnh Hồ chí Minh chặt đầu, chôn sống, giết chết hơn 172 ngàn đồng bào vô tội Việt Nam trong khoảng 1953-56. Ấy là chưa kể đến những cuộc chém lén trước đó và trong chiến tranh.

Nó không thể so sánh vì tội ác phạm đến con người bằng cách này hay cách khác thì đều không được tha thứ. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, tội ác của khủng bố còn có chỗ để bào chữa là vì trong hoàn cảnh chiến tranh, hai bên đang tranh dành chiến thắng nên không từ bỏ bất cứ những hành vi man rợ nào có thể trấn áp đối phương. Nhưng trường hợp của Hồ Chí Minh thì tuyệt đối không có bất cứ một khe hở nào, dù nhỏ, để bào chữa cho cái hành vi man rợ, không nhân tính của Y. Bởi vì, những người bị giết chết kia chỉ là dân thường, áo vải, không phải là những người đối đầu với Y. Họ không hề tham gia bất cứ một công tác nào chống lại Y. Hơn thế; còn có rất nhiều ngươi đã đích thân, hay cho con cái theo Việt Minh, theo kháng chiến từ buổi đầu, giúp cho Y có chỗ đứng như ngày hôm nay.

Với đất nước, họ không phạm bất cứ một lỗi nào để phải bị chặt đầu, bị chôn sống bị xử tử, treo ngược. Kết qủa, họ bị giết, bị phanh thây chỉ vì cái lòng man rợ và độc ác của HCM. Bởi chính Hồ Chí Minh, sau những vụ giết người này đã khoa tay múa chân, tự mãn tuyên bố “Đây là một chiến thắng long trời lở đất”.

Hỡi ơi! Giết dân, cướp của một cách man rợ, độc ác như thế mà có thể bảo là một chiến thắng long trời lở đất được ư? Đây là tiếng người hay tiếng ma? Có phải vì Y không có trong người dòng máu Việt Nam, nên y không thể thương tiếc người Việt Nam? Có phải vì Y mang trong người dòng máu của Hán, Tống, Nguyên… nên Y đã lợi dụng thời cuộc gọi là cải cách này để trả hận cho những gò Đống Đa hay ải Chi Lăng xưa? Đến nay, chưa ai tìm ra câu trả lời khẳng định. Tuy nhiên, cũng không thể tìm ra một lời tuyên bố nào bạc ác, bất nhân, bất nghĩa đến như thế nữa. Ấy là chưa kể đến chuyện HCM còn là kẻ thâm độc ngoài sức tưởng tượng của con người khi y bắt chính thân nhân, kể cả vợ con trong nhà cho đến họ hàng, lối xóm của nạn nhân, phải đứng ra chỉ mặt, kể vu khống cho nạn nhân những cái tội mà họ chưa bao giờ biết đến! Nghe chưa xong thì nạn nhân đã phải chết và người còn sống thì phải theo gương Y nói dối nhau mà sống!

Rồi ngày nay, cái họa Tàu đã tràn khắp trên giang sơn Việt Nam bắt nguồn từ đâu? Tại ông Tổng thống Diệm chăng? Hay do từ văn bản của Đặng Xuân Khu viết lời kêu gọi Việt Nam xin được làm chư hầu cho Trung Cộng vào năm 1951? Hay từ công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958. Hoặc giả, từ những lời khẳng định của Lê Duẩn công bố khi sang chầu Trung cộng là: "Cuộc chiến đáu này (tại miền nam) là đánh cho Trung Công Liên Sô…” “Chúng tôi còn kiên cường chiến đấu, là vì phụ thuộc vào Mao chủ tịch!(1969)” Ai hãnh diện, ai tự hào về những hành vi man rợ của Hồ Chí Minh, vì những lời tuyên bố của Đồng, Chinh, Duẩn đây? Người Việt Nam ư? Không, không bao giờ! Như thế, tự nó đã trả lời, ngày 2-9-1945 là ngày Hồ Chí Minh cướp chính quyền của Việt Nam..

Bên cạnh đó, hãy hỏi xem, với người hỗ trợ công việc kháng chiến thì bị Hồ đấu tố. Nhưng với quan thày Trung cộng, Hồ Chí Minh bái lạy thế nào?

Theo tài liệu, Hồ Chí Minh đã nói và được loan truyền rộng rãi trong dân chúng về việc Y đã hứa dâng đất của Việt Nam cho Trung cộng một khi được Trung cộng cứu giúp như trường hợp của Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc xưa kia. Chính Hồ Chí Minh đã khẳng định với Tổng Lý Chu Ân Lai là: "Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa...." Và khởi đầu cho lời hứa này là Hoàng Sa và Trường Sa, dù lúc đó hai quần đảo này còn nằm trong quyền hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó cho thấy, Y chỉ vì mộng công hầu mà đi theo bước chân của Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tác. Kẻ bán cước cầu vinh.

VI. Việt Nam rồi ra sao?

Đến đây, chúng ta, người Việt Nam yêu nước, không muốn mất quê cha đất tổ, có lẽ chỉ còn duy nhất một con đường để đi là: Hãy đứng dậy, nắm lấy tay nhau, đi theo bước chân của tiền nhân ta. Trảm kẻ nội thù diệt xâm lăng. Mở lại một trang sử mới cho đất nước, tạo nên một ngày mới cho Dân Tộc. Ở đó Việt Nam là một Quốc gia trường tồn trong Độc Lập. Ở đó người dân có Tự Do, có sinh hoạt Dân Chủ.

Dân chủ không phải là một hạnh phúc vật chất, nhưng là một phương tiện để đưa đất nước và con người thăng tiến trong những sinh hoạt chính trị, xã hội với mục đích đem lại phúc lợi cho người dân. Ở đó mọi giá trị về đạo đức, luân lý của xã hội, nhân phẩm của con người và tôn nghiêm linh thánh của Tôn giáo phải được tôn trọng. Quyền bình đẳng của con người, Quyền tư hữu của tư nhân, của tập thể, của tư cách pháp nhân được luật pháp bảo trợ. Ở đó có Công Lý ngự trị. Đó mới thật là một ngày vui mừng, một ngày mới, một ngày Quốc Khánh của Dân Tộc.

3/9/2017

Monday, August 14, 2017

ĐỖ VĂN PHÚC : GIẢI ĐỘC VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Đây là thành phố Richmond, thủ phủ của Tiểu bang Virgina nằm ở miền Đông bắc Hoa Kỳ, nơi ngày 10 tháng 8, 2017 đã diễn ra buổi tọa đàm về Chiến tranh Việt Nam do Đài truyền hình WCVE và dài truyền thanh WHTJ thuộc hệ thống đài chính PBS tổ chức.

Chúng tôi từ Austin, mang sứ mạng đem tiếng nói trung thực của một người lính Việt Nam Cộng Hoà đóng góp vào công tác giải toả những thắc mắc mà người dân Hoa Kỳ còn mơ hồ về một sự thật sau hơn 42 năm bị các truyền thông khuynh tả Mỹ bóp méo, xuyên tạc.
Sau hơn 10 năm vừa chuẩn bị, vừa thực hiện, ông Ken Burns và bà Lynn Novick sẽ trình chiếu trên hệ thống PBS một bộ phim 10 tập, dài 18 tiếng về Chiến Tranh Việt Nam, với nhiều tài liệu mà theo nhà làm phim cho hay là các khám phá mới từ những nguồn tin khác nhau; trong đó có cả những phần phỏng vấn khoảng 100 người chứng mà đa số là cựu chiến binh của các bên tham chiến. Bộ phim này sẽ được chiếu bắt đầu từ giữa tháng 9 trên đài PBS và các đài chi nhánh ở địa phương. Xin nhắc lại là hai vị làm phim đều thuộc khuynh hướng phản chiến.

 Cử toạ trong thính phòng VMI

Đài truyền hình WCVE tại Richmond đã phối hợp cùng Phân Khoa Báo Chí thuộc trường Đại học Richmond tổ chức một buổi toạ đàm gọi là “Vietnam, Virginia Remember” tại thính phòng của Trung Tâm Paul and Phyllis Galanti Education Center trong quần thể Virginia War Memorial lúc 6:30 chiều ngày 10 tháng 8, 2017.
Buổi toạ đàm có 4 nhân vật có liên quan đến chiến tranh Việt Nam, mở cho một số cử toạ giới hạn, đuợc thu hình, thu thanh để phát trên đài truyền hình WCVE và đài phát thanh WHTJ. Chương trình có 30 phút dành cho 4 tham luận viên và 30 phút sau dành cho cử tọa đặt câu hỏi. Mục đích của chương trình là nhằm giáo dục quần chúng về chiến tranh Việt Nam do những đóng góp của những người từng có kinh nghiệm về cuộc chiến ớ các góc độ khác nhau.


Ông Đỗ Văn Phúc, cựu Đại Úy William Haneke, Giáo Sư Robert Hodierne, bà Mary Tonia Golden và ông Paul Fleisher

Người tổ chức là bà Katherine Mitchell, Phó Chủ Tịch của Community Engagement của đài WCVE. Người điều hợp buổi toạ đàm là Giáo Sư William Hodierne, một phóng viên từng có mặt ở chiến trường trên 2 năm và đang là Khoa Trưởng Khoa Báo Chí thuộc Đại học Richmond. Bốn vị được mời vào buổi toạ đàm là cựu Đại úy William Haneke, tốt nghiệp trường Võ bị West Point năm 1966, phục vụ tại Việt Nam và đã bị cụt mất hai chân trong một trận chiến ác liệt; bà Mary Tonia Golden, một nữ y tá Lục quân, phục vụ tại các bệnh viện quân đội Mỹ ở ở Việt Nam trong 1 năm; cựu Đại úy Đỗ Văn Phúc, một sĩ quan Bộ binh VNCH; cuối cùng là ông Paul Fleisher, một người thuộc nhóm phản chiến.

Ông Châu Chương Thành, cựu Đại Úy William Haneke và ông Đỗ Văn Phúc
Chương trình đã được sự đóng góp tích cực của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Richmond do ông Châu Chương Thành làm Chủ tịch. Bản thân ông Thành cũng là một cựu sinh viên sĩ quan từ trường võ bị nổi tiếng Virginia Military Institute (VMI), là nơi đã đào tạo Chuẩn Tướng Châu LậpThế, một trong hai Tướng Lãnh đầu tiên người Mỹ gốc Việt trong quân đội Hoa Kỳ.
Trong 30 phút của phần đầu, Giáo sư Hodierne lần lượt đặt các câu hỏi để các tham dự viên trình bày quan điểm và kinh nghiệm của mình trong chiến tranh. Ông Phúc, ngoài việc trình bày sự khủng bố của Việt Cộng là lý do ông tình nguyện vào quân đội, kinh nghiệm chiến đấu, còn có dịp nói lên thực trạng trong nhà tù Cộng Sản mà thế giới nghe qua với mỹ danh trại Cải tạo. Bà Golden cũng nói thêm về tình cảm mà dân chúng Việt Nam đã dành cho bà khi bà trở lại Việt Nam gần đây. Ông Haneke thì nói về kinh nghiệm chiến đấu của mình và những người lính Địa Phương Quân mà ông là cố vấn đã chiến đấu can trường, gian khổ ra sao. Về phía ông Paul Fleisher, là người cổ động phản chiến thì cho rằng ông ta chống lại việc Hoa Kỳ tham chiến là vì ông không muốn một nước lớn này đem áp đặt chủ nghĩa của mình lên một nước nhỏ xa cách nửa vòng trái đất.
Khi bắt đầu phần 30 phút dành cho cử tọa, ông Nguyễn Văn Tần, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, đã chất vấn ông Fleisher tại sao ông yêu thương nuớc Việt Nam Cộng Sản đến độ mang chiếc cà vạt có in cờ đỏ sao vàng. Fleisher cho biết ông đuợc người ta tặng cà vạt và không biết nó biểu tượng nền đỏ sao vàng đó là cờ của Việt Cộng (ông ta nói “I have no idea!”). Lời giải thích này đã bị ông Châu Chương Thành bẻ ngay rằng ông Fleisher đã tự mâu thuẫn với chính mình, và việc ông mang cà vạt màu cờ VC là sự xúc phạm đối với những người chống Cộng cũng như đó là sự phản bội đối với anh linh 58 ngàn quân nhân Mỹ đã hy sinh trên chiến trường Việt Nam. Ông Thành mỉa mai ông Fleisher tự nhận mình là một nhà giáo dục, nhưng lại nói ông ta không biết về lá cờ VC. Sau lời phân tích cứng cáp của ông Thành, ông Fleisher đã tự tháo chiếc cà vạt trước mặt cử tọa!
Cũng trong dịp này, ông Thành nói lên chính nghĩa của phiá Việt Nam Cộng Hoà. Chúng tôi cũng đã có vài lời giải thích cho ông Fleisher rằng dân chúng Hoa Kỳ được an toàn, sống cuộc đời hạnh là nhờ sự hy sinh của các chiến sĩ chặn đánh kẻ thù từ bên ngoài biên giới không để cho chúng có cơ hội đến gần. Một cựu chiến binh Mỹ, ông David Preston cũng đồng ý và lên tiếng yêu cầu phải ủng hộ những người lính khi họ chiến đấu cho chúng ta được an toàn, và tận hưởng tự do.

Ông Đỗ văn Phúc, bà Katherine Mitchell và giáo Sư Robert Hodierne

Một trong những câu hỏi của cử toạ là tâm trạng các gia đình chiến sĩ ra sao trong khi có người thân ra chiến trường. Trong câu hỏi cuối cùng dành cho ông Phúc: Nói trong 1, 2 chữ thôi, về nhận thức chiến tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ; ông Phúc đã dùng chữ Misunderstanding, misinformation, và misrepresentation. Đó là do các hành pháp Mỹ không hiểu biết về dân tộc, văn hoá Việt Nam, không có chiến lược lâu dài, nhất quán; rồi sự bóp méo thông tin và đầu dộc dư luận Mỹ mà thủ phạm là truyền thông Hoa Kỳ mà đã làm hỏng cuộc chiến Việt Nam.
Quan Chau, Một cháu thanh niên Mỹ gốc Việt 18 tuổi, mới rời Trung Học cũng hỏi ông phản chiến Fleisher câu hỏi hóc búa rằng ông có những thân nhân nào phục vụ trong quân đội không, và ông cảm nhận thế nào? Ông ta lúng túng trả lời vòng vo để né tránh.
Sau hơn một giờ sôi nổi hào hứng với nhiều cảm xúc trong cử toạ khi hiểu biết thêm từ những nhân chứng, tiếp theo buổi tọa đàm là phần tiếp xúc riêng tại phòng bên ngoài để những vị nào còn muốn hỏi thêm các tham luận viên. Chúng tôi nhận được nhiều lời khen ngợi và cảm ơn nồng nhiệt.

 Ông Đỗ Văn Phúc và ông Nguyễn Văn Tần

Đặc biệt, chúng tôi gặp gỡ trò chuyện cùng ông Paul Galanti, là người phi công Hoa Kỳ từng bị bắn rơi trên vùng trời Hà Nội và bị giam giữ ở Hoả Lò trong gần 6 năm. Tên ông và bà vợ đã được dùng đặt cho toà nhà chính của Trung Tâm Giáo Dục tại Virginia War Memorial, nơi đang diễn ra cuộc toạ đàm. Bà vợ ông, Phyllis có công lớn nhất trong việc vận động chính phủ Hoa Kỳ để đòi Bắc Việt thả các tù binh Hoa Kỳ.
Chúng tôi quan niệm rằng hể có dịp nào đem được tiếng nói của người Việt Quốc Gia đến quần chúng Hoa Kỳ, chúng tôi phải tích cực tham gia vì không thể để sân chơi độc quyền cho những người khuynh tả, phản chiến. Trong những năm gần đây, chúng tôi đã có mặt nhiều nơi bất luận các cuộc hội thảo, sinh hoạt do từ phía nào tổ chức.
Lần này, ở Richmond, có thể nói chúng ta đã thành công trong việc tranh thủ dư luận. Chương trình buổi toạ đàm sẽ được chiếu ngay kèm theo cuốn phim của Ken Burns sẽ là một đòn phản công nếu như trong cuốn phim 10 tập của ông ta còn những hiểu lầm sai trái về cuộc chiến tranh.

Đỗ Văn Phúc tường trình đặc biệt từ Richmond, Virginia

TRẬN ĐÁNH BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA, HAY LÀ 'CHIẾN CÔNG TRÊN GIẤY. . . BÁO?'


Tạp ghi Huy Phương


Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH trước năm 1975. (Hình: dongsongcu.wordpress.com)
Ðại Tá VNCH Chu Văn Hồ, nguyên chỉ huy trưởng Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên, Phòng Tổng Quản Trị, Bộ TTM-QLVNCH, hiện cư ngụ tại New Jersey là sĩ quan cao cấp duy nhất có mặt tại Bộ TTM-VNCH vào trưa ngày 30 Tháng Tư, 1975. Ông được Bảy Vĩnh, đại diện quân Bắc Việt, vào tiếp thu Bộ TTM, cấp cho tờ giấy giới thiệu, “tạm thời có nhiệm vụ bảo quản của công!” trong khi chờ đợi các lực lượng Việt Cộng vào.
Theo lời Ðại Tá Hồ, sáng hôm đó, sau khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì Bộ TTM là một ngôi nhà không chủ, bỏ trống, không còn binh sĩ, chỉ có một số đơn vị trưởng ở lại để “chờ bàn giao” theo lệnh.
Vào khoảng 10 giờ 30 sáng, có một cán bộ Bắc Việt tên Bảy Vĩnh (trên giấy tờ ghi là Quân Ðoàn Trưởng QÐ 2 giải phóng thủ đô) đi trên xe Jeep do một tài xế tên Suốt (phục vụ tại Phòng 7 Bộ TTM làm nội tuyến) đến gặp Ðại Tá Chu Văn Hồ ở Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên, mượn thang lên treo cờ ở tòa nhà chính, rồi ra về, đến tối mới dẫn một toán quân đi từ cổng số 1 vào. Khi đó, quân phòng thủ Bộ TTM không còn ai nữa.
Bảy Vĩnh đóng quân tại Trung Tâm Ðiện Toán của Ðại Tá Chu Văn Hồ, mấy ngày sau mới bàn giao cho chuyên viên ở Bắc Việt vào.
Theo một bài báo của Tướng Cộng Sản Trần Văn Trà đăng trên tạp chí Ngày Nay, số đề ngày 1 Tháng Năm, 1990, xác nhận người vào Bộ TTM đi bằng xe Jeep, gặp Ðại Tá Hồ, sau đó lên tòa nhà chính cắm cờ với sự trợ giúp của một hạ sĩ là nội tuyến! Không một tiếng súng!
Chấm hết!
Nhưng theo sách vở và sự tuyên truyền của Bắc Việt, 55 ngày đêm chiến đấu của Việt Cộng là thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, vũ bão, sáng tạo, và ca tụng kiểu Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng!”
Nếu với chỉ một chiếc xe Jeep, chiến lợi phẩm lượm dọc đường và một tên lính nằm vùng, Bảy Vĩnh vào Bộ TTM-QLVNCH treo cờ mà không cần bắn một phát súng, đổ một giọt máu, thì trận đánh chiếm miền Nam có còn chi là hào hùng, vũ bão!
Ðể lừa bịp hậu sinh và dân chúng miền Bắc, 10 năm sau, trận chiến này được vẽ lại trên mặt báo:
  • Trong cuốn “Tự Ðiển Bách Khoa Quân Sử” của Bộ Quốc Phòng CSVN xuất bản năm 2004 tại Hà Nội, do hơn 100 tướng lãnh và hơn 1,000 đại tá viết, trong trang 1023, trong bài “Trận Bộ Tổng Tham Mưu,” đã viết ra những dòng trên giấy, vẽ ra một trận tiến công tưởng tượng như sau:
“Lực lượng địch tại Bộ TTM khoảng 4,400 quân (gồm cơ quan văn phòng, 1 tiểu đoàn tổng hành dinh, 1 tiểu đoàn truyền tin, 1 đại đội quân cảnh, 1 chi đoàn xe tăng thiết giáp, 2 đại đội pháo và súng cối…) Ngoài ra, còn có lực lượng bảo vệ vòng ngoài của hệ thống phòng thủ Sài Gòn. Với sức mạnh áp đảo, sáng 30 Tháng Tư, ta tiếp tục tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng và lực lượng phản kích của địch, hình thành nhiều mũi đột phá cổng chính và cổng 1, 2, 3, đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu trong Bộ TTM, làm chủ và kết thúc trận đánh lúc 11 giờ 30 phút. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch:
-Thu và phá hủy gần 200 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và xe bọc thép),
-Sáu khẩu pháo,
-Bắn cháy hai máy bay trực thăng,
-Thu hơn 3,500 súng bộ binh và nhiều tài liệu quan trọng…”
  • Trong “Những trận đánh làm nên lịch sử” do nhà xuất bản Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, xuất bản, bài “Ðánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu:”
“Ðến cổng số 3, Ðại Ðội 6 gặp địch ngăn chặn, súng máy, súng tiểu liên của chúng quét như vãi đạn từ các ô cửa xuống mặt đường, năm chiến sĩ của ta bị thương nặng phải đưa về phía sau. Phải chia cắt để tiêu diệt địch ta mới có thể vào sâu bên trong, chính trị viên Trần Hạng trao đổi với đại đội phó Nguyễn Ðức Dương và lập tức Ðại Ðội 6 tách thành hai mũi. Chính trị viên Hạng chỉ huy mũi thứ nhất vượt qua làn đạn, nhằm hướng Bộ Tổng Tham Mưu tiến vào. Mũi thứ hai do đại đội phó Dương chỉ huy sử dụng M48 bao vây địch ở khu tiếp liệu, tới tấp nã đạn về phía quân ngụy. Chỉ 10 phút sau, tiếng súng địch im bặt.
“Ở ngoài cổng số 6, Ðại Ðội 5 cùng Trung Ðội 2, Ðại Ðội 7 dùng pháo cối chế áp cùng hai chiếc K63, bốn chiếc M48, đột kích thẳng vào khu nhà hai tầng. Nhưng bọn địch đã lập tức di chuyển về phía sân vận động và bắn như điên cuồng về phía quân giải phóng.
“Lúc này, binh lính địch quăng súng, lột áo chạy tháo thân, tiểu đoàn biệt kích dù, tiểu đoàn bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu tan rã nhanh chóng.
“Chỉ một lát sau, lá cờ giải phóng đã tung bay tên nóc nhà Bộ Tổng Tham Mưu ngụy, trong tiếng reo hò của quân ta và nhân dân vùng phụ cận !!!”
Thông Tấn Xã Việt Nam, Tháng Tư, 2015, có bài “Cắm cờ trên nóc Bộ Tổng Tham Mưu:”
“Qua 40 năm nhưng ông Ðông vẫn nhớ như in từng chi tiết với nỗi niềm tự hào của người lính cụ Hồ. Ông kể vào khoảng 11 giờ kém 20 ngày 30 Tháng Tư, 1975 theo đường Trần Xuân Soạn tiến về đường Hàm Nghi, Tiểu Ðoàn 2 đánh thẳng vào cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu ngụy quyền Sài Gòn. Lúc này cuộc chiến đấu vô cùng ác, Tiểu Ðoàn 2 không thể thọc sâu tấn công được.
“Theo lệnh của chỉ huy trưởng Thiều Quang Nông xe bọc thép tiến vào cổng số 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Hai lô cốt bị tiêu diệt, thừa thắng xe bọc thép húc tung cánh cửa Bộ Tổng Tham Mưu tiến vào nội tâm. Lúc này xe tăng của ta và quân giải phóng đồng thời tiến vào đánh chiếm các mục tiêu quan trọng của giặc. Ông Ðông hồi tưởng lại.
“Trong đó, xe bọc thép chờ đội trinh sát của ông Ðông lao thẳng vào tòa nhà ba tầng cao nhất. Ông Ðông nhẩy xuống trước, các đồng đội theo sau hỗ trợ. Phía trong nhà Bộ Tổng Tham Mưu còn rất nhiều giặc. Nhanh trí, ông Ðông đã khống chế một tên địch và bắt dẫn lên lối gần nhất nóc nhà ba tầng.
“Sau khi cả đội lên đủ năm người,mỗi người một nhiệm vụ, phối hợp nhanh chóng cắm được lá cờ của lực lượng giải phóng. Ông Ðông mở ba lô lấy cờ, ông Lại Ðức Lưu tung cờ, ông Ðỗ Xuân Hương lồng cờ vào cán.”
Từ câu chuyện ông Bảy Vĩnh với sự trợ giúp của một anh lính nằm vùng trong Bộ TTM, mượn thang treo cờ, biến thành câu chuyện có đến ba anh chàng trong “toán treo cờ,” anh mở ba lô lấy cờ, một anh tung cờ, một anh lồng cờ vào cán, thật là rắc rối!
Ngoài ra, còn nhiều báo và phim bịa đặt nói về trận đánh Bộ TTM và cắm cờ ngày 30 Tháng Tư, 1975, trong phim có nhiều anh bộ đội chạy lúp xúp, nấp sau gốc cây, nhưng lúc quay phim thì toàn bộ các tòa nhà Bộ TTM đã sơn màu khác rồi!
Trận đánh vào Bộ TTM, lúc thì Cộng Sản cho là do công của Trung Ðoàn 48, khi thì nói là của Biệt Ðộng Sài Gòn.
Phỏng vấn những nhân vật tưởng tượng không tham gia gì trận đánh như Ðại Tá Nguyễn Văn Tàu và Ðại Úy Lương Hoài Nam, và những nhân vật tự nhận là người cắm cờ đầu tiên ngày 30 Tháng Tư, 1975 ở Bộ TTM.
Ðể tìm hiểu sự thật của lịch sử, xin đọc “Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,” xuất bản năm 2011 (trang 849-854) của các tác giả Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, và Lê Ðình Thụy, đã in thủ bút của Bảy Vĩnh khi vào gặp Ðại Tá Chu Văn Hồ, chứng nhận Ðại Tá Hồ “đã bàn giao cho cách mạng.” Không có đơn vị Cộng Sản nào đánh chiếm Bộ TTM ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì làm gì có việc Bắc Việt đã tiến công bắn hạ hai trực thăng, phá hai khẩu pháo, hàng trăm xe bọc thép, và tịch thu hàng nhìn khẩu súng.
Ðây là những chiến công tưởng tượng chỉ có trên mặt giấy… báo.
Nhất là đoạn văn “cờ được treo trong tiếng reo hò của quân ta và nhân dân vùng phụ cận!” thì quả là phét lác quá sức. Lúc đó có một mình ông Bảy Vĩnh thì “quân ta” ở đâu mà reo, và trong khu vực Bộ TTM rộng lớn ở xa phố xá thì lấy đâu ra dân mà hò?
Cuối cùng thì vẫn là: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói…” Bệnh mãn tính Cộng Sản là sự dối trá. Viết sử giả tạo không đúng sự thật, cũng giống như người làm chứng gian, để cho đời sau rơi vào sự lầm lạc.
“Chủ nghĩa Cộng Sản và sự dối trá là một; và để chúng ta thấy rằng dối trá là hiện tượng thuộc về bản chất của các xã hội Cộng Sản trên toàn thế giới.

 (Bauxit online).

 https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/tap-ghi-huy-phuong-tran-danh-bo-ttm-qlvnch-hay-la-chien-cong-tren-giay-bao/

Friday, July 7, 2017

CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI CHẠY TRỐN CỘNG SẢN

  1954-1955


Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau: 

Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:
- Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.
- Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài  lưới.  
- Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc. 
- Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.  
- Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …
 
        Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ. 
Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
Đây là một thành công lớn về mặt xã hội của chính quyền VNCH.
Trong những năm 1955–1956. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:
- Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.
- Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.
- Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.
- Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.
- Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.
Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.
 
Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada. 
 
Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.
 
Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát.  Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư".  Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.
 
Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.
 
 
Tiến trình
Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.
 
Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư.  Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế. 
Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập.  Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.
 
            Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.  Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.
 
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.
 
         Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ.  Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam. 
Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.

Ngô Đình Châu